Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 4 HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KẾT LUẬN

CHƯƠNG 4 HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KẾT LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

85



việc sử dụng nợ ngắn hạn giúp doanh nghiệp có thể dễ dàng, linh hoạt điều

chỉnh hơn cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp. Tuy nhiên, sử dụng nợ ngắn

hạn q nhiều dẫn đến tình trạng tài chính của doanh nghiệp ln căng thẳng

đồng thời đòi hỏi doanh nghiệp phải có nghĩa vụ thanh tốn lãi vay và hồn

trả vốn gốc trong một thời gian ngắn, nếu tình hình kinh doanh gặp khó khăn,

doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh tốn các khoản nợ đến

hạn. Ngồi ra, tỷ lệ nợ chiếm 58,73% cho thấy, nợ dùng để tài trợ cho tài sản

của doanh nghiệp chiếm hơn một nửa trong tổng nguồn vốn, vì thế cần xem

xét lại cách thức quản lý và sử dụng nợ của các doanh nghiệp nhóm ngành

dầu khí.

Hiệu quả sử dụng vốn (ROA) có tương quan nghịch đến tỷ lệ nợ và tỷ lệ

nợ ngắn hạn nhưng lại khơng có mối quan hệ với tỷ lệ nợ dài hạn. Điều này

cho thấy, các cơng ty thuộc nhóm ngành dầu khí có khả năng sinh lời của vốn

càng cao thì càng sử dụng ít nợ ngắn hạn, từ đó dẫn đến tổng nợ cũng giảm.

Việc sử dụng nợ ngắn hạn để tài trợ cho các dự án dài hạn được xem như một

chiến lược giảm chi phí sử dụng vốn vì vay ngắn hạn thường có lãi suất thấp

hơn vay dài hạn. Tuy nhiên, chính sách tài trợ này tiềm ẩn nhiều rủi ro tài

chính, làm mất cân bằng tài chính.

Tỷ trọng TSCĐ hữu hình có mối quan hệ nghịch với tỷ lệ nợ ngắn hạn và

mối quan hệ thuận với tỷ lệ nợ dài hạn. Trong thực tế, không phải tất cả các

tài sản của doanh nghiệp đều có thể được sử dụng để thanh toán nợ khi doanh

nghiệp phá sản. Khi còn đang hoạt động các tài sản vơ hình rất có giá trị đối

với doanh nghiệp, nhưng khi đã phá sản hầu hết các tài sản vơ hình đều trở

nên vơ nghĩa như phần mềm kế tốn, lợi thế thương mại, thương hiệu…ngoại

trừ quyền sử dụng đất. Chính vì vậy khi doanh nghiệp phá sản thì các tài sản

được sử dụng để trang trải công nợ là tài sản hữu hình và quyền sử dụng đất

của doanh nghiệp. Các tài sản này được gọi là tài sản bảo đảm (cho các chủ



86



nợ) nên tỷ trọng tài sản cố định hữu hình càng cao thì khả năng bảo vệ cho

các chủ nợ càng tốt và ngược lại. Hơn nữa, theo tính chất ngành dầu khí là

một ngành có nhiều dự án dài hạn nên để tránh áp lực của việc trả nợ ngắn

hạn thì các doanh nghiệp cần vay dài hạn để đảm bảo nguồn tài trợ liên tục và

giảm rủi ro tài chính do đó cần có tài sản thế chấp khi vay dài hạn.

Doanh thu của doanh nghiệp tác động thuận đến tỷ lệ nợ và tỷ lệ nợ ngắn

hạn nhưng lại tác động nghịch đến tỷ lệ nợ dài hạn. Kết quả này chỉ ra rằng

những doanh nghiệp nhóm ngành dầu khí có quy mơ càng lớn (doanh thu

càng lớn) thì sử dụng nợ ngắn hạn nhiều từ đó dẫn đến sử dụng nợ nhiều. Sở

dĩ có chiều hướng tác động như vậy là vì các doanh nghiệp có quy mơ lớn

thường có tiềm lực tài chính mạnh, tài sản lớn… là cơ sở để đảm bảo trả nợ

nên có khả năng tiếp cận nguồn vốn một cách dễ dàng hơn. Hơn thế nữa, tỷ

trọng tài sản cố định hữu hình của các cơng ty nhóm ngành dầu khí chiếm

phần lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp, do đó doanh nghiệp cần vay

ngắn hạn để tài trợ cho tài sản cố định.

Thời gian hoạt động tác động tỉ lệ thuận đến tỷ lệ nợ ngắn hạn nhưng lại

khơng có mối quan hệ với tỷ lệ nợ và tỷ lệ nợ dài hạn. Điều này cho thấy các

doanh nghiệp có thâm niên hoạt động càng lâu năm thì sử dụng nợ ngắn hạn

càng nhiều nhưng yếu tố này lại không ảnh hưởng đến vay nợ dài hạn. Lý giải

cho điều này có hai lý do. Thứ nhất, như đã đề cập ở trên, phần lớn tài sản của

các cơng ty trong nhóm ngành dầu khí là tài sản cố định nên doanh nghiệp cần

vay vốn ngắn hạn để tài trợ cho các hoạt động kinh doanh liên tục của mình.

Thứ hai, theo lý thuyết thơng tin bất cân xứng, các doanh nghiệp hoạt động

lâu năm có khả năng tiếp cận nguồn vay ngắn hạn dễ dàng hơn.

Tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp có mối quan hệ thuận với tỷ lệ nợ

nhưng khơng có mối quan hệ với tỷ lệ nợ ngắn hạn và tỷ lệ nợ dài hạn. Điều

này cho thấy, các khoản nợ được huy động để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng



87



khơng hồn tồn dựa vào nợ ngắn hạn hay dài hạn. Khi doanh nghiệp trong

giai đoạn tăng trưởng, niềm tin của các nhà đầutư vào doanh nghiệp sẽ cao, vì

vậy khả năng tiếp cận các nguồn vốn từ bên ngoài cànglớn, trong khi doanh

nghiệp cần nguồn tài trợ cho tài sản của mình do đó doanh nghiệp sẽ có xu

hướng vay nợ.

Rủi ro kinh doanh có mối quan hệ thuận với tỷ lệ nợ dài hạn nhưng

không tác động đến tỷ lệ nợ và tỷ lệ nợ ngắn hạn đối với các doanh nghiệp

nhóm ngành dầu khí. Giải thích cho kết quả này đó là khi các doanh nghiệp

đối mặt với các rủi ro kinh doanh thì việc tiếp tục vay nợ sẽ dẫn đến áp lực tài

chính cho các doanh nghiệp đặc biệt việc phải thanh toán liền các khoản vay

ngắn hạn sẽ khiến cho doanh nghiệp rơi vào thế càng khó khăn. Tuy nhiên để

có thể tiếp tục duy trì hoạt động, các doanh nghiệp sẽ lựa chọn việc vay dài

hạn để vừa làm giảm áp lực của việc trả nợ trong thời gian ngắn đồng thời có

thêm nguồn tài trợ để đầu tư cho các phương án dài hạn có thể sinh thêm lợi

nhuận giúp cơng ty vượt qua khó khăn.

4.2.



HÀM Ý CHÍNH SÁCH



4.2.1. Đối với doanh nghiệp

ROA có mối quan hệ nghịch với tỷ lệ nợ ngắn hạn. Theo đó, khi các

doanh nghiệp nhóm ngành dầu khí có khả năng sinh lời cao thì sử dụng ít nợ

ngắn hạn. Kết quả này cho thấy, các doanh nghiệp nhóm ngành dầu khí có

một chính sách huy động vốn khá tốt, khi các doanh nghiệp có hiệu quả sử

dụng vốn cao, họ ít vay ngắn hạn hơn vì các doanh nghiệp đã có dòng tiền

mặt ổn định sinh ra từ lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh trong kỳ. Hơn nữa,

việc có khả năng sinh lời từ vốn cao nên các công ty này cũng được bên cho

vay đánh giá tốt và tin tưởng. Chính điều đó, đã làm tăng thêm sức mạnh cho

các doanh nghiệp trong ngành, vì họ vừa giải quyết được vấn đề chi phí đại

diện giữa nhà quản lý và các cổ đông, vừa tận dụng được tấm chắn thuế từ nợ



88



vay. Tuy nhiên chỉ số ROA bình quân theo bảng 4.1 là xấp xỉ 1,9%, thấp hơn

nhiều so với lãi suất cho vay bình quân của các ngân hàng thương mại cổ

phần là 7,5%, cho thấy các doanh nghiệp cần xem xét lại việc vay nợ. Nếu các

doanh nghiệp càng vay nợ, sẽ làm giảm hiệu quả tài chính doanh nghiệp và

làm tăng rủi ro vì hệ số tự tài trợ giảm. Do đó, các doanh nghiệp cần nâng cao

hiệu quả sử dụng vốn đồng thời giảm vay nợ để cải thiện hoạt động tài chính

của doanh nghiệp trong thời gian tới.

Từ kết quả nghiên cứu cho thấy, cấu trúc tài sản của các doanh nghiệp

nhóm ngành dầu khí có sự cân bằng tài chính. Cụ thể, những doanh nghiệp có

tỷ trọng tài sản cố định hữu hình cao thì sử dụng ít nợ ngắn hạn và nhiều nợ

dài hạn, mặc dù, mức nợ dài hạn của các doanh nghiệp vẫn ở mức thấp (trung

bình 8,5%) nhưng cũng cho thấy được chính sách tài trợ phù hợp, đảm bảo

nguồn tài trợ sử dụng đúng mục đích. Do đó, trong giai đoạn tới, các doanh

nghiệp nhóm ngành dầu khí nên tiếp tục phát huy chính sách tài trợ như vậy

để giảm thiểu rủi ro tài chính trong bối cảnh thị trường vốn trong nước đang

còn nhiều khó khăn.

Các doanh nghiệp có quy mơ lớn thì càng sử dụng nhiều nợ ngắn hạn và ít

nợ dài hạn. Trên thực tế, các doanh nghiệp nhóm ngành dầu khí đã khơng tận

dụng được lợi thế kinh tế nhờ quy mô, bởi những doanh nghiệp lớn thì có chi phí

phá sản thấp hơn so với những doanh nghiệp nhỏ. Vì thế, để mở rộng sản xuất,

và gia tăng đầu tư dài hạn thì các doanh nghiệp lớn nên sử dụng nợ dài hạn và

phát hành trái phiếu để tận dụng được lợi thế từ quy mơ lớn, thay vì sử dụng

nhiều nợ ngắn hạn. Điều này sẽ giúp các doanh nghiệp có cấu trúc tài chính bền

vững, đáp ứng nhu cầu đầu tư mạnh mẽ của ngành trong giai đoạn hiện nay. Bên

cạnh đó, nếu doanh nghiệp cứ luẩn quẩn vay ngắn hạn để mua nguyên vật liệu,

trả lương cho người lao động,… mà khơng tính đến việc đổi mới cơng nghệ,



89



nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hợp lý hóa quá trình sản xuất, mở rộng

kênh phân phối thì sớm muộn doanh nghiệp sẽ tụt lại phía sau.

Các doanh nghiệp có thời gian hoạt động trong ngành càng lâu thì càng

sử dụng nhiều nợ ngắn hạn. Điều này có thể lý giải vì đối với các doanh

nghiệp mới hình thành, uy tín của doanh nghiệp chưa được chứng minh đối

với khách hàng qua chất lượng sản phẩm, dịch vụ hay đối với các đối tác qua

việc thực hiện các cam kết thương mại, hay bởi các tổ chức tín dụng qua các

số liệu tài chính và thực hiện cam kết tín dụng. Do đó, việc vay vốn từ các tổ

chức tín dụng hay thương lượng điều khoản thương mại về nợ phải trả của

doanh nghiệp trong giai đoạn này rất khó khăn. Chính vì vậy, trong những

năm đầu mới thành lập của các công ty, vốn chủ sở hữu là nguồn cung ứng

chủ yếu cho các hoạt động của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp càng hoạt

động lâu năm, nhu cầu vốn của doanh nghiệp là rất lớn để phục vụ cho việc

phát triển quy mô, thị phần, sản phẩm, dịch vụ…Lúc này tận dụng tín hiệu

khả quan từ các yếu tố như hiệu quả kinh doanh, cấu trúc tài sản, quy mô

doanh nghiệp, thời gian hoạt động, tốc độ tăng trưởng và rủi ro kinh doanh,

doanh nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận được nguồn vốn. Mặc dù vậy, doanh

nghiệp cũng không được quá chủ quan khi nguồn tài trợ phụ thuộc quá nhiều

vào vốn vay. Khi nền kinh tế bất ổn, lạm phát gia tăng, lãi suất cao thì lợi thế

đòn bẩy tài chính sẽ mất đi. Lúc này có thể chi phí sử dụng vốn bình qn

(WACC) sẽ rất cao, chưa kể đến chính sách thặt chặt tín dụng của Nhà nước

cũng sẽ ảnh hưởng đến hạn mức tín dụng do các ngân hàng cấp cho doanh

nghiệp sẽ bị hạn chế.

Các doanh nghiệp nhóm ngành dầu khí có tốc độ tăng trưởng càng cao

thì càng sử dụng nhiều nợ. Trong giai đoạn này, doanh nghiệp có nhu cầu về

vốn lớn để đầu tư vào các dự án nhằm phát triển quy mô, mở rộng thị phần,

cải tiến chất lượng sản phẩm, dịch vụ. Với sự tăng trưởng cao qua các năm,



90



các tổ chức tín dụng và các đối tác sẽ sẵn sang cho doanh nghiệp vay vốn

hoặc cho nợ. Tuy nhiên, doanh nghiệp không nên quá phụ thuộc vào vốn vay

mà cần phải có chính sách vay nợ một cách hợp lý để đảm bảo rằng các cổ

đơng có thể tiếp tục tin tưởng, ủng hộ chính sách tăng trưởng của doanh

nghiệp, đồng thời doanh nghiệp vẫn có thể sử dụng một phần lợi nhuận giữ lại

để tài trợ cho các hoạt động kinh doanh. Ngồi ra, vì vấn đề bất cân xứng về

thông tin phát sinh đi đôi với sự tăng trưởng mạnh, nếu doanh nghiệp tăng sử

dụng nợ thì bên cho vay sẽ yêu cầu một tỷ suất lợi nhuận cao hơn, vậy nên

các doanh nghiệp có nhiều cơ hội tăng trưởng thì có chi phí sử dụng nợ đắt

hơn khi sử dụng nợ để tài trợ cho sự tăng trưởng đó. Giải quyết vấn đề này,

các doanh nghiệp trong ngành nên vận dụng những lập luận của lý thuyết trật

tự phân hạng về việc mở rộng nguồn tài trợ từ lợi nhuận giữ lại, đồng thời

thay thế nợ bằng cách tăng cường phát hành cổ phiếu.

Theo kết quả nghiên cứu ở bảng 4.1, các doanh nghiệp nhóm ngành dầu

khí có sự cân bằng tài chính, cụ thể các doanh nghiệp có rủi ro kinh doanh

càng cao thì càng sử dụng nhiều nợ dài hạn. Bởi lẽ, khi các doanh nghiệp đối

mặt với các rủi ro kinh doanh thì việc tiếp tục vay nợ ngắn hạn sẽ dẫn đến áp

lực tài chính cho các doanh nghiệp khi việc phải thanh toán liền các khoản

vay ngắn hạn sẽ khiến cho doanh nghiệp rơi vào thế càng khó khăn. Tuy

nhiên, các doanh nghiệp vẫn cần tiếp tục vay nợ dài hạn để có thể đầu tư cho

những kế hoạch lâu dài nhằm kiếm thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp. Do đó,

trong giai đoạn tới, các doanh nghiệp nhóm ngành dầu khí nên tiếp tục phát

huy chính sách tài trợ như vậy.

4.2.2. Đối với nhà đầu tư

Các doanh nghiệp có hiệu quả sử dụng vốn cao thì sử dụng ít nợ ngắn

hạn. Chỉ tiêu ROA tăng cho thấy, hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tư thành

lợi nhuận và doanh nghiệp đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít



91



hơn, lúc này, các doanh nghiệp trong ngành vận dụng lý thuyết trật tự phân

hạng là dùng lợi nhuận để trả nợ ngắn hạn, phục vụ cho hoạt động thường

xuyên, nên nợ ngắn hạn giảm. Việc tuân theo lý thuyết trật tự phân hạng sẽ

giúp các doanh nghiệp hạn chế được rủi ro tài chính và giảm chi phí phá sản

và chi phí đại diện. Khả năng sinh lời của vốn rất quan trọng với các nhà đầu

tư mua cổ phần.Vì các cổ đơng thu lợi đầu tư thơng qua cổ tức, mà toàn bộ cổ

tức lại từ lợi nhuận của doanh nghiệp mà có. Do đó, các nhà đầu tư cần xem

xét chỉ tiêu này một cách cẩn trọng để có thể có sự đầu tư một cách hiệu quả.

Kết quả nghiên cứu chỉ ra các doanh nghiệp nhóm ngành dầu khí càng

có tỷ trọng tài sản cố định hữu hình cao thì có xu hướng giảm sử dụng nợ

ngắn hạn và tăng sử dụng nợ dài hạn. Tỷ trọng TSCĐ hữu hình tăng lên hàm

ý các doanh nghiệp đang chú trọng vào đầu tư dài hạn như xây thêm nhà

xưởng, mở rộng kênh phân phối, tăng cường kho bãi… Thêm vào đó, các bất

động sản còn là phương tiện để tăng khả năng vay dài hạn, vì loại tài sản này

làm giảm vấn đề thông tin bất cân xứng giữa cổ đơng và người cho vay, nên

nó được dùng làm tài sản đảm bảo khi vay dài hạn. Tuy nhiên để hạn chế việc

cho vay nhiều hơn so với giá trị thực tế của tài sản, các nhà đầu tư nên đọc

bản báo cáo tài chính một cách kỹ lưỡng và đánh giá đúng giá trị của các tài

sản cho vay trước khi ra quyết định đầu tư.

Từ bảng 4.1 chỉ ra, các doanh nghiệp có quy mơ càng lớn thì càng sử

dụng nhiều nợ ngắn hạn và sử dụng ít nợ dài hạn. Quy mơ doanh nghiệp được

đo lường thông qua chỉ tiêu tổng doanh thu, khi doanh thu tăng cao làm tăng

việc sử dụng nợ ngắn hạn và giảm việc sử dụng nợ dài hạn. Lý giải cho điều

này có thể do doanh nghiệp thực hiện chính sách bán chịu cho khách hàng dài

hơn hoặc áp dụng chính sách tín dụng ưu đãi dành cho khách hàng, dẫn đến

việc kích cầu làm doanh thu tăng cao, đồng thời cũng dẫn đến việc các khoản

phải thu có xu hướng tăng. Hoặc có thể do doanh nghiệp không quản lý tốt



92



các khoản phải thu từ khách hàng. Mặc dù vậy thì các khoản phải thu tăng lên

thể hiện vốn ứ đọng nhiều hơn trong khâu thanh toán. Do đó, doanh nghiệp

muốn hoạt động sản xuất kinh doanh thì cần phải có thêm nguồn tài trợ hay

nói cách khác doanh nghiệp cần đi vay nợ ngắn hạn để trang trải cho những

hoạt động thường xuyên như chi tiền mua nguyên vật liệu, trả lương cho

người lao động, quảng cáo…

Ngoài ra, các doanh nghiệp sử dụng một phần doanh thu để trả nợ dài

hạn nên nợ dài hạn giảm. Điều này cho thấy nguy cơ từ việc quản lý các

khoản phải thu của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần điều chỉnh lại chính

sách tín dụng dành cho khách hàng sao cho phù hợp với mục tiêu của từng

thời kì (ví dụ mục tiêu của cơng ty là muốn mở rộng thị phần, họ có thể sử

dụng chính sách này nhằm thu hút thêm nhiều khách hàng) mà không nên cứ

áp dụng chính sách này một cách lâu dài. Điều này có thể làm cho tình hình

tài chính của doanh nghiệp không ổn định đồng thời làm tăng nguy cơ doanh

nghiệp phải đối mặt với các khoản nợ xấu từ khách hàng, ảnh hưởng nghiêm

trọng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vây, các nhà đầu tư cần

cân nhắc và nhận diện mục tiêu, viễn cảnh mà các doanh nghiệp đặt ra trong

khoảng thời gian này để có quyết định đầu tư đúng đắn.

Kết quả cho thấy các doanh nghiệp càng hoạt động lâu năm trong nghề

càng sử dụng nhiều nợ vay ngắn hạn. Bởi lẽ, các doanh nghiệp càng có thời

gian hoạt động càng lâu, có thể tận dụng tín hiệu khả quan từ các yếu tố như

hiệu quả sử dụng vốn, cấu trúc tài sản, quy mô doanh nghiệp, thời gian hoạt

động, tốc độ tăng trưởng và rủi ro kinh doanh để có thể dễ dàng tiếp cận được

nguồn vốn. Thêm vào đó, vị thế trong ngành của doanh nghiệp càng vững thì

sự bất cân xứng thông tin sẽ được giảm nhẹ, nên càng dễ dàng thu hút các nhà

đầu tư. Tuy nhiên, không hẳn công ty nào càng hoạt động lâu năm cũng cho

thấy một sự tăng trưởng mạnh, hay hiệu quả kinh doanh tốt hay có khả năng



93



trả nợ đúng hạn. Do đó, các nhà đầu tư cần cân nhắc, nắm rõ tình hình hoạt

động của các công ty thông qua bản báo cáo tài chính. Đối với các nhà đầu tư,

các báo cáo tài chính là phương tiện giúp họ đánh giá mức độ sinh lời và triển

vọng của công ty trước khi quyết định có đầu tư vào cơng ty hay khơng. Một

quyết định thiếu thơng tin có thể làm các nhà đầu tư phải trả giá đắt. Nên đánh

giá cẩn thận những yếu tố cơ bản của công ty dự định đầu tư thông qua việc

nghiên cứu các thông tin trong Bản báo cáo tài chính.

Các doanh nghiệp nhóm ngành dầu khí càng tăng trưởng cao thì càng sử

dụng nhiều nợ. Sự tăng lên về tài sản của các doanh nghiệp, kéo theo nợ ngắn

hạn tăng, nếu doanh nghiệp không kiểm sốt mức tăng trưởng của mình thì,

tài sản tăng lên không làm cho lợi nhuận tăng lên mà do mức nợ ngắn hạn

tăng lên, điều nàychứa ẩn rủi ro cao. Bởi lẽ, những tài sản tăng lên qua các

năm được tài trợ bằng một khoản nợ ngắn hạn, có áp lực thanh tốn và chi phí

cao, nếu các doanh nghiệp “thả nổi” sự tăng trưởng với đà như vậy thì khả

năng nợ ngắn hạn sẽ vượt ngưỡng thanh toán cho phép của các doanh nghiệp

và khi đó, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp có rủi ro kinh doanh càng lớn thì càng sử dụng nhiều

nợ dài hạn. Bởi lẽ, các công ty một khi đã có rủi ro kinh doanh lớn thì việc sử

dụng nợ là cần thiết để cơng ty có thêm nguồn vốn đầu tư chi trả cho các hoạt

động kinh doanh hay các kế hoạch nhằm khôi phục và phát triển doanh

nghiệp. Tuy nhiên, áp lực của việc vay nợ ngắn hạn rất khó để cho các doanh

nghiệp đang gặp vấn đề trong kinh doanh có thể trả nợ đúng hạn vì thế mà sử

dụng nợ dài hạn là lựa chọn hợp lý. Do đó, các nhà đầu tư cần tìm hiểu kỹ liệu

việc sử dụng nhiều nợ dài hạn của công ty là để phục vụ cho các chiến lược

dài hạn của công ty hay do công ty đang gặp rủi ro kinh doanh lớn từ đó có

thể đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn.



94



4.2.3. Đối với quản lý Nhà nước

Để các công ty hoạt động kinh doanh có hiệu quả và ổn định ngồi sự nỗ

lực của bản thân các cơng ty cần phải có sự hỗ trợ của Nhà nước. Nhà nước

phải tạo một mơi trường kinh doanh thơng thống, lành mạnh, từ đó thúc đẩy

cho hoạt động của doanh nghiệp diễn ra hiệu quả.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, những doanh nghiệp có hiệu quả sử dụng

vốn cao, quy mô lớn và thời gian hoạt động càng lâu năm thì càng sử dụng

nhiều nợ ngắn hạn. Lý giải cho điều này, các cổ đông thường không muốn tiết

lộ nhiều thông tin về cơ hội đầu tư của họ, và cho rằng cơ hội đầu tư tốt đòi hỏi

kinh phí đầu tư cao hơn. Điều này sẽ làm tăng thâm hụt tài chính của doanh

nghiệp, nên các doanh nghiệp sẽ sử dụng nợ để tài trợ và nợ ngắn hạn là thích

hợp hơn khi họ trang trải cho thâm hụt tài chính. Động cơ vay ngắn hạn của các

doanh nghiệp là muốn che dấu thơng tin về cơ hội đầu tư của mình, điều này sẽ

dẫn đến rủi ro cho việc cấp tín dụng của ngân hàng. Tận dụng sự bất cân xứng

thông tin, các doanh nghiệp đã đưa ra các thông tin chưa đầy đủ và chính xác

khi phát hành cổ phiếu và thu về giá trị thặng dư rất lớn. Số tiền thu về tự việc

phát hành cổ phiếu lại được các doanh nghiệp đầu tư tiếp vào thị trường chứng

khoán hay đầu tư tài chính, bất động sản… Khi các thị trường này gặp khó

khăn thì tình hình tài chính của doanh nghiệp cũng rơi vào tình trạng thua lỗ,

thiếu hụt tiền lưu thông phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Các thông tin

bất lợi này, các doanh nghiệp đã không thông tin kịp thời đến nhà đầu tư, dẫn

đến sự thiệt hại cho họ. Tuy nhiên, cơ quan quản lý chưa có các biện pháp xử lý

nghiêm khắc các vấn đề này. Vì thế, Chính phủ cần phải có các chính sách quy

định việc cơng bố thơng tin của các công ty niêm yết phải trung thực và kịp

thời. Bên cạnh đó, các quy định, chính sách quản lý thị trường chứng khoán và

nhà đầu tư phải chặt chẽ hay các chính sách hỗ trợ, can thiệp vào thị trường



95



phải chính xác, đúng thời điểm để thúc đẩy thị trường phát triển ổn định và trở

thành một kênh huy động vốn hiệu quả.

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các doanh nghiệp nhóm ngành dầu

khí có khả năng sinh lời của vốn cao thì có mức độ sử dụng nợ ngắn hạn thấp

vì lợi nhuận tạo ra trong kỳ đủ để trả cho các chi phí hoạt động của doanh

nghiệp đồng thời có thể trả được các khoản nợ ngắn hạn đã vay trước đó. Việc

sử dụng vốn một cách hiệu quả phụ thuộc rất nhiều vào trình độ nguồn nhân

lực nói chung và trình độ quản lý doanh nghiệp nói riêng. Do đó, nhà nước

cần đẩy mạnh phát triển và nâng cao trình độ nguồn nhân lực cho ngành dầu

khí. Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định đến q trình đẩy mạnh cơng nghiệp

hóa, hiện đại hóa đất nước nhưng trong một thời gian dài vừa qua, vấn đề đào

tạo ngn nhân lực nhìn chung vẫn chưa được quan tâm đúng mức và cũng

chưa có các bước đi phù hợp. Trong khi bối cảnh thế giới ngày nay đang có sự

tiến bộ vượt bậc của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, nhờ đó mà trình độ

kỹ thuật, quy trình cơng nghệ càng được đổi mới một cách mau lẹ, thì vấn đề

đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cho ngành phải được đặt lên hàng đầu.

Đối với các doanh nghiệp nhóm ngành dầu khí, nhân tố tỷ trọng tài sản

cố định hữu hình có quan hệ nghịch với tỷ lệ nợ ngắn hạn và quan hệ thuận

với tỷ lệ nợ dài hạn. Khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, mục tiêu

của bất cứ một doanh nghiệp nào cũng là nhằm tối đa hoá giá trị tài sản của

chủ sở hữu, do vậy màviệc sử dụng tài sản một cách có hiệu quả tức là kinh

doanh đạt tỷ suất lợi nhuận cao. Đối với bên cho vay, xem tài sản đảm bảo là

yếu tố tiên quyết khi cho vay dài hạn. Bởi, vai trò của tài sản đảm bảo là

không thể chối cãi, nhằm ngăn ngừa những rủi ro đạo đức xảy ra và nâng cao

trách nhiệm, nghĩa vụ trả nợ của doanh nghiệp. Để đảm bảo các thông tin về

tài sản cố định hữu hình của doanh nghiệp là minh bạch, Nhà nước cần có các

chính sách, các thơng tư hay văn bản quy định rõ ràng về việc kiểm kê tài sản



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 4 HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KẾT LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×