Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH

HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH

Tải bản đầy đủ - 0trang

10



nghiệp. Cấu trúc vốn tối ưu liên quan tới việc đánh đổi giữa chi phí và lợi ích

của doanh nghiệp. Cấu trúc vốn tối ưu xảy ra ở điểm mà tại đó tối thiểu hóa

chi phí sử dụng vốn, tối thiểu hóa rủi ro và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.

1.1.2. Các yếu tố cấu thành

a. Nợ phải trả

Nợ phải trả là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ số nợ phải trả tại

thời điểm báo cáo, gồm: nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Việc phân loại các

khoản phải trả bao gồm phải trả người bán, phải trả nội bộ, phải trả

khác được thực hiện theo nguyên tắc:

- Phải trả người bán gồm các khoản phải trả mang tính chất thương mại

phát sinh từ giao dịch mua hàng hóa, dịch vụ, tài sản và người bán (là đơn vị

độc lập với người mua, gồm cả các khoản phải trả giữa công ty mẹ và công ty

con, công ty liên doanh, liên kết). Khoản phải trả này gồm cả các khoản phải

trả khi nhập khẩu thông qua người nhận ủy thác (trong giao dịch nhập khẩu

ủy thác);

- Phải trả nội bộ gồm các khoản phải trả giữa đơn vị cấp trên và đơn vị

cấp dưới trực thuộc không có tư cách pháp nhân hạch tốn phụ thuộc;

- Phải trả khác gồm các khoản phải trả khơng có tính thương mại,

không liên quan đến giao dịch mua, bán, cung cấp hàng hóa dịch vụ.

Khi lập Báo cáo tài chính, kế tốn căn cứ kỳ hạn còn lại của các khoản

phải trả để phân loại là ngắn hạn hoặc dài hạn.

- Nợ ngắn hạn: Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị các khoản nợ

còn phải trả có thời hạn thanh tốn khơng q 12 tháng hoặc dưới một chu kỳ

sản xuất, kinh doanh thông thường.

- Nợ dài hạn: Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị các khoản nợ

dài hạn của doanh nghiệp bao gồm những khoản nợ có thời hạn thanh tốn

còn lại từ 12 tháng trở lên hoặc trên một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông



11



thường.

b. Vốn chủ sở hữu

Vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh các khoản vốn kinh doanh

thuộc sở hữu của cổ đông, thành viên góp vốn. Vốn chủ sở hữu bao gồm: Vốn

đầu tư của chủ sở hữu; Thặng dư vốn cổ phần; Vốn khác của chủ sở hữu; Cổ

phiếu quỹ; Chênh lệch đánh giá lại tài sản; Chênh lệch tỷ giá hối đoái; Quỹ

đầu tư phát triển …

c. Các tỷ số đo lường

Cấu trúc vốn là quan hệ về tỷ trọng giữa nợ và vốn chủ sở hữu, trong

tổng số nguồn vốn của công ty được dùng để tài trợ quyết định đầu tư của một

doanh nghiệp. Được đo lường bằng các chỉ tiêu như sau:

-



Tỷ số nợ:

Tổng nợ

Tỷ số nợ =



Tổng tài sản



Tỷ số nợ cho



biết



bao



nhiêu



phần trăm tài sản được tài trợ bằng nợ. Tỷ số này càng cao chứng tỏ khả năng

vay nợ của doanh nghiệp càng tốt nhưng lại gây ra rủi ro tài chính càng cao

cho doanh nghiệp.

Tỷ số tự tài trợ:

Vốn chủ sở hữu

Tỷ số tự tài trợ =



Tổng tài sản



Tỷ số tự tài trợ cho biết bao nhiêu phần trăm tài sản được tài trợ bằng

nguồn vốn chủ sở hữu. Tỷ số này càng cao chứng tỏ khả năng tự chủ về tài

chính càng tốt nhưng ngược lại doanh nghiệp lại chưa tận dụng được đòn

bẩy tài chính.

-



Tỷ số nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu:

Nợ dài hạn

Tỷ số nợ dài hạn =



Vốn chủ sở hữu



12



Tỷ số này cho biết nợ dài hạn chiếm bao nhiêu phần trăm so với vốn

chủ sở hữu.

1.1.3. Các lý thuyết về cấu trúc vốn

a. Quan điểm truyền thống về cấu trúc vốn

Quan điểm về cấu trúc vốn truyền thống cho rằng khi một doanh nghiệp

bắt đầu vay mượn, thuận lợi vượt trội hơn bất lợi. Chi phí nợ thấp, kết hợp

với thuận lợi về thuế sẽ khiến chi phí vốn bình quân gia quyền giảm khi nợ

tăng. Tuy nhiên, khi tỷ lệ giữa vốn nợ và vốn chủ sở hữu tăng, tác động của

tỷ lệ vốn vay so với tổng vốn buộc các chủ sở hữu tăng lợi tức yêu cầu của

họ (nghĩa là chi phí vốn chủ sở hữu tăng). Ở mức tỷ lệ vốn nợ và vốn chủ sở

hữu cao, chi phí nợ cũng tăng bởi vì khả năng doanh nghiệp không trả được

nợ là cao hơn (nguy cơ phá sản cao hơn). Vì vậy, ở mức tỷ số giữa vốn nợ và

vốn chủ sở hữu cao hơn, chi phí vốn bình qn gia quyền sẽ tăng.

Vấn đề chính của quan điểm truyền thống là khơng có một lý thuyết cơ

sở thể hiện chi phí vốn chủ sở hữu nên tăng bao nhiêu do tỷ lệ giữa vốn nợ

và vốn chủ sở hữu hay chi phí nợ nên tăng bao nhiêu do ảnh hưởng của nguy

cơ vỡ nợ.

b. Lý thuyết cấu trúc vốn của Modilligani và Miller (mô hình MM)

Trái với quan điểm truyền thống, Modilligani và Miller (1958) [16] đã

tìm hiểu xem chi phí vốn tăng hay giảm khi một doanh nghiệp tăng hay giảm

vay mượn.

Để chứng minh một lý thuyết khả thi, Modilligani và Miller (MM) đã

đưa ra một số những giả định đơn giản hoá rất phổ biến trong lý thuyết về tài

chính: họ giả định thị trường vốn là hồn hảo, vì vậy sẽ khơng có các chi phí

giao dịch và tỷ lệ vay giống như tỷ lệ cho vay và bằng với tỷ lệ vay miễn



13



phí; việc đánh thuế được bỏ qua và nguy cơ được tính hồn tồn bằng tính

khơng ổn định của các luồng tiền.

Nếu thị trường vốn là hoàn hảo, MM tranh luận rằng thế thì các doanh

nghiệp có cơ hội kinh doanh giống nhau và tiền lãi mong đợi hàng năm

giống nhau phải có tổng giá trị giống nhau bất chấp cấu trúc vốn bởi vì giá

trị của một doanh nghiệp phải phụ thuộc vào giá trị hiện tại của các hoạt

động của nó, khơng phải dựa trên cách thức cấp vốn. Từ đây, có thể rút ra

rằng nếu tất cả những cơng ty như vậy có tiền lời mong đợi giống nhau và

giá trị giống nhau cũng phải có chi phí vốn bình qn gia quyền giống nhau

ở mọi mức độ tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu.

Mặc dù những giả định về thị trường vốn hồn hảo là khơng có thực,

tuy nhiên, có 2 giả thiết cần được nhấn mạnh và chúng có tác động đáng kể

đến kết quả.

1. Giả định là khơng có việc đánh thuế: đây là vấn đề quan trọng và một

trong những thuận lợi then chốt của nợ là việc giảm nhẹ thuế cho những chi

tiêu tiền lãi.

2. Nguy cơ trong lý thuyết của MM được tính tốn hồn tồn bởi tính

biến đổi của các luồng tiền. Họ bỏ qua khả năng các luồng tiền có thể dừng

vì vỡ nợ. Đây là một vấn đề đáng kể khác với lý thuyết này nếu nợ cao.

Đưa ra các giả định này có nghĩa chỉ có một thuận lợi của việc vay tiền

(nợ rẻ hơn và ít rủi ro cho nhà đầu tư) và một bất lợi (chi phí vốn chủ sở hữu

tăng cùng với nợ vì tỷ lệ vốn vay so với tổng vốn).

Modigliani và Miler chỉ ra là những tác động này cân bằng một cách

chính xác. Việc sử dụng nợ mang đến cho chủ sở hữu tỷ suất lợi tức cao hơn,

nhưng lợi tức cao hơn này chính xác là những gì họ bù đắp cho nguy cơ tăng

lên từ tỷ lệ vốn vay so với tổng vốn. Với các giả thuyết trên, dẫn đến phương

trình cho lý thuyết của MM như sau:



14



Vg = Vu: Tổng giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ bằng tổng giá trị

của doanh nghiệp không sử dụng nợ.

Năm 1963, Modilligani và Miller [17] đưa ra một nghiên cứu tiếp theo

với việc loại bỏ giả thiết về thuế thu nhập doanh nghiệp. Theo MM, với thuế

thu nhập doanh nghiệp, việc sử dụng nợ sẽ làm tăng giá trị của doanh

nghiệp. Vì chi phí lãi vay là chi phí hợp lý được khấu trừ khi tính thuế thu

nhập doanh nghiệp, do đó mà một phần thu nhập của doanh nghiệp có sử

dụng nợ được chuyển cho các nhà đầu tư theo phương trình:

Vg = Vu + T.D: giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ bằng giá trị của

doanh nghiệp không sử dụng nợ cộng với khoản lợi từ việc sử dụng nợ.

Trong đó, D là tổng số nợ sử dụng, T là thuế suất thuế thu nhập doanh

nghiệp, T.D là khoản lợi từ việc sử dụng nợ.

Như vậy, theo mơ hình thuế MM (1963) cấu trúc vốn có liên quan đến

giá trị của doanh nghiệp. Sử dụng nợ càng cao thì giá trị doanh nghiệp càng

tăng và gia tăng đến tối đa khi doanh nghiệp được tài trợ 100% nợ.

c. Thuyết trật tự phân hạng (thông tin bất cân xứng)

Nền tảng đầu tiên cho thuyết trật tự phân hạng là những nghiên cứu của

Donalson (1961) [11] được phát triển bởi Stewart Myers và Nicolas Majluf

(1984) lý giải các quyết định đầu tư và tài trợ của doanh nghiệp dựa trên cơ

sở thông tin bất cân xứng. Bởi vì các nhà quản trị hiểu rõ hơn các nhà đầu tư

bên ngồi về tình hình kinh doanh của công ty cũng như khả năng sinh lợi

của các dự án trong tương lai. Do đó, nếu các dự án có triển vọng, đem lại

lợi nhuận cao thì cách tài trợ tốt nhất là dùng nguồn sẵn có từ lợi nhuận giữ

lại. Trong trường hợp nguồn này không đủ thì nguồn vốn vay với lãi suất cố

định thường thấp hơn tỷ suất sinh lời của dự án sẽ được lựa chọn để không

phải chia sẻ lợi nhuận với các cổ đông mới. Nhà quản trị chỉ xem xét sử

dụng nguồn tài trợ từ vốn cổ phần khi cổ phiếu của công ty đang được định



15



giá cao hơn giá trị thực trên thị trường. Theo lý thuyết trật tự phân hạng,

khơng có một hỗn hợp nợ và vốn cổ phần mục tiêu nào được xác định rõ.

Myers cho rằng khó có thể xác định được một cấu trúc vốn tối ưu bởi vì vốn

chủ sở hữu lần lượt được xếp ở vị trí đầu tiên (lợi nhuận giữ lại) và cuối

cùng (phát hành cổ phần mới) trong trật tự phân hạng. Một tỷ lệ nợ quan sát

được của mỗi doanh nghiệp phản ánh các nhu cầu tích luỹ của doanh nghiệp

đối với tài trợ từ bên ngoài.

d. Lý thuyết chi phí đại diện

Trong bối cảnh những năm 1970 với sự phát triển mạnh mẽ của nền

kinh tế thế giới, sự đa dạng trong các loại hình cơng ty và sự thiếu hụt các lý

thuyết nền tảng về quyền sở hữu công ty cũng như mối quan hệ giữa người

chủ và người quản lý thơng qua hợp đồng đại diện thì lý thuyết chi phí đại

diện ra đời. Những nghiên cứu đầu tiên tập trung vào những vấn đề về thông

tin bất cân xứng giữa người chủ và người quản lý trong ngành bảo hiểm và

nhanh chóng trở thành một lý thuyết khái quát những vấn đề liên quan đến

hợp đồng đại diện trong các lĩnh vực khác.

Lý thuyết này cho ta thấy sự tồn tại của một cấu trúc vốn tối ưu cho

doanh nghiệp bởi vì sự có mặt của chi phí đại diện. Chi phí đại diện phát

sinh từ mâu thuẫn của cổ đơng và trái chủ, còn chi phí đại diện của vốn chủ

sở hữu phát sinh từ mâu thuẫn giữa cổ đông với các trái chủ và nhà quản lý.

Chi phí đại diện phát sinh từ mâu thuẫn giữa cổ đông và trái chủ

Khi một công ty sử dụng nợ, các cổ đông và trái chủ sẽ có sự mâu

thuẫn về mặt lợi ích. Trong trường hợp cơng ty đang lâm vào tình trạng kiệt

quệ tài chính, các cổ đơng, những người trong ban quản trị có thể sẽ thực

hiện một vài hành vi để tranh giành lợi ích với các trái chủ. Các hành vi này

sẽ làm phát sinh chi phí, vì chúng gây ảnh hưởng tiêu cực đến giá trị của

doanh nghiệp.



16



Chi phí đại diện của vốn cổ phần

Lý thuyết này nói lên việc một người sẽ làm việc cho bản thân mình tốt

hơn so với làm việc cho người khác. Đồng thời người đó cũng sẽ làm tốt hơn

cho công ty nếu như phần vốn góp trong cơng ty nhiều hơn. Một nhà quản lý

có sở hữu cổ phần của của cơng ty sẽ làm việc tốt hơn một nhà quản lý

khơng có sở hữu cổ phần vì lợi ích của cơng ty gắn liền với lợi ích của cổ

đơng. Trong trường hợp này, nếu như tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà quản lý

tại cơng ty càng nhiều, các khoản chi phí này sẽ càng ít bởi vì phần gánh

chịu của người đó càng nhiều. Thậm chí, nếu một người khơng sở hữu cổ

phần cơng ty, các cổ đơng khó n tâm về việc các dự án có NPV<0 (NPV:

giá trị hiện tại thuần) được đảm bảo chắc chắn sẽ không triển khai.

Như vậy, lý thuyết chi phí đại diện đề cập đến mối quan hệ giữa một

bên là người chủ của công ty và một bên là người quản lý, người đại diện

thực hiện các quyết định của công ty. Lý thuyết chi phí đại diện nêu ra vấn

đề chính là làm thế nào để người đại diện làm việc vì lợi ích cao nhất của

người chủ khi họ có lợi thế về thơng tin hơn người chủ và có những lợi ích

khác với lợi ích của chủ doanh nghiệp.

e. Lý thuyết đánh đổi

Được phát triển bởi Kraus & Litzenberger (1973) [14] cho rằng nhà

quản trị của doanh nghiệp có thể xác định được một cấu trúc vốn tối ưu

nhằm tối đa hóa giá trị cơng ty dựa trên sự đánh đổi giữa lợi ích và chi phí

của việc sử dụng nợ. Lợi ích từ nợ đó là lợi ích từ lá chắn thuế nhờ lãi vay.

Còn chi phí tiềm tàng từ việc sử dụng nợ là chi phí kiệt quệ tài chính

(Financial Distress Cost) bao gồm các chi phí như chi phí trả cho luật sư giải

quyết phá sản, chi phí trả cho kế tốn và nhân viên quản trị cơng ty trong

q trình chờ phá sản, chi phí do mất khách hàng và nhà cung cấp hay chi

phí đại diện… Theo quan điểm của lý thuyết đánh đổi, nhà quản trị có thể



17



tối ưu cấu trúc vốn của mình bằng cách xác định điểm mà tại đó với mỗi

lượng nợ tăng thêm vừa đủ để bù đắp cho sự gia tăng của chi phí kiệt quệ tài

chính dự tính trong điều kiện các kế hoạch đầu tư và tài sản của doanh

nghiệp là không đổi. Lý thuyết đánh đổi đã giải thích được mặt hạn chế của

lý thuyết M&M về chi phí kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp vay nợ. Với

mỗi phần trăm tỷ lệ nợ tăng thêm, trong khi lợi ích tấm chắn thuế gia tăng

thì chi phí kiệt quệ tài chính cũng gia tăng. Sẽ đến một lúc nào đó, khi mà

với mỗi tỷ lệ nợ tăng thêm, hiện giá lợi ích từ tấm chắn thuế khơng cao hơn

hiện giá chi phí kiệt quệ tài chính thì việc vay nợ khơng còn mang lại lợi ích

cho doanh nghiệp. Chính vì điều này, các cơng ty ln tìm cách tối ưu hóa

tổng giá trị doanh nghiệp dựa trên nguyên tắc cân bằng này để xác định nên

lựa chọn bao nhiêu nợ và bao nhiêu vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của

mình. Điểm xác định cấu trúc vốn tối ưu là tại đó với mỗi lượng nợ tăng

thêm thì Giá trị hiện tại (tấm chắn thuế) = Giá trị hiện tại (chi phí kiệt quệ tài

chính).

f. Lý thuyết đánh đổi tĩnh

Lý thuyết này được đề xuất bởi Myers vào năm 1977 [19]. Myers cho

rằng cấu trúc vốn tối ưu có tồn tại. Lý thuyết giải thích vì sao doanh nghiệp

không cố gắng đi vay càng nhiều càng tốt để hưởng lợi ích từ tấm chắn thuế.

Theo đó, các cơng ty phải tự quyết định về đòn bẩy tài chính trên cơ sở cân

bằng lợi ích thu được từ vốn vay và những rủi ro tài chính. Giá trị của doanh

nghiệp dùng vốn vay sẽ được tăng thêm nhờ nguồn giảm trừ thuế, nhưng sẽ

phải gánh chịu rủi ro tài chính, mà rủi ro này sẽ tăng theo tỉ lệ nợ. Giá trị của

doanh nghiệp sẽ tăng đến một ngưỡng nhất định, rồi giảm dần do rủi ro tài

chính tăng dần. Cơ cấu vốn tối ưu sẽ đạt được khi tại đó, giá trị cơng ty là

lớn nhất, tức chi phí vốn ở mức thấp nhất và do đó, tối đa hóa được lợi

nhuận của cơng ty. Mặt khác, lý thuyết này cũng đề cập đến việc một số



18



doanh nghiệp vay nợ nhiều hơn doanh nghiệp khác, vì sao có doanh nghiệp

lựa chọn khoản vay ngắn hạn, khoản vay dài hạn. Như vậy, lý thuyết này trái

ngược với lý thuyết cấu trúc vốn có liên quan đến giá trị của doanh nghiệp.

Đối với một cấu trúc vốn tối ưu thì giá trị tối đa của doanh nghiệp sẽ được

xác định bằng cách đánh đổi giữa chi phí và lợi ích của việc tài trợ bằng

nguồn vốn vay.

Chi phí này bao gồm chi phí kiệt quệ tài chính (do sử dụng nợ cao sẽ

mang lại rủi ro tài chính cao). Các cơng ty lâm vào tình trạng kiệt quệ sẽ

phải gánh chịu nhiều chi phí hơn khi họ vay nợ quá nhiều, năng suất giảm đi

và chi phí cơ hội cao hơn so với thu nhập bị mất đi. Chi phí kiệt quệ tài

chính cũng bao gồm chi phí tái cấu trúc và chi phí thanh lý.

Do đó, doanh nghiệp sẽ vay mượn đến điểm cân bằng của chi phí biên

và lợi ích biên trên mỗi đơn vị tiền được tài trợ. Trong đó, lợi ích từ việc vay

nợ liên quan đến lá chắn thuế và giảm thiểu chi phí đại diện của dòng tiền tự

do, mặt khác chi phí từ việc vay nợ bao gồm chi phí phá sản và chi phí đại

diện tăng lên (bù đắp rủi ro tín dụng) khi doanh nghiệp đi vay càng nhiều. Vì

vậy, giá trị của một doanh nghiệp có sử dụng vốn vay phải cộng thêm hiện

giá của phần lợi ích từ thuế và trừ đi hiện giá của chi phí đại diện và chi phí

phá sản. Đó chính là mơ hình lý thuyết đánh đổi tĩnh được chứng minh bởi

Modigliani và Miller (1977), Myers (1977), Bredley (et al. (1984), Alman

(1984) và Stulz (1990).

1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn

a. Quy mô hoạt động

Theo lý thuyết thông tin bất cân xứng (Myer & Majluf (1984)) [18] thì quy

mơ của doanh nghiệp có mối quan hệ tỷ lệ thuận với nợ vay. Các doanh nghiệp

có quy mơ lớn thường được biết nhiều và tạo được uy tín trên thị trường tài

chính. Vì vậy, các doanh nghiệp này thường có khả năng vay nợ nhiều hơn các



19



doanh nghiệp có quy mô nhỏ. Điều này đúng với thực tế của thị trường Việt

Nam - thị trường thông tin bất cân xứng (thông tin của doanh nghiệp tới nhà đầu

tư thường không được đầy đủ và chính xác). Cho nên, các doanh nghiệp lớn

thường được các nhà đầu tư tin cậy hơn, nhất là các ngân hàng.

b. Thời gian hoạt động

Thông thường, nếu doanh nghiệp có thâm niên hoạt động trên thị trường

càng nhiều năm thì chỗ đứng của doanh nghiệp đó cũng được khẳng định và

được nhiều khách hàng cũng như các đối tượng cung cấp vốn biết đến, cho

nên thời gian hoạt động của doanh nghiệp có quan hệ cùng chiều với nợ vay.

c. Cấu trúc tài sản

Là thước đo cơ bản nhất thể hiện giá trị tài sản có mối quan hệ mật thiết

với đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp. Qua những nghiên cứu thực nghiệm,

hầu hết các doanh nghiệp khẳng định rằng, hơn 90% tài sản có ý nghĩa rất lớn

liên quan cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Tài sản thế chấp là một điều kiện

tốt, quan trọng để các chủ nợ xem xét quyết định cấp tín dụng. Theo mơ hình

cân bằng tĩnh một doanh nghiệp có tỷ lệ Tài sản cố định hữu hình cao sẽ sử

dụng nợ nhiều hơn so với một doanh nghiệp có tỷ lệ Tài sản cố định vơ hình

cao.

d. Hiệu quả kinh doanh

Hiệu quả kinh doanh đo lường khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh

của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu như khả năng sinh lời tài sản (ROA)

hay tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE). Theo lý thuyết trật tự phân

hạng, nhà quản trị doanh nghiệp bao giờ cũng có thơng tin về giá trị doanh

nghiệp tốt hơn nhà đầu tư bên ngoài. Sự bất cân xứng về thông tin này dẫn

đến chi phí huy động vốn từ bên ngồi sẽ cao hơn. Vì thế, nhà quản trị có xu

hướng ưu tiên sử dụng các nguồn vốn nội tại trước, rồi mới đến các nguồn

vốn vay mượn bên ngồi. Do đó, hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công



20



ty càng cao, lợi nhuận đem lại cho doanh nghiệp càng lớn thì doanh nghiệp sẽ

càng có xu hướng sử dụng nguồn vốn nội tại hơn là đi vay. Ở Việt Nam, vấn

đề thông tin bất cân xứng càng làm cho vấn đề này trở nên chắc chắn hơn.

e. Tính thanh khoản

Tính thanh khoản này có tác động cùng chiều (+) và ngược chiều (-) đến

quyết định cấu trúc vốn. Thứ nhất, các công ty có tỷ lệ thanh khoản cao có thể

sử dụng nhiều khoản nợ khác để trả các khoản nợ vay ngắn hạn khi đến hạn.

Như vậy, tính thanh khoản của cơng ty có quan hệ tỷ lệ thuận (+) với nợ vay.

Mặt khác, các cơng ty có thanh khoản dồi dào có thể sử dụng số tài sản này

tài trợ cho các khoản đầu tư của mình. Do vậy, tính thanh khoản của cơng ty

có quan hệ nghịch (-) với nợ vay.

f. Tốc độ tăng trưởng

Để đánh giá sự tăng trưởng có mối quan hệ với tỷ lệ nợ trong cấu trúc

vốn. Tăng trưởng càng kém càng khiến công ty đối mặt với những khó khăn

về tài chính hơn, do vậy tỉ lệ nợ thường sử dụng cao hơn, cơ hội tăng trưởng

của doanh nghiệp có quan hệ nghịch chiều với nợ vay.

1.2. TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

1.2.1. Khái niệm về tài chính doanh nghiệp và hiệu quả tài chính

doanh nghiệp

Các chuyên gia tài chính của một doanh nghiệp luôn phải đối mặt với

ba câu hỏi quan trọng, đó là:

+ Trong rất nhiều các cơ hội đầu tư thì doanh nghiệp sẽ phải đưa ra

quyết định lựa chọn cơ hội đầu tư nào? Trả lời câu hỏi này nghĩa là giám

đốc tài chính đã thực hiện quyết định đầu tư.

+ Doanh nghiệp nên dùng những nguồn tài trợ nào để tài trợ cho nhu

cầu vốn đầu tư đã được hoạch định đó? Trả lời câu hỏi này nghĩa là giám

đốc tài chính đã thực hiện quyết định tài trợ.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x