Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

5

các nước đang phát triển. Các nghiên cứu của các tác giả: Cerf (1961) [20];

Singhvi and Desai (1971) [59]; Buzby (1974) [18]; Kahl and Belkaoui (1981)

[47]; Marston (1986) [51]; Wallace (1987) [61]; Cooke (1989a) [22]; Cooke

(1989b) [23]; Cooke (1991) [24]; Cooke (1992) [25];Cooke ( 1993) [26];

Malone et al. (1993) [50]; Hossain et al. (1994) [40]; Ahmed and Nicholls

(1994) [10]; Wallace and Naser (1995) [63]; Inchausti (1997) [45]; Hossain

(2000) [41]; Hossain (2001) [42]; Haniffa and Cooke (2002) [38];

Akhtaruddin (2005) [11]. Trong số các nghiên cứu đó, nghiên cứu của Kahl

và Belkaoui (1981) [47] là nghiên cứu rất tồn diện và tởng quát nhất về mức

độ công bố thông tin của 70 ngân hàng thuộc 18 quốc gia. Kết quả của nghiên

cứu chỉ ra được sự khác nhau về mức độ công bố thông tin giữa các quốc gia

và kết quả của nghiên cứu cũng chỉ ra được mối quan hệ mật thiết giữa quy

mô ngân hàng và mức độ công bố thông tin. Theo nghiên cứu thực nghiệm

của Hossain (2001) [42] về mức độ công bố thông tin của 25 ngân hàng ở

Bangladesh và mối quan hệ giữa các nhân tố quy mơ ngân hàng, lợi nhuận và

cơng ty kiểm tốn với mức độ công bố thông tin. Có tổng số 61 mục thông

tin, bao gồm mục thông tin công bố tự nguyện và mục thông tin công bố bắt

buộc được sử dụng để tính chỉ số công bố thông tin và cách tiếp cận để cho

điểm các mục là điểm phân đôi. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nhân tố quy

mô ngân hàng và lợi nhuận của các ngân hàng có ý nghĩa về mặt thống kê

trong việc xác định mức độ công bố thông tin của các ngân hàng. Tuy nhiên

biến cơng ty kiểm tốn khơng ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của

các ngân hàng thương mại cở phần và biến cơng ty kiểm tốn không có ý

nghĩa về mặt thống kê đối với mô hình nghiên cứu.

Nghiên cứu của Chipalkatti (2002) [21] đã xây dựng chỉ số minh bạch

của một ngân hàng (BST) bao gồm 90 mục tin dựa trên việc xem xét khuyến

nghị của Uỷ ban Basel và dựa trên IAS 30. Nghiên cứu này chỉ ra được không



6

có mối liên hệ đáng kể giữa mức độ công bố thông tin và tỉ lệ phần trăm nắm

giữ cổ phiếu của chính phủ, tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu của nhà đầu tư nước ngoài.

Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các ngân hàng có quy mơ càng lớn thì

cung cấp thơng tin minh bạch hơn, đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra không có

mối liên hệ giữa công bố thông tin và mức lợi nhuận của các ngân hàng

(không có khác biệt đáng kể trong các điểm số công bố thông tin của các ngân

hàng với mức lợi nhuận đạt được).

Nghiên cứu của Baumann và Nier (2003) [13] đã giải quyết các vấn đề

về việc phát triển một tập hợp các yêu cầu về công bố thông tin bới trụ cột 3

của Basel II là cải thiện khả năng tham gia thị trường để đánh giá giá trị của

một ngân hàng bằng cách sử dụng một tập dữ liệu đặc biệt trên gần 600 ngân

hàng tại 31 quốc gia trong giai đoạn 1993-2000”. Dữ liệu chứa thông tin chi

tiết về các mục thông tin được công bố bởi các ngân hàng trong báo báo kế

toán năm của họ. Các tác giả đã xây dựng một chỉ số tổng hợp công bố thông

tin thể hiện mức độ công bố thông tin của ngân hàng, sau đó họ phân tích có

17 chỉ số phụ cấu tạo nên chỉ số tổng hợp để điều tra (nếu có), các mục thông

tin công bố trong bảng cân đối ngân hàng có lợi nhất cho việc đánh giá tớt

tình hình của ngân hàng và thị trường tài chính. Phát hiện của họ xác nhận giả

thuyết rằng việc công bớ thơng tin làm giảm biến đợng giá chứng khốn, tăng

giá trị thị trường và tăng tính hữu dụng trong việc dự đoán giá trị doanh

nghiệp.

Nghiên cứu của Mohammed Hossain (2008) [44] điều tra thực nghiệm

về mức độ công bố thông tin bắt buộc và công bố thông tin tự nguyện của các

ngân hàng niêm yết ở Ấn Độ. Nghiên cứu này cho ra kết quả mối quan hệ

giữa các thuộc tính ngân hàng cụ thể và công bố thông tin bắt buộc và tự

nguyện của mẫu nghiên cứu. Có 184 chỉ mục thông tin được lựa chọn bao

gồm 101 chỉ mục thông tin bắt buộc và 81 chỉ mục thông tin tự nguyện.



7

Nghiên cứu cho thấy rằng điểm số công bố thông tin bắt buộc trung binh là

88, trong khi sớ điểm trung bình cho việc cơng bớ thơng tin tự nguyện là 25.

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các biến quy mô doanh nghiệp, khả năng

sinh lời, thành phần hội đồng quản trị và các biến kỷ luật thị trường ảnh

hưởng lớn đến mức độ công bố thông tin của các ngân hàng niêm yết và các

biến khác như tuổi tác, sự phức tạp của kinh doanh và tài sản cố định là không

đáng kể trong việc giải thích mức độ công bố thông tin. Kết quả cũng cho

thấy các ngân hàng Ấn Độ tuân thủ với các quy định về công bố thông tin bắt

buộc. Ngược lại, các ngân hàng ít công bố thông tin tự nguyện. Bài viết này

đã đóng góp lớn cho tài liệu học thuật để nghiên cứu và cho thấy sự tồn tại

của một hệ thống giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý sẽ đem lại tiềm năng

cho việc tuân thủ cao về công khai và minh bạch, ít nhất là trong trường hợp

công bố thông tin bắt buộc. Nghiên cứu này sẽ là một ví dụ tốt cho các nước

đang phát triển tham khảo để nghiên cứu mức độ công bố thông tin như Việt

Nam.

Ở Việt Nam, nghiên cứu về lĩnh vực mức độ công bố thông tin (tự

nguyện, bắt ḅc) còn ít. Tiêu biểu có nghiên cứu của Nguyễn Đoàn Trang

Phương (2010) [5] tập trung vào phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc

công bố thông tin tự nguyện, chứ chưa đánh giá được thực trạng công bố

thông tin của các công ty niêm yết. Nghiên cứu của Nguyễn Công Phương và

cộng sự (2012) [6], đã đánh giá về mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài

chính của các Công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí

Minh. Nghiên cứu này chỉ giới hạn thông tin trong báo cáo tài chính (phần lớn

là thông tin bắt buộc). Những nghiên cứu trên không đề cập đến thực trạng

công bố thông tin trong báo cáo thường niên của các ngân hàng thương mại

mà tập trung vào nghiên cứu mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài

chính các công ty phi tài chính. Trong lĩnh vực công bố thông tin của ngân



8

hàng, nghiên cứu của Nguyễn Minh Huy (2015) [2] tập trung vào nghiên cứu

mức độ công công bố thông tin và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công

bố thông tin trong báo cáo tài chính của 16 ngân hàng thương mại ở Việt

Nam, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài

chính của các ngân hàng thương mại đạt mức trung bình 76,2%. Nghiên cứu

của tác giả Nguyễn Minh Huy đã chỉ ra được sự ảnh hưởng của nhân tố quy

mô tài sản đối với mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của ngân

hàng thương mại. Tuy nhiên, nghiên cứu này có hai hạn chế: Thứ nhất, nghiên

cứu tập trung vào nghiên cứu mức độ công bố thông tin tài chính và phân tích

các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tài chính trong báo cáo

tài chính mà chưa chú trọng đến các thông tin phi tài chính quan trọng của các

ngân hàng như: Thông tin chung giới thiệu về ngân hàng; Chiến lược Cơng

ty; Quản trị cơng ty; Tình hình tài chính; Quản trị rủi ro công ty: công bố rủi

ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất, rủi ro tiền tệ, rủi ro thanh khoản;

Các thống kê phi tài chính quan trọng; Hoạt động xã hội và các hoạt động

khác. Thứ hai, nghiên cứu chỉ mới tập trung vào mức độ công bố thông tin có

đầy đủ hay không theo quy định cụ thể là theo biểu mẫu của quyết định

16/2007/QĐ – NHNN của Ngân hàng nhà nước mà chưa tập trung vào mức

độ công bố thông tin tự nguyện.

Nghiên cứu này kế thừa những nghiên cứu trong và ngoài nước về mặt

phương pháp nghiên cứu, nhưng mở rộng sang lĩnh vực nghiên cứu những

thông tin tài chính và thông tin phi tài chính trên báo cáo thường niên của các

ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam.



9

CHƯƠNG 1



CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA

DOANH NGHIỆP

1.1



KHÁI NIỆM, VAI TRÒ CÔNG BỐ THÔNG TIN

 Khái niệm công bố thông tin

Theo “Sổ tay công bố thông tin dành cho công ty niêm yết”, công bố



thông tin là “Phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của công ty

nhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thơng tin

một cách công bằng và đồng thời”. Theo Healy và Palepu (2001) [39], công

bố thông tin là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả phân bổ các

nguồn lực của xã hợi, bởi vì nó phát ra tín hiệu “đầu vào” đúng đắn để nhà

đầu tư ra quyết định. Thông tin minh bạch sẽ có tác dụng dung hòa lợi ích của

nhà đầu tư và nhà quản trị doanh nghiệp. Vậy, công bố thông tin là cầu nối

giúp cho cổ đơng và cơng chúng nhận biết được tình hình tài chính, tình hình

hoạt đợng, sở hữu và quản trị cơng ty trong quá khứ, hiện tại và dự đoán cho

tương lai thông qua những tài liệu như báo cáo tài chính, báo cáo thường niên,

hình ảnh, video,… trên các phương tiện thông tin như báo chí, website, ….

Dựa vào tính pháp lý, công bố thông tin bao gồm hai loại: công bố bắt

buộc và công bố tự nguyện. Theo Nguyên tắc thứ V “Công bố thông tin và

tính minh bạch” trong các Nguyên tắc Quản trị Công ty của OEDC: ở đa số

các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển OEDC

(Organization for Economic Cooperation and Development), một lượng thông

tin lớn bao gồm thông tin bắt buộc và thông tin tự nguyện về các công ty cổ

phần và công ty chưa niêm yết lớn được thu thập và cung cấp cho các đối

tượng sử dụng thông tin; thông tin thường được công bố công khai ít nhất mỗi

năm một lần mặc dù một số quốc gia quy định công bố thông tin nửa năm

hoặc ba tháng một lần, thậm chí thường xuyên hơn trong trường hợp có sự

kiện quan trọng ảnh hưởng tới công ty; các công ty thường công bố thông tin



10

tự nguyện thường xuyên hơn mức quy định để đáp ứng nhu cầu thị trường

[65].





Vai trò của cơng bớ thơng tin



Q trình ln chủn vốn hiệu quả thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển

của một nền kinh tế. Tuy nhiên, sự luân chuyển vốn có hiệu quả hay không

phụ thuộc rất lớn vào hệ thống công bố thông tin minh bạch.

Một trong sáu Nguyên tắc Quản trị công ty của OEDC, Nguyên tắc số V

“Công bố Thông tin và Tính minh bạch”: Hệ thống công bố thông tin tốt nâng

cao tính minh bạch là đặc điểm then chốt của việc giám sát công ty dựa vào

thị trường, và đóng vai trò chủ yếu giúp cổ đông có thể thực hiện quyền sở

hữu của mình mợt cách có hiệu biết; kinh nghiệm ở các q́c gia có thị trường

chứng khốn lớn và năng đợng cho thấy công bố thông tin cũng có thể là một

công cụ hiệu quả để tác động tới hoạt động của công ty và bảo vệ nhà đầu tư.

Một hệ thống công bố thông tin tốt có thể giúp thu hút vớn và duy trì lòng tin

của thị trường. Ngược lại, công bố thông tin yếu kém và không minh bạch có

thể dẫn đến hành vi phi đạo đức và mất đi tính trung thực của thị trường, gây

thiệt hại lớn không chỉ cho công ty và cổ đông mà cho cả nền kinh tế nói

chung. Cổ đông và nhà đầu tư tiềm năng phải tiếp cận thông tin thường

xuyên, tin cậy và so sách được một cách chi tiết đủ để họ đánh giá trình đợ

quản lý của Ban Giám đốc và đưa ra quyết định sáng suốt về giá trị, quyền sở

hữu và biểu quyết của cổ phần. Thông tin không đầy đủ và không rõ ràng có

thể cản trở khả năng hoạt động của thị trường, làm tăng chi phí vốn và dẫn tới

việc phân bổ nguồn lực khơng hiệu quả.

Cơng bớ thơng tin có vai trò rất lớn đối với: bên công khai thông tin, bên

sử dụng thơng tin và cho tồn bợ thị trường. Cụ thể, cơng bớ thơng tin có vai

trò trong việc thúc đẩy lợi ích lâu dài cho công ty đó là: giảm chi phí sử dụng

vốn và tăng giá trị công ty [66]. Đối với nhà đầu tư là người sử dụng đồng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×