Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
 Sự cần thiết khuyến khích xuất khẩu mặt hàng mây tre đan

 Sự cần thiết khuyến khích xuất khẩu mặt hàng mây tre đan

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chính sách khuyến khích xuất khẩu mây tre đan sang thị trường EU



xuất khẩu mây tre đan còn góp phần tạo ra nhiều cơ hội phát triển nền kinh tế trong

nước. Đẩy mạnh xuất khẩu mây tre đan có tác động đến sự thay đổi cơ cấu kinh tế

ngành theo hướng sử dụng có hiệu quả nhất lợi thế so sánh của đất nước. Điều này,

không những cho phép tăng sản xuất về mặt số lượng, tăng năng suất lao động mà

còn tiết kiệm chi phí lao động xã hội.

Bên cạnh đó xuất khẩu mây tre đan tạo việc làm thêm trong nước và tăng thu

nhập. Đẩy mạnh và phát triển xuất khẩu mây tre đan có hiệu quả sẽ nâng cao mức

sống của nhân dân vì nhờ mở rộng xuất khẩu mà một bộ phận người lao động có

cơng ăn việc làm và có thu nhập.



8



Chính sách khuyến khích xuất khẩu mây tre đan sang thị trường EU



Chương 2: Thực trạng xuất khẩu mây tre đan của Việt Nam giai đoạn

2008-2012

I. Tình hình sản xuất và xuất khẩu mây tre đan của Việt Nam sang thị trường

EU giai đoạn 2008-2012

Hiện nay, cả nước có tới 2.017 làng nghề với nhiều loại hình sản xuất như

hộ gia đình, tổ sản xuất, tổ hợp tác, các hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, trong đó

làng nghề đan tre, trúc, song, mây (gọi chung là mây, tre đan) có số lượng lớn nhất

với 713 đơn vị, chiếm 24% tổng số làng nghề. Các làng nghề này đã thu hút một lực

lượng lao động đông đảo, khoảng 350 ngàn người và sản phẩm không chỉ đáp ứng

nhu cầu trong nước mà đã được xuất khẩu tới trên 120 quốc gia, vùng lãnh thổ trên

thế giới với kim ngạch xuất khẩu đạt trung bình 200 triệu USD/năm.

TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU MÂY TRE ĐAN SANG THỊ TRƯỜNG EU GIAI

ĐOẠN 2008-2012

Đơn vị tính: 1000 USD

Kim ngạch

Năm



Kim ngạch XK sang thị



XK ra thế



trường EU



giới



So



với



năm

trước (%)



2008



225.617



109.655



91,28



2009



178.712



76.302



69,58



2010



203.109



78.545



102,94



2011



201.210



79.064



100,66



10 tháng đầu năm 2012



172.419



56.338



71,26



(Theo số liệu của Tổng cục Thống Kê)



9



Chính sách khuyến khích xuất khẩu mây tre đan sang thị trường EU



Kim ngạch xuất khẩu mây tre đan của Việt Nam sang thị trường EU giai đoạn

2008 đến mười tháng đầu năm 2012 chiếm từ 30% đến khoảng 50% tổng kim ngạch

xuất khẩu của Việt Nam ra thế giới . Cụ thể năm 2008 chiếm 48,6 % , năm 2009

chiếm 42,7% , năm 2010 chiếm 38,7% , năm 2011 chiếm 35,1% và tính tới thời

điểm 10 tháng đầu năm 2012 đã đóng góp 32,7% vào tổng kim ngạch xuất khẩu của

Việt Nam.

Thu nhập từ xuất khẩu mây tre đan sang thị trường EU đóng góp khơng nhỏ

vào tổng nguồn thu từ xuất khẩu của Việt Nam. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng

mây tre đan sang thị trường EU trong giai đoạn này có xu hướng khơng ổn định, nếu

như năm 2008 là 109,655,000USD thì tới 10 tháng đầu năm 2012 chỉ còn là

56,338,000 USD . Trước đó năm 2010 ,2011 kim ngạch xuất khẩu là 78,545,000

USD và 79,064,000 USD. Tuy nhiên thỉ tổng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường

EU giảm theo xu hướng chung giảm của tổng kim ngạch xuất khẩu ra thị trường thế

giới .



10



Chính sách khuyến khích xuất khẩu mây tre đan sang thị trường EU



Về chủng loại mặt hàng xuất khẩu thì các mặt hàng được đan bằng lục bình và

lá bng chiếm tỷ trọng cao nhất. Tiếp đến là kim ngạch một số mặt hàng xuất khẩu

vào thị trường EU trong 10 tháng đầu năm cũng đạt khá cao như: giỏ đan bằng lục

bình; ghế đan bằng lục; khay lục bình; kệ lục bình… Một số mặt hàng mây đan

khác xuất khẩu vào thị trường này những tháng đầu năm nay cũng đạt kim ngạch

khá cao như: khay mây, giỏ mây, hộp mây, kệ mây, rổ rá mây, bát đĩa mây, hòm mây,

thùng giặt bằng mây….

Các đối thủ cạnh tranh với mặt hàng này trên thị trường thế giới là các nhà

cung cấp đến từ Thái Lan, Trung Quốc, Indonexia, những nước mà cũng có nguồn

nguyên liệu dồi dào và nhân công giá rẻ, đa dạng, phong phú về mẫu mã, chủng loại.

Điều đó tạo nên nhiều khó khăn cho việc xuất khẩu mặt hàng này của nước ta.



II. Thực trạng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm trong nước và tại thị trường EU

1. Thực trạng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm trong nước

Sản phẩm mây tre đan ở thị trường trong nước xuất hiện với mật độ thấp,

nguyên nhân do nhu cầu mua và sử dụng các sản phẩm mây tre đan còn ít, chỉ tập

trung ở một số đối tượng yêu thích sản phẩm truyền thống .Theo thống kê sơ bộ cho

thấy cứ 10 hộ gia đình chỉ có 2 hộ gia đình có sử dụng sản phẩm mây tre đan, cứ 10

cửa hàng, nhà hàng, khách sạn chỉ có 1 địa điểm dùng sản phẩm này . Do thực tế

nhu cầu tiêu thụ như vậy nên tình hình phân phối mặt hàng này còn nhỏ lẻ và chưa

có hệ thống, quy mơ lớn. Đây là thực tế đáng buồn đối với sản phẩm mây tre đan,

nhu cầu của người dân chưa được kích thích mạnh từ phía các doanh nghiệp sản

xuất mây tre đan khiến cầu về sản phẩm mây tre đan chưa cao.

Tình hình thực tế tại các cửa hàng mây tre đan khá trầm lặng, nhưng trên

cộng đồng mạng internet lại được đông đảo thành viên quan tâm và tham gia vào

việc bàn luận về các sản phẩm mây tre đan. Qua diễn đàn thấy được người có nhu

11



Chính sách khuyến khích xuất khẩu mây tre đan sang thị trường EU



cầu mua sản phẩm mây tre đan khá nhiều, các nhu cầu này được thể hiện qua các

câu hỏi về chất lượng sản phẩm mây tre đan có tốt khơng? Nên mua ở đâu giá cả

phù hợp, trên diễn đàn cũng nhận được những ý kiến đông đảo của người tiêu dùng

về việc cũng muốn lựa chọn mua, đã mua ở đâu, đánh giá về sản phẩm. Điều này thể

hiện rằng khơng ít người dân tại có nhu cầu mua sản phẩm mây tre đan, nhưng nhu

cầu đó chưa được thể hiện bằng hành động mua, theo các diễn đàn này các thành

viên tham gia cho biết nguyên nhân là sản phẩm có ít địa điểm phân phối, giá cả q

đắt chưa hợp lý với túi tiền khách hàng, chất lượng còn đang được xem xét về độ

bền, chưa có tính tin cậy về sản phẩm.

Có thể nói, các doanh nghiệp mây tre đan cần phải chú trọng tới thị trường

trong nước, đây là một thị trường tiềm năng, đặc biệt rất tiềm năng đối với sản phẩm

mây tre đan cải tiến. Doanh nghiệp nên quảng bá rộng rãi sản phẩm của mình và đưa

ra thêm nhiều chính sách về giá cả, cải tiến mẫu mã hơn nữa để người tiêu dùng biết

tới sản phẩm nhiều và có quyết định mua sản phẩm của doanh nghiệp nhiều hơn.

2. Thực trạng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm ở thị trường EU

Hàng mây tre đan nói riêng và các mặt hàng thủ cơng mỹ nghệ của Việt Nam

nói chung khi xuất khẩu thường chú trọng vào các yếu tố truyền thống trong sản

phẩm của mình. Mặt khác, nền văn hóa phương Đơng và phương Tây là hoàn toàn

khác nhau nên nhu cầu tiêu thụ mặt hàng này ở thị trường EU còn thấp. Việc cấp

thiết cần làm là phải chú trọng việc tìm hiểu nhu cầu, sở thích của người nước ngồi.

Với các thị trường khác nhau lại có những sở thích khác nhau về hàng mây tre;

chẳng hạn với thi trường Nhật và Châu Âu thì ưa chuộng sản phẩm mây tre cầu kỳ

có tính mỹ thuật cao, trong khi đó thị trường Mỹ lại đặc biệt chú trọng đến tính tiện

ích của sản phẩm. Nhu cầu về các loại hàng mây tre còn thay đổi theo mùa; chẳng

hạn với mùa thu sản phẩm lựa chọn thường có màu sắc là màu vàng óng tự nhiên,

mùa đơng lại chuộng những sản phẩm có màu sắc nâu đen qua cơng đoạn hun khói.

Các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa chủ động và có chiến lược phát triển lâu dài

trên thị trường này.

12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

 Sự cần thiết khuyến khích xuất khẩu mặt hàng mây tre đan

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×