Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

17



tài chính chuẩn cho tất cả các doanh nghiệp mà một cấu trúc tài chính hợp lí

phải phụ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể và bản chất của hoạt động kinh

doanh.

Hình 1.1. Các nguồn vốn huy động cơ bản

Nguồn: Nguyễn Thị Lan Anh và Phạm Thị Thủy (2014)



1.1.2. Các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc tài chính của doanh nghiệp



Chỉ tiêu được sử dụng phổ biến để nghiên cứu cấu trúc vốn là chỉ tiêu tỷ

lệ nợ trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ vay ngắn hạn trên tổng tài sản và tỷ lệ nợ vay

dài hạn trên tổng tài sản.



Tỷ lệ nợ trên tài sản =



Tổng nợ phải trả

Tổng tài sản



Tỷ số này cho biết có bao nhiêu phần trăm tài sản của doanh nghiệp

được tài trợ từ vốn vay. Qua đây biết được khả năng tự chủ tài chính của

doanh nghiệp. Tỷ số này mà quá nhỏ, chứng tỏ doanh nghiệp vay ít. Điều này

có thể hàm ý doanh nghiệp có khả năng tự chủ tài chính cao. Song nó cũng có

thể hàm ý là doanh nghiệp chưa biết khai thác đòn bẩy tài chính, tức là chưa



18



biết cách huy động vốn bằng hình thức đi vay. Ngược lại, tỷ số này mà cao

quá hàm ý doanh nghiệp khơng có thực lực tài chính mà chủ yếu đi vay để có

vốn kinh doanh. Điều này cũng hàm nghĩa là mức độ rủi ro của doanh nghiệp

cao hơn.

Tỷ lệ nợ dài hạn =



Nợ dài hạn

Tổng tài sản



Tỷ lệ nợ dài hạn trên tổng tài sản cho biết sự so sánh tương quan nợ dài

hạn với tổng tài sản của một công ty và cho biết được mức độ tài trợ cho tài

sản bằng nợ dài hạn của công ty đó.

Tỷ lệ nợ ngắn hạn =



Nợ ngắn hạn

Tổng tài sản



Tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản cho biết sự so sánh tương quan nợ

ngắn hạn với tổng tài sản của một công ty và cho biết mức độ tài trợ cho tài

sản bằng nợ ngắn hạn của cơng ty đó.

1.1.3. Khái niệm phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp



Nếu như cấu trúc tài chính doanh nghiệp là khái niệm để chỉ cơ cấu tài

sản, nguồn vốn tại doanh nghiệp, sự hợp lí của cơ cấu đó và sự tác động của

nó đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì phân tích cấu

trúc tài chính là q trình xem xét, tính tốn, so sánh các số liệu phản ánh

tình hình tài chính của doanh nghiệp trong hiện tại với quá khứ để chỉ ra

được sự khác biệt, từ đó, nghiên cứu nguyên nhân và đánh giá các tác động

của cấu trúc tài chính đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Ngồi ra, phân tích cấu trúc tài chính còn bao gồm những nhận định về xu thế

biến động của tỉ trọng các hạng mục tài sản, nguồn vốn, các chỉ tiêu liên hệ

giữa cơ cấu tài sản, nợ vay, vốn chủ sở hữu đối với kết quả kinh doanh. Sau

đó, doanh nghiệp đưa ra các dự báo thích hợp về những cơ hội, thách thức

trong quá trình phát triển và đưa ra các biện pháp đối phó để cải thiện kết quả



19



kinh doanh. Thơng tin do phân tích cấu trúc tài chính cung cấp sẽ là căn cứ

quan trọng giúp các nhà quản lí đưa ra các quyết định về chính sách huy động

và sử dụng vốn của doanh nghiệp, đảm bảo cấu trúc tài chính cân đối, hiệu

quả, phục vụ tốt cho định hướng phát triển, đồng thời hạn chế tối đa rủi ro

trong kinh doanh.

Như vậy, phân tích cấu trúc tài chính là q trình phân tích dữ liệu tài

chính của doanh nghiệp bằng các phương pháp khoa học nhằm đưa ra các

nhận định chính xác về cơ cấu tài sản, nguồn vốn, sự tác động đến hoạt động

sản xuất kinh doanh và xu hướng biến động của chúng. Qua đó, doanh nghiệp

sẽ tìm ra phương án tốt nhất để tận dụng lợi thế, khắc phục nhược điểm trong

quá trình kinh doanh.

1.1.4. Ý nghĩa, vai trò của phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp



Có rất nhiều đối tượng quan tâm và sử dụng thơng tin kinh tế, tài chính

của doanh nghiệp. Mỗi đối tượng quan tâm theo góc độ và với mục tiêu khác

nhau. Do nhu cầu về thông tin tài chính doanh nghiệp rất đa dạng, đòi hỏi

phân tích hoạt động tài chính phải được tiến hành bằng nhiều phương pháp

khác nhau để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của từng đối tượng. Điều đó,

một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho phân tích hoạt động tài chính ra đời, ngày

càng hồn thiện và phát triển, mặt khác, cũng tạo ra sự phức tạp trong nội

dung và phương pháp của phân tích hoạt động tài chính. Các đối

tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp bao gồm: các nhà

quản lý, các cổ đông hiện tại và tương lai, Nhà nước, nhà phân tích tài chính,

những người cho doanh nghiệp vay tiền như ngân hàng, tổ chức tài chính,

người mua trái phiếu… Các đối tượng sử dụng thơng tin tài chính khác nhau

sẽ đưa ra các quyết định với mục đích khác nhau. Vì vậy, phân tích cấu trúc

tài chính đối với mỗi đối tượng sẽ đáp ứng các mục tiêu khác nhau và có vai

trò khác nhau. Cụ thể:



20



-



Đối với nhà quản lý doanh nghiệp

Phân tích cấu trúc tài chính là cơ sở để đưa ra giải pháp giải quyết các

vấn đề cơ bản của doanh nghiệp. Đối với người quản lý doanh nghiệp mối

quan tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm nhuận và khả năng trả nợ. Một doanh

nghiệp bị lỗ liên tục sẽ bị cạn kiệt các nguồn lực và buộc phải đóng cửa. Mặt

khác, nếu doanh nghiệp khơng có khả năng thanh toán nợ đến hạn cũng bị

buộc phải ngừng hoạt động. Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, nhà

quản lý doanh nghiệp phải giải quyết ba vấn đề quan trọng sau đây: Thứ nhất,

doanh nghiệp cần đưa ra các chiến lược đầu tư dài hạn, tìm hiểu các lĩnh vực

cần đầu tư phù hợp với loại hình sản xuất kinh doanh lựa chọn. Thứ hai,

doanh nghiệp phải xác định được nguồn vốn tài trợ. Thứ ba, cách thức nhà

quản lý sẽ quản lý hoạt động kinh doanh hàng ngày. Ba vấn đề trên không

phải là tất cả mọi khía cạnh về tài chính doanh nghiệp, nhưng đó là những vấn

đề quan trọng nhất. Phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp là cơ sở để đề ra

cách thức giải quyết ba vấn đề đó.



-



Đối với các nhà đầu tư

Mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư là thời gian hoàn vốn,

mứcsinh lãi và sự rủi ro. Vì vậy, nhà đầu tư cần các thơng tin về điều kiện

tàichính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và tiềm năng tăng trưởng

của các doanh nghiệp. Phân tích cấu trúc tài chính giúp nhà đầu tư đánh giá

được khả năng sinh lời và triển vọng phát triển của doanh nghiệp. Trước hết,

nhà đầu tư quan tâm tới lĩnh vực đầu tư và nguồn tài trợ. Trên cơ sở phân tích

các thơng tin về tt́nh ht́nh hoạt động, về kết quả kinh doanh hàng năm, nhà đầu

tư sẽ đánh giá được khả năng sinh lời và triển vọng phát triển của doanh

nghiệp thông qua các chỉ tiêu tài chính về khả năng sinh lời cũng như sự tăng

trưởng được dự báo trong tương lai; từ đó đưa ra những quyết định phù hợp.

Các nhà đầu tư sẽ chỉ chấp thuận đầu tư vào một dự án nếu ít nhất có một điều



21



kiện là giá trị hiện tại ròng của nó dương. Bên cạnh đó, chính sách phân phối

cổ tức và cơ cấu nguồn tài trợ của doanh nghiệp cũng là vấn đề được các nhà

đầu tư hết sức coi trọng vì nó trực tiếp tác động đến thu nhập của họ. Thu

nhập của cổ đông bao gồm phần cổ tức được chia hàng năm và phần giá trị

tăng thêm của cổ phiếu trên thị trường. Một nguồn tài trợ với tỷ trọng nợ và

vốn chủ sở hữu hợp lý sẽ tạo đòn bẩy tài chính tích cực vừa giúp doanh

nghiệp tăng vốn đầu tư vừa làm tăng giá cổ phiếu và thu nhập trên mỗi cổ

phiếu (EPS). Phân tích cấu trúc tài chính là cơ sở để nhà đầu tư đưa ra quyết

định đầu tư.

-



Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước

Dựa vào các báo cáo tài chính doanh nghiệp, các cơ quan quản lý của

Nhà nước thực hiện phân tích cấu trúc tài chính để đánh giá, kiểm tra,

kiểmsoát các hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh

nghiệp có tn thủ theo đúng chính sách, chế độ và luật pháp quy định khơng,

tìnhhình hạch tốn chi phí, giá thành, tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà

nước và khách hàng... Tóm lại, phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp là

cơng cụ hữu ích được dùng để xác định giá trị kinh tế, để đánh giá mặt mạnh,

mặt yếu của doanh nghiệp, tìm ra nguyên nhân khách quan và chủ quan giúp

cho từng đối tượng lựa chọn và đưa ra những quyết định phù hợp với mục

đích mà họ quan tâm.



1.2.



CÁC LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH



1.2.1. Theo quan điểm truyền thống



Các nhà kinh tế theo quan điểm truyền thống cho rằng để tối đa hóa tổng

giá trị doanh nghiệp hay nói cách khác “để tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn

bình qn (WACC), doanh nghiệp có thể tăng khoản nợ vay đến một tỷ lệ tối

ưu trong điều kiện giả định lợi nhuận hoạt động không chịu tác động của việc



22



vay nợ, nghĩa là tỷ suất sinh lời dự kiến từ vốn chủ sở hữu không tăng khi vay

thêm nợ, khi đó chi phí sử dụng vốn bình qn phải giảm khi tỷ lệ nợ trên vốn

chủ sở hữu tăng. Nói cách khác, các nhà kinh tế theoquan điểm truyền

thống cho rằng tồn tại một cấu trúc tài chính tối ưu với mỗi doanh nghiệp.

1.2.2. Theo quan điểm hiện đại

a.



Lý thuyết về cấu trúc tài chính của Modigliani và Miller (M&M)



Trái với quan điểm truyền thống, Modilligani và Miller (1958) đã tìm hiểu

xem chi phí vốn tăng hay giảm khi một doanh nghiệp tăng hay giảm nợ vay.

Lý thuyết M&M về cấu trúc tài chính được xem là lý thuyết hiện đại lý

giải được quan hệ giữa giá trị cơng ty, chi phí sử dụng vốn và mức độ sử dụng

nợ của công ty. M&M giả định thị trường vốn là hồn hảo, vì vậy sẽ khơng có

các chi phí giao dịch, khơng có chi phí phá sản và chi phí khốn khó tài chính

và tỷ lệ vay giống như tỷ lệ cho vay và cũng bằng với tỷ lệ vay miễn phí. Nếu

thị trường vốn là hồn hảo, M&M tranh luận rằng các doanh nghiệp có cơ

hội kinh doanh giống nhau và tiền lãi mong đợi hàng năm giống nhau phải có

tổng giá trị giống nhau bất chấp cấu trúc vốn bởi vì giá trị của một doanh

nghiệp phải phụ thuộc vào giá trị hiện tại của các hoạt động của nó, khơng

phải dựa trên cách thức cấp vốn. Từ đây, có thể rút ra rằng nếu tất cả những

cơng ty như vậy có tiền lời mong đợi giống nhau và giá trị giống nhau cũng

phải có WACC giống nhau ở mọi mức độ tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu.

Mặc dù những giả định về thị trường vốn hồn hảo là khơng có thực, tuy

nhiên, có 2 giả thiết cần được nhấn mạnh và chúng có tác động đáng kể đến

kết quả đó là trong trường hợp khơng có thuế (tức là khơng có lá chắn thuế từ

lãi vay) và trường hợp nguy cơ được xác định hồn tồn dựa trên tính khơng

ổn định của các luồng tiền (bỏ qua khả năng các luồng tiền có thể dừng vì vỡ



23



nợ).Giá trị cơng ty có vay nợ và giá trị cơng ty khơng có vay nợ là như nhau

với phương trình sau:

VL = VU

Trong đó:



VL: Tổng giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ

VU: Tổng giá trị của doanh nghiệp khơng sử dụng nợ



Do đó, giá trị công ty không thay đổi khi cấu trúc vốn của cơng ty thay

đổi. Hay nói cách khác, việc thay đổi cơ cấu vốn khơng mang lại lợi ích gì

cho cổ đông.

Năm 1963, Modilligani và Miller đưa ra một nghiên cứu tiếp theo với

việc loại bỏ giả thiết về thuế thu nhập doanh nghiệp. Theo M&M, với thuế thu

nhập doanh nghiệp, việc sử dụng nợ sẽ làm tăng giá trị của doanh nghiệp. Vì

chi phí lãi vay là chi phí hợp lý được khấu trừ khi tính thuế thu nhập doanh

nghiệp, do đó mà một phần thu nhập của doanh nghiệp có sử dụng nợ được

chuyển cho các nhà đầu tư theo phương trình:

VL = VU + T.D

Trong đó:



VL: Tổng giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ

VU: Tổng giá trị của doanh nghiệp không sử dụng nợ

D : Tổng số nợ sử dụng

T : Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp



Phương trình này giải thích trong trường hợp có thuế, giá trị của cơng ty

có vay nợ bằng giá trị công ty không vay nợ cộng với khoản lợi từ lá chắn



24



thuế do việc sử dụng nợ. Như vậy, theo mơ hình thuế MM (1963) cấu trúc vốn

có liên quan đến giá trị của doanh nghiệp. Sử dụng nợ càng cao thì giá trị

doanh nghiệp càng tăng và gia tăng đến tối đa khi doanh nghiệp được tài trợ

100% nợ.

Tuy nhiên, lý thuyết M&M chưa xem xét tác động của một số chi phí

khác khiến cho lợi ích của lá chắn thuế bị giảm dần và đi đến triệt tiêu khi

cơng ty gia tăng tỷ số nợ. Đó chính là tác động của chi phí khốn khó tài chính.

Khi công ty gia tăng sử dụng nợ làm cho rủi ro của công ty tăng theo. Điều

này làm phát sinh chi phí khốn khó tài chính tác động đồng thời với lợi ích

của lá chắn thuế. Đến một điểm nào đó thì chi phí khốn khó tài chính sẽ vượt

qua lợi ích của lá chắn thuế. Ở điểm đó, gọi là điểm cơ cấu vốn tối ưu, giá trị

công ty đạt cực đại và chi phí sử dụng vốn trung bình đạt cực tiểu. Khi cơng

ty tiếp tục gia tăng sử dụng nợ, công ty sẽ vượt qua điểm tối ưu, ở đó giá trị

cơng ty bắt đầu giảm và chi phí sử dụng vốn trung bình của cơng ty bắt đầu

tăng, lợi ích của lá chắn thuế khơng đủ bù đắp cho chi phí khốn khó tài chính.

Tuy nhiên, trên thực tế rất khó quan sát chi phí khốn khó tài chính và xác

định được tất cả các loại chi phí có liên quan đến chi phí khốn khó tài chính.

Chỉ có những loại chi phí khốn khó tài chính trực tiếp như chi phí luật sư, kế

tốn theo dõi và giải quyết phá sản mới có thể quan sát và xác định được, còn

các loại chi phí khốn khó tài chính gián tiếp khác như chi phí do mất khách

hàng, mất nhà cung cấp, mất nhân viên giỏi, mất thời gian và công sức của

ban quản lý vào việc đối phó với khó khăn tài chính thì rất khó quan sát và

xác định cụ thể.

b.



Lý thuyết về sự đánh đổi



25



Lý thuyết đánh đổi nhằm mục đích giải thích vì sao các doanh nghiệp

thường được tài trợ một phần bằng nợ vay, một phần bằng vốn chủ sở hữu.

Một lý do lớn khiến các doanh nghiệp không thể tài trợ hồn tồn bằng nợ

vay là vì, bên cạnh sự hiện hữu lợi ích tấm chắn thuế từ nợ, việc sử dụng tài

trợ bằng nợ cũng phát sinh nhiều chi phí, điển hình nhất là các chi phí kiệt quệ

tài chính bao gồm cả chi phí trực tiếp lẫn chi phí gián tiếp của việc phá sản có

ngun nhân từ nợ.

Với mỗi phần trăm tỷ lệ nợ tăng thêm, trong khi lợi ích tấm chắn thuế

gia tăng thì chi phí kiệt quệ tài chính cũng gia tăng. Sẽ đến một lúc nào đó,

khi mà với mỗi tỷ lệ nợ tăng thêm, hiện giá lợi ích từ tấm chắn thuế khơng

cao hơn hiện giá chi phí kiệt quệ tài chính thì việc vay nợ khơng còn mang lại

lợi ích cho doanh nghiệp. Chính vì điều này, các cơng ty ln tìm cách tối ưu

hóa tổng giá trị doanh nghiệp dựa trên nguyên tắc cân bằng này để xác định

nên lựa chọn bao nhiêu nợ và bao nhiêu vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của

mình. Điểm xác định cấu trúc vốn tối ưu là tại đó với mỗi lượng nợ tăng thêm

thì PV(tấm chắn thuế)= PV(chi phí kiệt quệ tài chính).

Lý thuyết trật tự phân hạng

Thuyết trật tự phân hạng được khởi đầu bằng nghiên cứu của Myers và

c.



Majluf năm 1984, lý giải các quyết định của doanh nghiệp trên cơ sở thông tin

bất cân xứng. Thông tin bất cân xứng là một khái niệm cho rằng các nhà quản

trị hiểu rõ giá trị của cơng ty mình hơn các nhà đầu tư bên ngồi do họ nắm

những thơng tin về doanh nghiệp mà người bên ngồi khơng có. Những quyết

định về cấu trúc vốn không dựa trên tỷ lệ Nợ/Tài sản tối ưu mà được quyết

-



định từ việc phân hạng thị trường. Quy luật của lý thuyết này như sau:

Nguồn vốn nội bộ luôn được ưu tiên trước nhất trong các phương án tài trợ

của doanh nghiệp. Khi sử dụng nguồn này, các nhà quản trị không cần phải

thuyết phục hay giải thích lựa chọn của mình đối với các nhà đầu tư bên

ngoài.



26



-



Ưu tiên thứ hai là phát hành chứng khoán nợ. Nếu như bỏ qua được mối e

ngại về khả năng kiệt quệ tài chính, việc phát hành chứng khoán nợ đồng

nghĩa với việc các nhà cho vay sẽ luôn nhận được một khoản chi trả cố định –



-



một thứ ln có sức hấp dẫn khơng nhỏ.

Phát hành vốn cổ phần là lựa chọn cuối cùng. Đây là hình thức có mức chi phí

“đắt” nhất, do doanh nghiệp phải cung cấp rất nhiều thông tin dự án để đánh

đổi lấy sự đồng ý từ các cổ đông, trong khi các thông tin này vô cùng quý giá

trong môi trường cạnh tranh.

Lý thuyết này giúp giải thích vì sao các doanh nghiệp có khả năng sinh

lời nhiều hơn thường có tỷ lệ vay thấp hơn, đơn giản vì những doanh nghiệp

này khơng cần huy động vốn từ bên ngồi. Ngược lại, các doanh nghiệp có

khả năng sinh lời ít hơn thì phát hành nợ vì họ khơng có đủ nguồn vốn nội bộ

để chi trả cho các dự án đầu tư. Với thuyết này, Myers và Majluf cho rằng

không có cấu trúc vốn tối ưu đối với doanh nghiệp.

d. Lý thuyết thông tin bất cân xứng

Thông tin luôn được coi là một loại “tài sản” rất có giá trị đối với tất cả

các nhà đầu tư trên thị trường chứng khốn (TTCK). Sở hữu thơng tin nhanh,

chính xác sẽ là một lợi thế rất lớn khi tham gia đầu tư trên thị trường. Tuy

nhiên, không phải ai tham gia TTCK cũng có cơ hội được sở hữu một lượng

thơng tin như nhau cả về số lượng hay chất lượng. Điều này xuất phát chủ yếu

từ việc các doanh nghiệp không minh bạch trong công bố thông tin, dẫn đến

một nhóm người được tiếp cận thơng tin nhanh hơn, chính xác hơn và tất

nhiên sẽ thu được nhiều lợi ích hơn so với những nhà đầu tư thông thường

trong giao dịch chứng khoán. Đây được gọi là hiện tượng bất cân xứng thông

tin trên TTCK (Dương Ngân Hà, 2015). Theo các nghiên cứu về TTCK, bất

cân xứng thông tin tạo ra nhiều rủi ro tiềm ẩn, gây thiệt hại cho một số nhóm

nhà đầu tư tham gia giao dịch và có thể dẫn tới sự thất bại của thị trường.



27



Theo các nhà kinh tế học, bất cân xứng thông tin có thể xảy ra khi các

bên tham gia giao dịch cố tình che đậy thơng tin, người mua khơng có thông

tin xác thực, đầy đủ và kịp thời nên dẫn tới trả giá thấp hơn giá trị thực của

hàng hóa. Hậu quả là người bán khơng còn động lực để sản xuất hàng hóa có

giá trị và có xu hướng cung cấp những sản phẩm trung bình trên thị trường.

Sau cùng, bất cân xứng thơng tin thậm chí còn có thể dẫn đến tình trạng trên

thị trường chỉ còn lại những sản phẩm có chất lượng kém, hàng hóa tốt bị loại

bỏ dẫn đến sự lựa chọn đối nghịch (adverse selection) cho cả hai bên. Bất cân

xứng thơng tin còn gây ra rủi ro đạo đức (moral hazard) và độc quyền về

thông tin (information monopoly).

Bất cân xứng thông tin trên thị trường chứng khoán xảy ra khi một hoặc

nhiều nhà đầu tư sở hữu thơng tin riêng hoặc có nhiều thông tin đại chúng hơn

về một công ty. Hoặc khi doanh nghiệp, những người quản lý doanh nghiệp

có nhiều thơng tin hơn so với cộng đồng nhà đầu tư. Vì vậy có thể dẫn tới

hiện tượng che đậy các thơng tin bất lợi, thổi phồng các thơng tin có lợi hoặc

cung cấp thông tin một cách không công bằng đối với các nhóm nhà đầu tư

khác nhau. Ngồi ra, có rất nhiều những biểu hiện về sự bất cân xứng thông

tin trên TTCK như doanh nghiệp sau khi phát hành cổ phiếu không chú trọng

vào đầu tư sản xuất kinh doanh mà chỉ chú trọng vào việc đẩy giá cổ phiếu

lên cao trên TTCK; có sự rò rỉ thơng tin nội gián; tạo cung cầu ảo trên thị

trường, tung tin đồn thất thiệt về doanh nghiệp, cung cấp thông tin sai…

e. Lý thuyết chi phí đại diện

Trên lý thuyết, các cổ đơng, người chủ sở hữu đích thực của một công ty,

phải là người điều hành các hoạt động của nó. Song thật là một điều vơ cùng

khó khăn để có thể thống nhất hàng ngàn cổ đơng của một công ty, mỗi người

nắm một số cổ phần rất nhỏ của công ty, để đưa ra một quyết định nào đó.

Trên thực tế, cổ đơng của các tập đồn lớn ngày nay rất phân tán và do đó



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x