Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

30

Ansah (1998) [55]; Akhtaruddin (2005) [11]. Trong số các ngân hàng thương

mại cổ phần ở Việt Nam có một số ngân hàng được tách ra từ các ngân hàng

nhà nước, một số ngân hàng thương mại cổ phần được chuyển đởi hình thức

sở hữu, sáp nhập, chia tách, hợp nhất có thời gian hoạt động khá lâu; bên cạnh

đó, có một số ngân hàng mới thành lập có tuổi đời hoạt đợng còn ít. Tuy

nhiên, khơng thể dựa vào những kết quả nghiên cứu trên mà kết luận rằng, các

ngân hàng hoạt động lâu đời hơn có thể công bố nhiều thông tin hơn hoặc

tuân thủ hơn các ngân hàng mới thành lập. Nghiên cứu này nhằm đánh giá có

hay không ảnh hưởng của thời gian hoạt động đến mức độ công bố thông tin

trong ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt nam. Biến Thời gian hoạt động

của ngân hàng thương mại cổ phần được đo lường bởi số năm hoạt động của

ngân hàng.

Giả thuyết 1: Thời gian hoạt động của các ngân hàng ảnh hưởng thuận

chiều đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên.

2.1.2. Quy mô ngân hàng

Quy mô ngân hàng thể hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau: doanh thu,

tổng tài sản, số lượng nhân viên. Trong nghiên cứu này, tác giả đo lường quy

mô doanh nghiệp thông qua chỉ tiêu tổng tài sản. Theo các lý thuyết về công

bố thông tin như: lý thuyết đại diện và lý thuyết tín hiệu đều cho rằng quy mô

của ngân hàng là một nhân tố tiềm năng tác động quan trọng đến mức độ công

bố thông tin. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu minh chứng cho mối quan

hệ này: Nghiên cứu của Singhvi and Desai (1971) [59]; Kahl and Belkaoui

(1981) [47]; Cooke (1992) [25]; Ahmed and Nicholls (1994) [10]; Hossain

( 1994) [40]; Wallace et al (1994) [62]; Hossain( 2000) [41]; Hossain (2008)

[44]. Ở Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Minh Huy (2015) [2] tìm ra mới

quan hệ thuận chiều giữa nhân tớ Quy mô ngân hàng và mức độ công bố

thông tin trong báo cáo tài chính của ngân hàng thương mại. Vậy, đối với báo



31

cáo thường niên của ngân hàng thương mại cở phần thì mức đợ cơng bớ thơng

tin có bị chi phối bởi quy mô của ngân hàng hay không? Nghiên cứu này sẽ đi

kiểm chứng điều này.

Giả thuyết 2 như sau: Quy mô của ngân hàng ảnh hưởng thuận chiều

với mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên.

2.1.3. Khả năng sinh lời

Lợi nhuận là sự mong chờ đới với q trình kinh doanh của ngân hàng.

Khả năng sinh lợi phụ thuộc vào hiệu quả của quá trình cho vay của ngân

hàng. Khả năng sinh lợi trong nghiên cứu này đo lường thông qua giá trị ROA

của ngân hàng. Các nghiên cứu nước ngoài minh chứng cho mối quan hệ

thuận chiều giữa khả năng sinh lời và mức độ công bố thông tin như :Nghiên

cứu của Cerf (1961) [20]; Singhvi and Desai (1971) [59]; Belkaoui and Khal

(1981) [42]; Wallace et al., (1994) [62]; Wallace and Naser (1995) [63];

Inchausti, (1997) [45]; Hossain (2000) [41]; and Hossain (2008) [44]. Trong

nước, nghiên cứu của Nguyễn Trang Phương (2010) [5] và nghiên cứu của

Nguyễn Minh Huy (2015) [2] khơng tìm thấy mối quan hệ này. Vậy, đối với

loại báo cáo thường niên thì mức đợ cơng bớ thơng tin có phụ thuộc vào khả

năng sinh lời của ngân hàng hay không? Vấn đề này sẽ được kiểm chứng

trong nghiên cứu này. Giải thuyết đặt ra:

Giả thuyết 3: Các ngân hàng có lợi nhuận cao hơn công bố nhiều thông

tin cao hơn các ngân hàng có lợi nhuận thấp hơn.

2.1.4. Tính phức tạp trong cấu trúc của ngân hàng

Tính phức tạp trong cấu trúc của ngân hàng thể hiện số lượng thực tế các

cơng ty con mà ngân hàng mẹ kiểm sốt. Một số nghiên cứu về lĩnh vực công

bố thông tin ở nước ngồi cho rằng tồn tại mới quan hệ thuận chiều giữa mức

độ công bố thông tin và tính phức tạp trong cấu trúc của ngân hàng như:

nghiên cứu của Haniffa và Cook (2002) [38]; Cooke (1989a) [22]. Tuy nhiên,



32

các nghiên cứu trong nước về lĩnh vực công bố thơng tin chưa tìm thấy mới

quan hệ này. Nghiên cứu này sẽ kiểm chứng có tồn tại hay không mối quan hệ

thuận chiều giữa mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên của

ngân hàng thương mại cổ phần và số lượng công ty con mà ngân hàng mẹ có

qùn kiểm sốt.

Giả thuyết 4: Các ngân hàng có nhiều công ty con hơn sẽ công bố nhiều

thông tin hơn các ngân hàng khơng có hoặc ít cơng ty con.

2.1.5. Tài sản cố định hữu hình

Tỷ lệ tài sản cố định đo lường qua tỷ số giữa giá trị tài sản cố định ròng

trên giá trị tổng tài sản của ngân hàng. Theo lý thuyết về chi phí đại diện, để

làm giảm chi phí đại diện thì ngân hàng phải gia tăng công bố thông tin. Theo

Butler et al. (2002)[19], đối với các ngân hàng có tỷ lệ tài sản cớ định cao hơn

thì có chi phí đại diện thấp hơn nên các ngân hàng sẽ giảm bớt công bố thông

tin. Mối quan hệ nghịch biến giữa mức độ công bố thông tin và tỷ lê tài sản cố

định được tìm thấy trong nghiên cứu của Hossain (2000) [41] và Mitra (2004)

[43]. Nghiên cứu này sẽ tìm hiểu mới quan hệ giữa mức độ công bố thông tin

trong báo cáo thường niên của ngân hàng và tỷ lệ giá trị tài sản cố định của

ngân hàng.

Giả thuyết 5: Các ngân hàng có tỷ lệ giá trị tài sản cố định ròng/ giá trị

tổng tài sản càng cao thì có mức độ công bố thông tin càng ít.

2.1.6. Thành phần Hội đồng quản trị

Theo Fama và Jensen (1983) [32], Brickley và James (1987) [17],

Weisbach (1988) [60], Pearce và Zahra (1992) [56], Mangel và Singh (1993)

[52] đánh giá cao vai trò của thành viên hội đồng quản trị không điều hành

trong thực hiện chức năng giám sát và kiểm soát điều khiển các hoạt động của

công ty và hoạt động quản lý của giám đớc. Ngồi ra, thành viên hợi đồng

quản trị không điều hành tham gia trong việc ra quyết định của công ty (Fama



33

and Jensen, 1983 [32]), có thể làm giảm chi phí quản lý (Brickley and James,

1987 [17]) và có ảnh hưởng tích cực trong thảo luận để đưa ra quyết định

(Pearce và Zahra, 1992 [56]). Theo nghiên cứu của Haniffa và Cooke (2002)

[38] minh chứng cho mối quan hệ thuận chiều giữa tỷ lệ thành viên hội đồng

quản trị không điều hành và mức độ công bố thơng tin6. Vậy, đới với loại hình

báo cáo thường niên của ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam thì mức

đợ cơng bớ thơng tin có phụ tḥc vào tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị

không điều hành hay không? Nghiên cứu này sẽ trả lời cho câu hỏi trên.

Giả thuyết 6: Tỷ lệ thành viên trong hội đồng quản trị không đảm nhận

các vị trí quản lý của ngân hàng càng cao thì mức độ cơng bố thông tin càng

lớn.

2.1.7. Kỷ luật thị trường

Kỷ luật thị trường liên quan đến những quy định giám sát thị trường

ngân hàng, nhằm tạo môi trường kinh doanh hiệu quả đối với nhà đầu tư, ở đó

các ngân hàng có rủi ro cao thì bị trừng phạt (Nier và Baumann, 2003 [13]).

Kế thừa nghiên cứu của Mohammed Hossain (2008) [44], nghiên cứu này

chọn hai công cụ tiêu biểu cho kỷ luật thị trường là tỷ lệ an tồn vớn và tỷ lệ

nợ xấu để đi tìm mới quan hệ giữa mức độ công bố thông tin trong báo cáo

thường niên của ngân hàng và biến kỷ luật thị trường.

Giả thuyết 7: Tỷ lệ nợ xấu (NPL) hoặc/ và tỷ lệ an tồn vốn (CAR) có

ảnh hưởng đến mức độ cơng bố thông tin.

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Chọn mẫu và thu thập số liệu

 Phương pháp chọn mẫu

Tính đến thời điểm 31/12/2015, trên website của ngân hàng nhà nước hệ

thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam có tất cả 34 ngân hàng. Để

6



Trích dẫn nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Phương (2012)



34

đảm bảo lấy đủ số lượng mẫu nghiên cứu, nghiên cứu mức độ công bố thông

tin trong báo cáo thường niên của tác giả dựa vào quy định về công bố thông

tin bắt buộc trong Báo cáo thường niên theo phụ lục II đi kèm Thông tư số

52/2012/TT-BTC ngày 5/4/2012 có hiệu lực từ ngày 01/06/2012 đến ngày

31/12/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về việc công bố thơng tin trên thị

trường chứng khốn. Trong 34 ngân hàng thương mại cổ phần (tính đến thời

điểm 31/12/2015) có 1 ngân hàng thương mại cổ phần không công bố báo cáo

thường niên đó là: Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thương Tín. Từ

đó, mẫu nghiên cứu của luận văn gồm báo cáo thường niên của 33 ngân hàng

thương mại cổ phần trong giai đoạn 2012 – 2014 thỏa mãn các yêu cầu sau:

- Chọn một báo cáo thường niên trong một năm của mỗi ngân hàng;

- Báo cáo thường niên của năm mới nhất trong số các báo cáo thường

niên mà ngân hàng thương mại cổ phần công bố.

 Nguồn thu thập dữ liệu

Các báo cáo thường niên của các ngân hàng thương mại cổ phần được tải về từ

Website của các ngân hàng đó. Nếu trên Website của ngân hàng thương mại cổ phần

không công bố báo cáo thường niên, nghiên cứu sẽ sử dụng báo cáo thường niên

trên Website: http://finance.vietstock.vn/1/2/Vietbank/tai-tai-lieu.htm.

Báo cáo thường niên của các ngân hàng thương mại cổ phần được thu

thập dưới dạng file PDF.

2.2.2. Xây dựng các mục thông tin công bố trong báo cáo thường niên

- Xây dựng các mục tin bắt buộc: Căn cứ vào thông tư 52/2012/TT-BTC

về quy định công bố thông tin, dựa vào phương pháp chọn lựa các mục thông

tin của Nguyễn Công Phương và các cộng sự (2012) [6], tác giả sắp xếp, chọn

79 mục thông tin bắt buộc phải công bố trong báo cáo thường niên (xem Phụ

lục 1). Việc chọn lựa các mục thông tin này dựa trên nguyên tắc các mục tin

bắt buộc trong báo cáo thường niên cung cấp thông tin tương tự nhau thì được

gợp lại, những thơng tin u cầu cung cấp chi tiết thì được chọn lựa là các

mục tin công bố.



35

- Xây dựng các mục tin tự nguyện: Xây dựng 71 mục thông tin tự

nguyện để đánh giá mức độ công bố thông tin tự nguyện của nghiên cứu căn

cứ:

i) Nghiên cứu của Mohammed Hossain (2008) [44] về mức độ công bố

thông tin. Hossain xây dựng 83 mục thông tin tự nguyện để đánh giá mức độ

công bố thông tin tự nguyện của các ngân hàng.

ii) Tiến hành so sánh với các mục thông tin bắt buộc quy định công bố

thông tin bắt buộc trong TT 52/2012/TT – BTC “Hướng dẫn về việc công bố

thông tin trên thị trường chứng khốn”, mục thơng tin trong báo cáo tài chính

của TCTD theo Quyết định số 16/2007/QĐ-NHNN để loại bỏ các mục thơng

tin trùng (Q trình hình thành và phát triển của Ngân hàng; cơ cấu tổ chức

của ngân hàng; mô tả chung về hoạt động kinh doanh; ngày thành lập của

ngân hàng; địa chỉ của ngân hàng; Đại chỉ trang web, email của ngân hàng;

các chính sách kế toán và chuẩn mực kế toán mà ngân hàng áp dụng;…) và

tham khảo thông tư số 36/2014/TT – NHNN “Quy định các giới hạn, tỷ lệ

đảm bảo an tồn trong hoạt đợng của tở chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng

nước ngồi” để xây dựng các mục tin công bố tự nguyện. Nội dung 71 mục

thông tin tự nguyện mà tác giả xây dựng thể hiện rõ trong Phụ lục 2.

2.2.3. Đo lường mức độ công bố thông tin thông qua chỉ số công bố

thông tin

Công bố thông tin là một khái niệm trừu tượng, không thể đo lường trực

tiếp được. Để đo lường mức độ (hay phạm vi) công bố thông tin người ta

thường chọn một trong 3 cách mang tính đại diện, mỗi cách đều có những ưu

điểm và nhược điểm riêng như: thuật toán dựa vào cơ sở dữ liệu điều tra, hay

dựa vào dự báo của quản trị Công ty và tự đo lường (Theo Healy và Palepu,

2001 [39]).



36

Kế thừa nghiên cứu của Nguyễn Công Phương và các cộng sự (2012)

[5], nghiên cứu này chọn cách tự đo lường. Cách này được thực hiện theo 2

bước:

i) lựa chọn các mục thông tin công bố trong báo cáo thường niên;

ii) tính tốn điểm số cơng bố thơng tin và chỉ số công bố thông tin.

Chỉ số công bố thông tin đo lường mức độ công bố thông tin (nhiều hay

ít, chi tiết hay sơ lược). Có hai loại chỉ số công bố thông tin: Chỉ số công bố

thông tin có trọng số và chỉ số công bố thông tin không có trọng số. Các

nghiên cứu của Wallace et al. (1994) [62]; Cooke (1991) [24]; Cooke, (1992)

[25]; Karim (1995) [48]; Hossain et al (1994) [40]; Ahmed and Nicholls

(1994) [40]; Hossain (2000) [41]; Hossain (2001) [42] sử dụng phương pháp

tính chỉ số công bố thông tin không trọng số. Nếu một mục thơng tin được

cơng bớ thì có điểm sớ cho mục đó là 1, còn nếu mục thơng tin đó khơng cơng

cớ thì có điểm sớ cho mục đó là 0. Phương pháp tính chỉ số công bố thông tin

có trọng số (Barrett, 1977 [12] và Marston, 1986 [51]). Theo các nghiên cứu

trước như Coombs and Tayib (1998) [28] thì việc sử dụng hai phương pháp

tính chỉ số công bố thông tin có trọng số và không có trọng số để đo lường

mức độ công bố thông tin của báo cáo thường niên ít có sự khác biệt hoặc

không có sự khác biệt. Vì vậy, trong nghiên cứu này tơi lựa chọn phương

pháp tính chỉ số công bố thông tin không trọng số. Phương pháp này chú

trọng vào việc xem xét mục thông tin có được công bố hay không trong báo

cáo thường niên, mức độ quan trọng của các mục tin công bố tương đương

nhau.

Thông tin công bố được chia thành hai loại: Thông tin bắt buộc công bố

và thông tin tự nguyện công bố. Theo đó, cứ mỗi mục thông tin bắt buộc hay

tự nguyện (nội dung mục thông tin như đã xây dựng trong Phụ lục 1 và Phụ

lục 2) công bố mà doanh nghiệp thực hiện công bố được tính là 1, không công



37

bố là 0, các mục tin khơng x́t hiện thì sẽ có hai trường hợp xảy ra: thứ nhất,

trong năm báo cáo ngân hàng đó không xảy ra nghiệp vụ có nội dung như

mục tin nên ngân hàng khơng trình bày, trong trường hợp này sẽ không đánh

giá trị 0 hoặc 1; thứ hai, trong năm báo cáo ngân hàng có phát sinh nghiệp vụ

liên quan đến nợi dung mục tin cần trình bày nhưng ngân hàng làm lơ khơng

trình bày thì sẽ đánh giá trị là 0 .

Đầu tiên, tiền hành tính điểm số công bố thông tin không trọng số bằng

phương pháp tổng cộng (Cooke, 1992 [25]) như sau:



38

Bảng 2.1. Công thức tính điểm số công bố thông tin không

trọng số

Công thức tính điểm số công bố

thông tin

MDS =



Chú thích



MDS ( Mandatory Disclosure Score):

là điểm số công bố thông tin bắt buộc;

di = 1 nếu mục thông tin di doanh

nghiệp có công bố;

di = 0 nếu mục thông tin di doanh

nghiệp không công bố;

m: Tổng số mục thông tin thông tin

bắt buộc.

VDS ( Voluntary Disclosure Score)::

VDS =

(i = 1 đến v)

là điểm số công bố thông tin tự

nguyện;

di = 1 nếu mục thông tin di doanh

nghiệp có công bố;

di = 0 nếu mục thông tin di doanh

nghiệp không công bố;

v: Tổng số mục thông tin thông tin tự

nguyện

TDS = MDS x M/(M+V) + VDS x V/ TDS ( Total Disclosure Score): Điểm

(M+V)

số công bố thông tin (Điểm số công

bố thông tin sẽ được tính theo phương

pháp bình quân gia quyền, với trọng

số là tỷ lệ các mục thông tin công bố

trong tổng số các thông tin công bố);

M: Tổng số mục tin bắt buộc mà ngân

hàng có thể công bố, M có giá trị

bằng hoặc nhỏ hơn 79;

V: Tổng số mục tin tự nguyện mà

ngân hàng có thể công bố, V có giá trị

bằng hoặc nhỏ hơn 71.



39

Thứ hai, tiến hành tính chỉ số công bố thông tin bắt buộc, chỉ số công bố

thông tin tự nguyện, chỉ số công bố thông tin bằng phương pháp không trọng

số theo công thức như sau:

Bảng 2.2. Công thức tính chỉ số công bố thông tin không trọng số

Công thức tính chỉ số công bố

thông tin

MDI = MDS/M



Chú thích



MDI ( Mandatory Disclosure Index):

Chỉ số công bố thông tin bắt buộc;

M: Tổng số mục tin bắt buộc mà ngân

hàng có thể công bố, M có giá trị

bằng hoặc nhỏ hơn 79

VDI = VDS/V

VDI (Voluntary Disclosure Index):

Chỉ số công bố thông tin tự nguyện

V: Tổng số mục tin tự nguyện mà

ngân hàng có thể công bố, V có giá trị

bằng hoặc nhỏ hơn 71

TDI = MDI x M/(M+V) + VDI x V/ TDI (Total Disclosure Index): chỉ số

(M+V)

công bố thông tin

Trên cơ sở chỉ số công bớ tồn bợ thơng tin ở trên, để đánh giá mức độ

tuân thủ những ràng buộc pháp lý và tính tự nguyện của các ngân hàng về

cung cấp thông tin, hai chỉ số phụ được sử dụng để đánh giá: chỉ số công bố

thông tin bắt buộc (MDI) và chỉ sớ cơng bớ thơng tin tự ngụn (VDI).

2.2.4. Mơ hình hồi quy đa biến

Nghiên cứu trong lĩnh vực này thường sử dụng mơ hình hồi quy đa biến

để đo lường ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ công bố thông tin. Căn cứ

vào giả thuyết đã được đưa ra và tham khảo mơ hình trong nghiên cứu của

nghiên cứu của Mohammed Hossain (2008) [44]. Mơ hình nghiên cứu được

tác giả đưa ra như sau:

MDCBTT = β0 + β1TG + β2QMNH + β3KNSL + β4PTCT + β5TSCD +

β6QTCT + β7CAR + β8NPL + ei

Trong đó:



40

Biến phụ thuộc: MDCBTT

Biến độc lập: TG; QMNH; KNSL; PTCT; TSCD; QTCT; CAR; NPL

β0: Hệ số hồi quy

βk (k=1,8): Hệ số hồi quy riêng phần

ei: một biến độc lập ngẫu nhiên có phân phối chuẩn với trung bình là 0

và phương sai khơng đởi ϭ2

Kí hiệu và đo lường biến phụ thuộc và các biến đợc lập trong mơ hình

như sau:

Bảng 2.3. Biến phụ tḥc và các biến đợc lập trong mơ hình

Ký hiệu

biến

Biến phụ thuộc

STT



Tên biến



1



Mức độ công bố

thông tin



MDCBTTT



Hướng ảnh

hưởng dự đoán



Đo lường

Điểm chỉ số công bố

thông tin của mỗi

ngân hàng



Biến độc lập

1



TG



Thời gian hoạt động



+



2

3



QMNH

KNSL



Quy mô ngân hàng

Khả năng sinh lời



+

+



4



PTCT



Số công ty con



+



5



TSCD



Tài sản cố định



-



6



QTCT



Quản trị công ty



+



7

8



CAR

NPL



Tỷ lệ an tồn vớn

Tỷ lệ nợ xấu



+/+/-



CHƯƠNG 3



Sớ năm hoạt đợng

của ngân hàng

Log tổng tài sản

ROA

Số công ty con trực

thuộc ngân hàng

Giá trị TSCĐ/ Tổng

tài sản

Tỷ lệ của thành viên

hội đồng quản trị

không điều hành

/tổng số thành viên

hội đồng quản trị

Tỷ lệ an tồn vớn

Tỷ lệ nợ xấu



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×