Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

41



Yếu tố ngành cũng được xem là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến

việc sử dụng nợ của doanh nghiệp. Mỗi ngành nghề khác nhau có cấu trúc tài

chính khác nhau. Xu hướng phát triển của ngành, lĩnh vực mà doanh nghiệp

hoạt động có tác động đến định hướng phát triển của doanh nghiệp. Tình hình

phát triển của ngành thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện chiến lược đầu tư

mở rộng hoặc cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng cơ sở vật chất, kỹ

thuật… nhằm nâng cao sức cạnh tranh, tăng cường năng lực hoạt động, mở

rộng thị trường và tăng trưởng thị phần hoạt động. Quá trình đó đòi hỏi doanh

nghiệp phải huy động các nguồn vốn thích hợp để thực hiện định hướng phát

triển. Tuy nhiên, bảng 2.1 lại cho thấy mặc dù nhóm ngành dầu khí được phân

thành nhiều ngành khác nhau nhưng có những ngành chỉ gồm một doanh

nghiệp như du lịch/khách sạn, thương mại, dịch vụ tổng hợp, thiết bị điện và

điện tử, chứng khốn và vận tải nên rất khó để xem xét trong việc tác động

của nhân tố ngành đến việc vay nợ.

Để làm rõ hơn, đề tài phân tích phương sai và sử dụng kiểm định

ANOVA để xem xét sự khác biệt (nếu có) giữa tỷ lệ nợ, tỷ lệ nợ ngắn hạn, tỷ

lệ nợ dài hạn giữa các ngành.

Levene test

H0: “Phương sai bằng nhau”

H1: “Phương sai khác nhau”

Sig < 0,05: bác bỏ H0, chấp nhận H1

Sig >= 0,05: chấp nhận H0 (đủ điều kiện để phân tích tiếp ANOVA)

ANOVA test

H0: “Trung bình bằng nhau”

H1: “Trung bình khác nhau”

Sig> 0,05: bác bỏ H0 (chưa đủ điều kiện để khẳng định sự khác biệt)

Sig <= 0,05: chấp nhận H0 (đủ điều kiện để khẳng định sự khác biệt)



42



Bảng 2.2. Kiểm định phýõng sai theo ngành đối với biến tỷ lệ nợ, tỷ lệ

nợ ngắn hạn, tỷ lệ nợ dài hạn



TLNO

TLNNH

TLNDH



Test of Homogeneity of Variances

Levene Statistic

df1

df2

2.878

1

94

8.456

1

94

.023

1

94



Sig.

.093

.005

.880



Bảng 2.3. Kiểm định ANOVA theo ngành đối với biến tỷ lệ nợ, tỷ lệ nợ

ngắn hạn, tỷ lệ nợ dài hạn

ANOVA

Sum of Squares

df

TLNO



Between

Groups

Within

Groups

Total

TLNNH Between

Groups

Within

Groups

Total

TLNDH Between

Groups

Within

Groups

Total



Mean Square



F



Sig.



20.941



.000



21.650



.000



.010



.919



1.227



1



1.227



5.508



94



.059



6.735



95



1.432



1



1.432



6.216



94



.066



7.647



95



.000



1



.000



1.310



94



.014



1.310



95



Kết quả từ bảng 2.2 cho biết phương sai của tỷ lệ nợ, tỷ lệ nợ ngắn hạn,

tỷ lệ nợ dài hạn có bằng nhau hay khác nhau giữa các ngành. Sig của thống kê

Levene đối với các biến TLNO, TLNDH lần lượt bằng 0,093 và 0,0880

(>0,05) nên ở độ tin cậy 95% giả thuyết H 0: “Phương sai bằng nhau” được



43



chấp nhận. Và do đó kết quả phân tích ANOVA đối với biến TLNO, TLNDH

có thể sử dụng. Tuy nhiên Sig của thống kê Levene đối với các biến TLNNH

= 0,005 (<0,05) nên ở độ tin cậy 95% bác bỏ giả thuyết H 0: “Phương sai bằng

nhau”, cho nên kết quả phân tích ANOVA đối với biến TLNNH khơng thể sử

dụng

Kết quả phân tích ANOVA ở bảng 2.3 với biến TLNO có sig = 0.000 <

0,05, như vậy ta chấp nhận giả thuyết H0, nghĩa là dữ liệu quan sát đủ điều

kiện để khẳng định có sự khác biệt về tỷ lệ nợ giữa các ngành trong nhóm

ngành dầu khí. Tuy nhiên kết quả phân tích ANOVA với biến TLNDH có sig

= 0.919 > 0,05, như vậy ta bác bỏ giả thuyết H 0, nghĩa là dữ liệu quan sát

không đủ điều kiện để khẳng định có sự khác biệt về tỷ lệ nợ dài hạn giữa các

ngành trong nhóm ngành dầu khí.

Tóm lại, dữ liệu quan sát đủ điều kiện để khẳng định có sự khác biệt về

tỷ lệ nợ giữa các ngành trong nhóm ngành dầu khí nhưng lại chưa đủ điều

kiện để khẳng định có sự khác biệt về tỷ lệ nợ ngắn hạn, tỷ lệ nợ dài hạn giữa

các ngành trong nhóm ngành dầu khí. Do đó đề tài khơng xem xét ảnh hưởng

của yếu tố ngành đến cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp.

2.1.2.



a.



Đặc điểm cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp nhóm ngành dầu khí

niêm yết trên thị trường chứng khốn Việt Nam

Đặc điểm về cấu trúc tài sản của các doanh nghiệp nhóm ngành dầu khí

Các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc tài sản của doanh nghiệp bao gồm: tỷ

trọng TSCĐ hữu hình/Tổng tài sản và Tỷ trọng TSCĐ hữu hình/VCSH. Kết

quả nghiên cứu cho thấy các chỉ tiêu này đối với các doanh nghiệp nhóm

ngành dầu khí được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.4. Tỷ trọng TSCĐ hữu hình/Tổng tài sản và Tỷ trọng TSCĐ

hữu hình/VCSH của các doanh nghiệp nhóm ngành dầu khí

Chỉ tiêu

Tỷ trọng TSCĐ hữu hình /Tổng tài sản (%)



2012

57,34%



2013

59,06%



2014

63,86%



44



Tỷ trọng TSCĐ hữu hình /VCSH (%)

158,89% 153,94% 158,86%

(Nguồn: BCTC của 32 doanh nghiệp nhóm ngành dầu khí niêm yết trên

thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2012-2014)

Bảng 2.4 cho thấy tỷ trọng TSCĐ hữu hình /Tổng tài sản bình qn của

các doanh nghiệp nhóm ngành dầu khí tăng liên tục từ 57,34% đến khoảng

63,86% từ năm 2012 đến 2014 và tỷ trọng TSCĐ hữu hình /VCSH giảm từ

158,89% (2012) xuống 153,94% (2013) nhưng sau đó có dấu hiệu tăng vọt trở

lại đạt khoảng 158,86% (2014). Đặc điểm về tỷ trọng TSCĐ hữu hình cao

phản ánh các doanh nghiệp tập trung đầu tư phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật

và giá trị TSCĐ hữu hình cao gấp khoảng 1,5 lần so với VCSH cho thấy bên

cạnh vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp phải dùng đến nợ vay ngoài, điều này phù

hợp với đặc thù của các doanh nghiệp nhóm ngành dầu khí.

b.



Đặc điểm về cấu trúc vốn của các doanh nghiệp nhóm ngành dầu khí

Cấu trúc nguồn vốn phản ánh cơ cấu tỷ lệ của các loại nguồn vốn hình

thành nên vốn hoạt động của doanh nghiệp. Nguồn vốn có 2 bộ phận lớn là

nguồn vốn chủ sỡ hữu và nguồn vốn vay nợ từ bên ngoài. Cơ cấu vốn nợ của

doanh nghiệp bao gồm các khoản vay ngắn hạn, dài hạn và các khoản nợ khác

như nợ lương người lao động, các khoản phải nộp ngân sách nhà nước nhưng

chưa nộp…những khoản vay này thường chiếm một tỷ trọng nhỏ, doanh

nghiệp không sử dụng các nguồn vốn này cho mục đích kinh doanh. Chỉ tiêu

phản ánh cấu trúc nguồn vốn của các doanh nghiệp được thể hiện qua bảng

sau

Bảng 2.5. Cấu trúc nguồn vốn của các doanh nghiệp nhóm ngành

dầu khí

Chỉ tiêu

2012

2013

2014

Tỷ suất nợ/VCSH

163,87%

147,73%

148,31%

(Nguồn: BCTC của 32 doanh nghiệp nhóm ngành dầu khí niêm yết trên

thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2012-2014)



45



Bảng 2.5 cho thấy mức sử dụng nợ của các doanh nghiệp nhóm ngành

dầu khí giảm mạnh từ 2012 đến 2013 và chỉ tăng rất nhẹ từ 2013 đến 2014

chứng tỏ tính tự chủ về tài chính của doanh nghiệp đang có dấu hiệu tăng dần.

Tuy nhiên tỷ lệ này vẫn cao (khoảng 1,5 lần) cho thấy hoạt động của doanh

nghiệp vẫn dựa nhiều vào vốn vay làm tăng rủi ro mất khả năng thanh tốn.

Độ lệch chuẩn bình qn là 511,46% nghĩa là sẽ có những doanh nghiệp có tỷ

suất nợ/VCSH rất cao và có những doanh nghiệp có tỷ suất nợ/VCSH rất

thấp. Cụ thể có 5 doanh nghiệp có tỷ suất nợ/VCSH rất lớn như PVC với

437,12%, PXA với 446,83%, đặc biệt PPS với 1725,98%, PVA với 3424,39%

và PXT với 1341,53%. Đây là những con số quá cao, doanh nghiệp đi vay

nhiều hơn vốn hiện có thể hiện cơ cấu tài trợ vốn khơng an tồn cho tình hình

tài chính của doanh nghiệp, khả năng gặp khó khăn trong việc trả nợ hay phá

sản rất lớn. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp đang hoạt động tốt thì sẽ phát huy

được tác dụng của đòn bẩy tài chính làm tăng giá trị tài sản. Bên cạnh đó, có

những doanh nghiệp có tỷ suất nợ/VCSH thấp như DPM với 12,28% và PSI

với 35,87%. Các doanh nghiệp này tuy không thể phát huy được tác dụng của

đòn bẩy tài chính khi hoạt động kinh doanh tốt nhưng lại an toàn khi hoạt

động kinh doanh kém hiệu quả vì tránh được rủi ro mất khả năng thanh tốn.

c.



Thực trạng về cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp nhóm ngành dầu

khí

Với đặc điểm cấu trúc tài sản và nguồn vốn của các doanh nghiệp nhóm

ngành dầu khí, đề tài tiến hành phân tích thực trạng cấu trúc tài chính của các

doanh nghiệp nhóm ngành dầu khí trong giai đoạn 2012-2014. Các chỉ tiêu

được sử dụng để đo lường cấu trúc tài chính đó là tỷ lệ nợ/tổng tài sản, tỷ lệ

nợ ngắn hạn/tổng tài sản và tỷ lệ nợ dài hạn/tổng tài sản.

Bảng 2.6. Thực trạng cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp nhóm

ngành dầu khí



46



Chỉ tiêu



2012



2013



2014



Trung bình



Tỷ lệ nợ/Tổng TS



59.14%



56.68%



59.62%



58,48%



TLNNH/Tổng TS



41.93%



41.76%



47.64%



43,78%



TLNDH/Tổng TS



17.21%



14.92%



11.98%



14,7%



(Nguồn: BCTC của 32 doanh nghiệp nhóm ngành dầu khí niêm yết trên thị

trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2012-2014)

Bảng 2.6 cho thấy tỷ lệ nợ/tổng tài sản giảm nhẹ từ 2012 qua 2013 nhưng

tăng trở lại vào năm 2014 trong khi đó tỷ lệ nợ ngắn hạn/tổng tài sản có dấu

hiệu tăng liên tục và tăng mạnh từ 2013 sang 2014. Tỷ lệ nợ/tổng tài sản bình

quân của các doanh nghiệm nhóm ngành dầu khí là 58,48% có nghĩa là

58,48% tài sản của cơng ty được hình thành từ nợ, đây là tỷ lệ nợ khá cao,

khơng an tồn. Thống kê cho thấy, các doanh nghiệp nhóm ngành dầu khí có

tỷ lệ nợ rất khác nhau, có những doanh nghiệp có tỷ lệ nợ rất cao như PXM

(142,08%), PPS (92,3%) hay PVA (95%) nhưng cũng có những doanh nghiệp

có tỷ lệ nợ rất thấp như DPM (10,9%) hay PXL (18,9%). Qua khảo sát có 10

cơng ty có tỷ lệ nợ an toàn (dưới 50%) chủ yếu là những doanh nghiệp có quy

mơ nhỏ trừ DPM là cơng ty lớn, lợi nhuận cao nên ưu tiên sử dụng vốn chủ sở

hữu làm vốn tài trợ. Các doanh nghiệp có tỷ lệ nợ cao vừa tiềm ẩn rủi ro

nhưng đồng thời cũng thuận lợi cho doanh nghiệp khi doanh nghiệp làm ăn có

hiệu quả thì sẽ tận dụng được lợi ích của đòn bẩy tài chính để tăng tỷ suất sinh

lời VCSH và hưởng lợi ích từ tấm chắn thuế; ngược lại, khi doanh nghiệp

hoạt động có tỷ suất sinh lời kinh tế nhỏ hơn chi phí sử dụng vốn vay thì nguy

cơ phá sản khá cao.

Như vậy, việc sử dụng vốn vay của các cơng ty có sự chênh lệch đáng kể,

mỗi cơng ty có chính sách vay nợ khác nhau tùy thuộc vào tình hình hoạt

động của mỗi cơng ty.



47



2.2.



CÂU HỎI NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU



2.2.1. Câu hỏi nghiên cứu

Các nhân tố nào tác động đến cấu trúc tài chính của các cơng ty thuộc

nhóm ngành dầu khí niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam?

2.2.2. Giả thuyết nghiên cứu

Trên cơ sở các lý thuyết về cấu trúc tài chính và kết quả nghiên cứu thực

nghiệm trước đây kết hợp với đặc điểm của ngành, đề tài tập trung nghiên cứu

vào 6 nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp thuộc

nhóm ngành dầu khí niêm yết trên thị trường chứng khốn Việt Nam giai

đoạn 2012-2014, đó là: Hiệu quả sử dụng vốn, Cấu trúc tài sản, Quy mô

doanh nghiệp, Thời gian hoạt động, Sự tăng trường của doanh nghiệp và Rủi

ro kinh doanh. Giả thuyết về mối quan hệ giữa các nhân tố trên và cấu trúc tài

chính (tỷ lệ nợ, tỷ lệ nợ ngắn hạn, tỷ lệ nợ dài hạn) như sau

a.



Hiệu quả sử dụng vốn



Về mặt lý luận, theo lý thuyết trật tự phân hạng, các doanh nghiệp kinh

doanh càng hiệu quả, khả năng sinh lời càng cao sẽ ưu tiên sử dụng nguồn

vốn có sẵn trước do đó càng ít vay nợ nghĩa là có mối quan hệ nghịch giữa

ROAvà tỷ lệ nợ.

Các nghiên cứu thực nghiệm của Rajan và Zingales (1995), Huang và

Song (2002), Buferna và các cộng sự (2005) tại các quốc gia đang phát triển

cũng cho thấy ROA có mối quan hệ nghịch với tỉ lệ nợ, tỷ lệ nợ dài hạn và tỷ

lệ nợ ngắn hạn.

Vì thế, giả thuyết 1 được phát biểu như sau:

H1: ROA có mối quan hệ nghịch chiều với tỷ lệ nợ

H1a: ROA có mối quan hệ nghịch chiều với tỷ lệ nợ ngắn hạn

H1b: ROA có mối quan hệ nghịch chiều với tỷ lệ nợ dài hạn

b. Cấu trúc tài sản



48



Khi xem xét cơ cấu nợ của các doanh nghiệp nhóm ngành dầu khí trên

thị trường chứng khốn Việt Nam, nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ

cấu nợ của các doanh nghiệp. Do đó, mối quan hệ giữa tỷ lệ nợ và tỷ lệ tài sản

cố định hữu hình cũng sẽ tương tự như là giữa tỷ lệ nợ ngắn hạn và tỷ lệ tài

sản cố định hữu hình. Các nghiên cứu thực nghiệm của Van der Rajan và

Zingles (1986), Đặng Thị Hồng Linh (2012) đã chỉ ra, tỷ trọng tài sản cố định

hữu hình có mối quan hệ nghịch chiều với tỷ lệ nợ và tỷ lệ nợ ngắn hạn.

Ngoài ra, các nghiên cứu của Huang & Song (2001), Đặng Thị Hồng Linh

(2012) và Nguyễn Bích Hậu (2015) cũng chỉ ra, giữa tỷ trọng TSCĐ hữu hình

và tỷ lệ nợ dài hạn có mối quan hệ thuận.

Vì thế, giả thuyết 2 được phát biểu như sau:

H2: Tỷ trọng TSCĐ hữu hình có mối quan hệ nghịch chiều với tỷ lệ nợ

H2a: Tỷ trọng TSCĐ hữu hình có mối quan hệ nghịch chiều với tỷ lệ nợ ngắn

hạn

H2b: Tỷ trọng TSCĐ hữu hình có mối quan hệ thuận chiều với tỷ lệ nợ dài hạn

c. Quy mô doanh nghiệp



Lý thuyết trật tự phân hạng cho rằng, các doanh nghiệp lớn được các nhà

đầu tư biết đến nhiều hơn và do đó, sẽ phải chịu ít thơng tin bất cân xứng và

các chi phí liên quan. Theo đó, các doanh nghiệp lớn có thể phát hành cổ

phiếu với chi phí thấp hơn, bởi họ tận dụng được lợi thế nhờ quy mơ. Vì vậy,

các cơng ty lớn sẽ phát hành cổ phiếu thay vì phát hành trái phiếu (tức sử

dụng nợ). Lý thuyết này dự đoán một mối quan hệ nghịch giữa doanh thu và

tỷ lệ nợ. Bevan and Danbolt (2002) nhận định rằng doanh thu có mối tương

quan tỉ lệ nghịch với tỷ lệ nợ, tỷ lệ nợ ngắn hạn nhưng lại có tương quan tỷ lệ

thuận với tỷ lệ nợ dài hạn

Vì thế, giả thuyết 3 được phát biểu như sau:

H3: Doanh thu có mối quan hệ nghịch chiều với tỷ lệ nợ



49



H3a: Doanh thu có mối quan hệ nghịch chiều với tỷ lệ nợ ngắn hạn

H3b: Doanh thu có mối quan hệ thuận chiều với tỷ lệ nợ dài hạn

d. Thời gian hoạt động



Lý thuyết bất cân xứng thơng tin giải thích rằng nếu doanh nghiệp có

thâm niên hoạt động trên thị trường càng nhiều năm thì chỗ đứng của doanh

nghiệp cũng được khẳng định và được nhiều khách hàng cũng như các đối

tượng cung cấp vốn biết đến, cho nên sự bất cân xứng thông tin ở trường hợp

này có thể giảm nhẹ. Nghĩa là các công ty càng hoạt động lâu năm càng dễ

dàng vay nợ. Những doanh nghiệp này có động cơ duy trì những thành tích

tốt trong q khứ, từ đó nâng cao độ tín nhiệm và có thể nhận được những ưu

đãi lãi suất từ ngân hàng. Trong bài nghiên cứu của mình, H.A. Khrawish và

A.H. Ali Khraiwesh (2010) cũng cho rằng thời gian hoạt động có tương quan

thuận với tỷ lệ nợ và tỷ lệ nợ dài hạn.

Vì thế, giả thuyết 4 được phát biểu như sau:

H4: Thời gian hoạt động của doanh nghiệp có mối quan hệ thuận chiều vớitỷ

lệ nợ

H4a: Thời gian hoạt động của doanh nghiệp có mối quan hệ thuận chiều với tỷ

lệ nợ ngắn hạn

H4b: Thời gian hoạt động của doanh nghiệp có mối quan hệ thuận chiều với tỷ

lệ nợ dài hạn

e. Sự tăng trưởng của doanh nghiệp



Khi doanh nghiệp trong giai đoạn tăng trưởng, niềm tin của các nhà đầu tư

vào doanh nghiệp sẽ cao, vì vậy khả năng tiếp cận các nguồn vốn từ bên ngoài

càng lớn, trong khi doanh nghiệp cần nguồn tài trợ cho tài sản của mình. Theo lý

thuyết trật tự phân hạng, các doanh nghiệp tăng trưởng mạnh sẽ ưu tiên sử dụng

quỹ nội bộ để làm nguồn tài trợ đầu tiên cho các dự án của doanh nghiệp, tuy

nhiên trong điều kiện tăng trưởng nhanh thì quỹ này có thể khơng đủ vì thế



50



doanh nghiệp cần phải tăng nguồn tài trợ bằng cách vay nợ theo thứ tự ưu tiên

trong trật tự phân hạng. Bên cạnh đó, theo lý thuyết thông tin bất cân xứng, các

doanh nghiệp có thể che đậy các thơng tin bất lợi, thổi phồng các thơng tin có lợi

hoặc cung cấp thơng tin một cách khơng cơng bằng đối với các nhóm nhà đầu tư

khác nhau như ưu tiên cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư chiến lược, các nhà

đầu tư mà tổ chức khơng cơng bố rộng tãi. Ngồi ra, có rất nhiều những biểu

hiện về sự bất cân xứng thông tin trên TTCK như doanh nghiệp sau khi phát

hành cổ phiếu không chú trọng vào đầu tư sản xuất kinh doanh mà chỉ chú trọng

vào việc đẩy giá cổ phiếu lên cao trên TTCK. Do đó, khi có hiện tượng thơng tin

bất cân xứng, nhà đầu tư sẽ khó có thể phân biệt được đâu là cổ phiếu của những

công ty tốt hay những công ty hoạt động yếu kém. Trong hồn cảnh đó, để hạn

chế rủi ro do khơng có thơng tin chính xác, các nhà đầu tư khi muốn nắm giữ cổ

phiếu phải chấp nhận mua ở mức giá trung bình đối với các cổ phiếu của các

doanh nghiệp chào bán. Chính điều này khiến cho các công ty hoạt động yếu

kém sẵn sàng bán cổ phiếu ở mức giá trung bình vì nó cao hơn giá trị thực của

cơng ty. Ngược lại, các cơng ty có chất lượng tốt sẽ khơng chấp nhận điều này và

có thể sẽ rút khỏi thị trường, hoặc nhà đầu tư có thể quyết định sẽ khơng mua bất

kỳ cổ phiếu nào. Vì vậy, để có thể đáp ứng được nhu cầu tăng trưởng cao của

công ty các doanh nghiệp sẽ sử dụng nợ để tài trợ và nợ ngắn hạn là thích hợp

hơn cả.

Lý thuyết chi phí đại diện cho rằng, các cổ đơng kiểm sốt doanh nghiệp

có xu hướng đầu tư gần điểm tối ưu để chiếm đoạt tài sản từ các trái chủ của

doanh nghiệp. Chi phí đại diện có thể cao hơn đối với những doanh nghiệp

trong ngành có tốc độ tăng trưởng cao, các doanh nghiệp này có sự linh hoạt

nhiều hơn trong việc lựa chọn về đầu tư trong tương lai, vì ảnh hưởng của sự

thay thế của tài sản. Do đó, tốc độ tăng trưởng có quan hệ nghịch với tỷ lệ nợ

dài hạn



51



Vì thế giả thuyết 5 được phát biểu như sau

H5: Tốc độ tăng trưởng có mối quan hệ thuận chiều với tỷ lệ nợ

H5a: Tốc độ tăng trưởng có mối quan hệ thuận chiều với tỷ lệ nợ ngắn hạn

H5b: Tốc độ tăng trưởng có mối quan hệ nghịch chiều với tỷ lệ nợ dài hạn

f. Rủi ro kinh doanh



Theo lý thuyết về cấu trúc vốn của M&M, một doanh nghiệp nên gia

tăng nợ cho đến khi giá trị từ hiện giá của tấm chắn thuế vừa đủ để dược bù

trừ bằng gia tăng trong hiện giá của các chi phí kiệt quệ tài chính. Đơi khi kiệt

quệ tài chính có thể đưa đến tình trạng phá sản, nhưng đơi khi nó chỉ có nghĩa

là cơng ty đang gặp khó khăn, rắc rối về tài chính tạm thời. Ở các mức nợ

trung bình, xác suất kiệt quệ tài chính khơng đáng kể, và chi phí kiệt quệ tài

chính khá nhỏ làm cho lợi thế của tấm chắn thuế trở nên výợt trội. Nhýng tại

một thời điểm nào đó, kiệt quệ tài chính sẽ tãng nhanh với việc doanh nghiệp

vay nợ thêm; chi phí kiệt quệ tài chính cũng lớn lên nhanh chóng, làm cho lợi

ích thu được từ tấm chắn thuế của vay nợ giảm đi và cuối cùng biến mất. Do

đó khi các doanh nghiệp đang gặp rủi ro kinh doanh cao thì càng hạn chế sử

dụng nợ. Điều này cũng phù hợp với quan điểm của lý thuyết đánh đổi.

Ngồi ra, Huang & Song (2001) cũng nhận đính rằng độ lệch chuẩn của

tỷ suất sinh lời tài sản có tác động tỷ lệ nghịch với tỷ lệ nợ dài hạn. Lý giải

cho điều này, các tác giả nêu ý kiến rằng việc sử dụng nợ dài hạn sẽ làm cho

công ty mất dần giá trị của họ khi hành động này làm tăng chi phí kiệt quệ tài

chính. Nghĩa là các cơng ty có rủi ro kinh doanh càng ít sử dụng nợ dài hạn.

Vì thế, giả thuyết 6 được phát biểu như sau:

H6: Độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lời tài sản có mối quan hệ nghịch chiều với

tỷ lệ nợ

H6a: Độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lời tài sản có mối quan hệ nghịch chiều

với tỷ lệ nợ ngắn hạn



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×