Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP

KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

9



Nếu khơng có chuẩn mực hay hướng dẫn, Ban Giám đốc doanh nghiệp

phải đưa ra các xét đoán đối với việc xây dựng và áp dụng chính sách kế tốn.

Trong việc đưa ra xét đốn đó, Ban Giám đốc phải xem xét đến các nguồn

theo thứ tự ưu tiên giảm dần như sau (VAS khơng có quy định này):

 Các yêu cầu và các hướng dẫn trong các chuẩn mực của IASB đối với

các vấn đề tương tự;

 Quy định chung đối với việc lập và trình bày báo cáo tài chính;

 Các quy định mới nhất của các tổ chức ban hành chuẩn mực khác có

cùng những quy định chung để xây dựng các chuẩn mực kế toán, hướng dẫn

kế tốn và các thơng lệ được chấp nhận trong cùng ngành.

Từ đó cho thấy: Chính sách kế tốn khơng chỉ là những nguyên tắc kế

toán chung đã được thừa nhận và mang tính bắt buộc mà còn là những lựa

chọn, những ước tính mang tính xét đốn, chủ quan của người làm kế toán

nhằm thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận của chủ doanh nghiệp.

Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng có thể linh hoạt lựa chọn cho mình các

chính sách kế tốn phù hợp. Một chính sách kế tốn có thể được coi là quan

trọng thậm chí khi các số liệu được trình bày trong các niên độ hiện tại và

trước đây khơng mang tính trọng yếu. Việc diễn giải các chính sách khơng

được quy định trong các chuẩn mực kế toán hiện hành, nhưng được lựa chọn

và áp dụng phù hợp phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật quy định.

1.1.2. Đặc trưng chính sách kế tốn

Chính sách kế toán bao gồm những nguyên tắc kế toán: Nguyên tắc kế

toán là những tuyên bố chung như là những chuẩn mực kế toán và sự hướng

dẫn để phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính đạt được mục tiêu dễ hiểu, đáng

tin cậy, dễ so sánh của các thơng tin kế tốn . Những ngun tắc này được rút

ra từ kinh nghiệm thực tiễn của những người làm cơng tác kế tốn kết hợp với

q trình nghiên cứu của các cơ quan chức năng được thừa nhận có tính pháp



10



lệnh và được triển khai áp dụng thống nhất trong phạm vi cả nước cho tất cả

các đơn vị kinh tế. Đây là những nguyên tắc chung mà tất cả mọi doanh

nghiệp phải áp dụng, như nguyên tắc kỳ kế toán, nguyên tắc phù hợp, nguyên

tắc giá gốc, cơ sở dồn tích, nguyên tắc nhất quán, nguyên tắc thận trọng…Kế

toán phải tuân thủ các nguyên tắc kế toán khi lập báo cáo. Tuy nhiên, các

doanh nghiệp cũng có thể vận dụng các nguyên tắc để thay đổi các thơng tin

cung cấp ra bên ngồi, ví dụ: tùy thuộc thời điểm ghi nhận chi phí vào niên độ

phát sinh hay phân bổ cho một số kỳ theo nguyên tắc phù hợp mà chi phí phát

sinh trong kỳ sẽ khác nhau, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ.

Chính sách kế tốn bao gồm những lựa chọn trong cơng tác kế toán:

Chuẩn mực kế toán cho phép doanh nghiệp có thể lựa chọn các phương pháp

kế tốn khác nhau cho phù hợp với đặc điểm và mục tiêu của doanh nghiệp

Việc lựa chọn và áp dụng các phương pháp khác nhau trong một chính sách

kế tốn sẽ làm thay đổi thơng tin trình bày trên các báo cáo tài chính hay

thơng tin cung cấp ra bên ngồi. Các lựa chọn kế tốn bao gồm lựa chọn

phương pháp tính giá xuất kho, lựa chọn phương pháp khấu hao tài sản cố

định, lựa chọn phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang, lựa chọn phương

pháp tính giá thành… Mỗi lựa chọn sẽ gây ảnh hưởng đến chi phí khác nhau và

dẫn đến lợi nhuận cũng khác nhau.

Chính sách kế tốn bao gồm các quy định về ước tính kế tốn: Khái

niệm “ước tính kế tốn” đề cập tới các khoản mục trên báo cáo tài chính mà

giá trị của chúng được ước tính chứ khơng thể đo lường một cách chính xác

bằng các cơng thức tốn học, điều này là do chuẩn mực khơng thể cụ thể hóa

được mọi vấn đề phát sinh ở các đơn vị. Các ước tính được sử dụng trong kế

tốn nhằm đảm bảo cho thơng tin tài chính phản ánh một cách trung thực,

đúng bản chất và hợp lý tình hình tài chính, tình hình kinh doanh của doanh

nghiệp. Các khoản ước tính kế tốn gồm có ước tính liên quan đến khấu hao



11



tài sản cố định, cách xác định dự phòng giảm giá, ước tính giá trị sản phẩm dở

dang, các ước tính kế tốn khác liên quan đến phân bổ hay trích trước chi phí,

các ước tính liên quan đến các khoản dự phòng phải trả ở cơng ty. Để đưa ra

các ước tính này, người lập BCTC phải sử dụng các “xét đoán nghề nghiệp”.

Vì là các xét đốn nên mang tính chủ quan, khó có một tiêu chuẩn nào để

đánh giá tính hợp lý. Chính vì vậy tính tin cậy của các ước tính kế tốn là một

vấn đề được người sử dụng BCTC đặc biệt quan tâm.

Ngoài việc vận dụng các chính sách kế tốn để doanh nghiệp lập và trình

bày báo cáo tài chính, tại đoạn 67-71 của chuẩn mực kế tốn Việt Nam số 21Trình bày báo cáo tài chính còn nhấn mạnh doanh nghiệp cần phải cơng bố

cơng khai chính sách kế tốn của chính doanh nghiệp một cách kỹ lưỡng để

người sử dụng có điều kiện ra quyết định. Việc cơng bố các chính sách kế

tốn áp dụng của doanh nghiệp thể hiện trên Thuyết minh báo cáo tài chính.

1.1.3. Vai trò của chính sách kế tốn đối với quản trị doanh nghiệp

Kế tốn ln là cơng cụ đắc lực của quá trình quản lý các hoạt động kinh

tế trên phương diện cung cấp thông tin tài chính về một tổ chức nhất định.

Những thơng tin kế tốn cung cấp chỉ thực sự hữu ích khi đáp ứng được yêu

cầu về thông tin của quản lý.

Đối với kế tốn viên: Chính sách kế tốn là cơ sở để thực hiện các công

việc đo lường và công bố thơng tin kế tốn phù hợp với đặc điểm của từng

đơn vị và qui định của pháp luật.

Đối với nhà quản trị: Chính sách kế tốn là phương tiện để kiểm sốt

hoạt động của cơng ty bằng những mong muốn điều chỉnh lợi nhuận. Từ đó

các nhà quản trị có thể định hướng hoạt động, đưa ra phương thức nhằm nâng

cao hiệu quả kinh doanh, chính sách tài trợ cho phù hợp, lập kế hoạch cho

hoạt động của doanh nghiệp.

Đối với cơ quan thuế: Thơng qua chính sách kế tốn được cơng bố, là cơ



12



sở để kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý trong các quy định về kế toán. Đối chiếu

với các qui định của thuế để có những điều chỉnh, kiểm tra việc chấp hành các

chế độ tài chính và xác định đúng đắn các khoản nghĩa vụ phải trả cho nhà nước.

Đối với các đối tượng khác: Thơng qua chính sách kế tốn để đánh giá

hoạt động của đơn vị, tính trung thực trong việc cung cấp thông tin của doanh

nghiệp. Những người chủ sở hữu doanh nghiệp sẽ quan tâm đến hiệu quả hoạt

động sản xuất kinh doanh của đơn vị, khả năng điều hành của nhà quản trị,

những nhà đầu tư trong tương lai sẽ quan tâm đến sự an toàn của lượng vốn

đầu tư, mức độ sinh lời, khả năng hoàn vốn để quyết định có nên đầu tư hay

khơng.

Chính vì vậy việc vận dụng chính sách kế tốn trong doanh nghiệp cũng

được quan tâm vì nó ảnh hưởng đến số liệu trình bày trên BCTC của doanh

nghiệp trong kỳ. Doanh nghiệp có thể vận dụng linh hoạt các chính sách kế

tốn nhằm quản trị lợi nhuận, điều chỉnh các thơng tin kế tốn để phục vụ

mục đích chủ quan của mình. Việc nghiên cứu sự vận dụng chính sách kế tốn

giúp làm rõ hơn chất lượng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, giúp các

đối tượng đánh giá khách quan hơn về thực trạng của doanh nghiệp và đưa ra

các quyết định đúng đắn.

1.2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH

KẾ TỐN CỦA DOANH NGHIỆP

1.2.1. Nhu cầu về thơng tin kế tốn của người sử dụng

Báo cáo tài chính là sản phẩm cuối cùng của cơng tác kế tốn, đóng vai

trò quan trọng cho sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp, là mục tiêu của bộ

phận kế toán để cung cấp thơng tin tài chính cho các đối tượng bên trong và

bên ngoài của doanh nghiệp để đưa ra các quyết định tối ưu. Đối tượng sử

dụng thông tin trên báo cáo tài chính rất đa dạng. Vì vậy, việc lựa chọn các



13



chính sách kế tốn của doanh nghiệp được cân nhắc để đảm bảo nhu cầu về

thông tin của đối tượng sử dụng báo cáo tài chính khác nhau.

- Đối tượng có quyền lợi tài chính trực tiếp như các nhà đầu tư: Các nhà

đầu tư đều quan tâm đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong quá khứ

và tiềm năng tạo ra lợi nhuận cũng như tiềm năng tạo ra tiền của doanh

nghiệp. Thông tin từ các báo cáo do kế tốn cung cấp có thể giúp các nhà đầu

tư hiểu rõ về viễn cảnh tương lai của việc đầu tư của họ vào doanh nghiệp. Vì

thế doanh nghiệp sẽ vận dụng chính sách kế tốn để có thể cung cấp thơng tin

kế tốn tích cực về doanh nghiệp đối với các nhà đầu tư.

- Để đáp ứng hoạt động, hiện nay các doanh nghiệp đa số đều có sử dụng

vốn vay và đều có các mối quan hệ với các tổ chức tín dụng, ngân hàng: Các

ngân hàng cho vay tiền đều quan tâm đến việc liệu doanh nghiệp có đủ tiền để

hồn trả nợ vay cho họ khi nợ đến hạn hay không. Như vậy họ sẽ tìm hiểu

nghiên cứu về khả năng thanh tốn của doanh nghiệp cũng như tình hình biến

động tiền mặt và khả năng tạo ra tiền của doanh nghiệp. Các ngân hàng đều

phân tích rất kỹ tình hình tài chính và khả năng thanh tốn của doanh nghiệp

trước khi quyết định cho doanh nghiệp vay. Điều này dẫn đến động cơ điều

chỉnh các thông tin trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp theo chiều hướng

tích cực để đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng.

- Đối với cơ quan thuế: Đây là người đại diện cho Nhà nước để thu thuế

các doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp đều phải nộp các loại thuế khác nhau

tùy theo lĩnh vực, loại hình doanh nghiệp. Vấn đề khai thuế và nộp thuế

thường rất là phức tạp, nó chi phối phần nào đến việc lập báo cáo tài chính để

dùng trong việc tính thuế. Vì vậy, các doanh nghiệp thường có xu hướng áp

dụng những chính sách kế tốn phù hợp với quy định của luật thuế.



14



1.2.2. Đặc thù của doanh nghiệp

Việc sử dụng các chính sách kế tốn để điều chỉnh thơng tin trình bày

trên báo cáo tài chính phụ thuộc vào hình thức sở hữu về vốn của các doanh

nghiệp như Cơng ty cổ phần có quyền phát hành chứng khốn các loại để huy

động vốn. Giá thị trường của chứng khoán được quyết định bởi giá trị sổ sách

kế toán và lợi nhuận kỳ vọng. Chính vì niêm yết trên thị trường chứng khoán

nên kế toán phải sử dụng các phương pháp, nguyên tắc kế toán một cách linh

hoạt để điều chỉnh lợi nhuận tăng cao nhất tại thời điểm cổ phiếu của công ty

lần đầu tiên được niêm yết trên thị trường nhằm thu hút vốn đầu tư từ bên ngồi.

Các doanh nghiệp có đặc thù khác nhau thì sẽ vận dụng các chính sách

kế tốn khác nhau để điều chỉnh thơng tin trên báo cáo tài chính. Doanh

nghiệp có hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn thì sẽ vận dụng chính sách kế tốn

liên quan đến hàng tồn kho để điều chỉnh thơng tin, như: phương pháp tính

giá xuất kho của hàng tồn kho, việc trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho.

Doanh nghiệp có tài sản cố định chiếm tỷ trọng lớn thì sẽ vận dụng chính sách

kế tốn liên quan đến tài sản cố định, như: phương pháp trích khấu hao

TSCĐ, phân bổ chi phí trả trước (trường hợp khơng trích trước chi phí sửa

chữa TSCĐ), chi phí phải trả (trường hợp trích trước chi phí sửa chữa TSCĐ)

để điều chỉnh thơng tin.

1.2.3. Mục tiêu quản trị lợi nhuận

Nói đến sản xuất kinh doanh dưới bất kỳ hình thái kinh tế xã hội nào

khơng ai có thể quên vấn đề hiệu quả. Quản trị lợi nhuận là hành động điều

chỉnh lợi nhuận kế toán của nhà quản trị doanh nghiệp nhằm đạt được lợi

nhuận mục tiêu thơng qua cơng cụ kế tốn.

Kế tốn được xem là một công cụ của người quản lý để kiểm tra, giám

sát mọi hoạt động và vận hành doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả. Nếu nhà

quản trị coi trọng vai trò của kế tốn đối với cơng tác quản lý thì có thể u



15



cầu kế tốn sử dụng các chính sách kế tốn phù hợp để đạt được mục tiêu lợi

nhuận của doanh nghiệp.

Các nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận cho phép các nhà quản trị

linh hoạt trong việc lựa chọn phương pháp kế toán và ước tính kế tốn. Chính

sự linh hoạt này tạo ra một báo cáo tài chính khơng phản ánh một cách trung

thực, hợp lý tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nói

cách khác, doanh nghiệp có hành động quản trị lợi nhuận.

Theo Healvy và Wahlen (1998) quản trị lợi nhuận xảy ra khi nhà quản trị

sử dụng để điều chỉnh trong báo cáo tài chính và trong nội dung nghiệp vụ

kinh tế để làm thay đổi báo cáo tài chính hoặc đánh lừa các bên liên quan về

hoạt động công ty phụ thuộc vào số liệu báo cáo kế tốn .

Theo Scott (2009) thì quản trị lợi nhuận là sự lựa chọn của nhà quản trị

trong chính sách kế toán hoặc hành động ảnh hưởng đến lợi nhuận, để đạt

được một số mục tiêu cụ thể báo cáo lợi nhuận.

Các mục tiêu quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp dựa trên cơ sở các

mục tiêu tài chính trong ngắn hạn, dài hạn. Các mục tiêu này được thể hiện

qua các chỉ tiêu tài chính sau; ROA, ROE, ROS…

a. Mục tiêu tăng lợi nhuận của doanh nghiệp

Việc vận dụng các phương pháp kế tốn để điều chỉnh thơng tin trên

BCTC nhằm tăng lợi nhuận thường được các doanh nghiệp sử dụng để thỏa

mãn kỳ vọng các nhà đầu tư vốn vào doanh nghiệp, bán cổ phiếu ra bên ngoài

thị trường…Vì vậy, các đối tượng trên khi sử dụng BCTC của doanh nghiệp

cho mục đích riêng của mình thì cần thiết phải tìm hiểu thơng tin và so sánh

các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp, đồng thời cần quan tâm kỹ đến chính

sách kế tốn của doanh nghiệp được công bố trên thuyết minh BCTC để đưa

ra quyết định đúng đắn và hợp lý nhất.



16



b. Mục tiêu về thuế thu nhập doanh nghiệp

Nếu mức thuế suất của thuế thu nhập doanh nghiệp tăng lên thì các

doanh nghiệp có xu hướng vận dụng các chính sách kế tốn sao cho chi phí

thuế thu nhập doanh nghiệp là nhiều nhất và ngược lại nếu mức thuế suất thuế

thu nhập doanh nghiệp giảm xuống thì các doanh nghiệp cũng sẽ vận dụng

các chính sách kế tốn sao cho chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện tại ít

hơn so với tương lai để sử dụng khoản này đầu tư vào các nhu cầu khác của

doanh nghiệp.

Theo các tài liệu nghiên cứu thì thuế luôn là yếu tố quyết định đến việc

vận dụng các chính sách kế tốn. Đây là nhân tố mạnh mẽ nhất, chẳng hạn

như chi phí hợp lý và khơng hợp lý như bảng 1.1 dưới đây:

Bảng 1.1. Các khoản chi phí khơng hợp pháp, hợp lý trong thuế

và kế toán

Khoản mục



Thuế



Kế toán



1. Khấu hao TSCĐ

- Khấu hao vượt quá mức quy định trong chế độ khấu Khơng







hao hiện hành

- Trích khấu hao TSCĐ tương ứng với phần nguyên giá Khơng







trên 1,6 tỷ đồng/xe đối với ơ tơ chở người <=9 chổ ngồi

mới đăng ký sử dụng và trích khấu hao từ 1/9/2009 (trừ

ô tô chuyên kinh doanh vận tải hành khách, du lịch và

khách sạn.

2. Chi phí tiền lương, tiền công

- Chi tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp phải Khơng







trả cho người lao động nhưng hết hạn nộp hồ sơ quyết

toán theo năm nhưng vẫn chưa chi

- Tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân, Không

chủ công ty TNHH MTV, thù lao trả cho sáng lập viên,

thành viên của hội đồng thành viên, không trực tiếp

tham gia điều hành sản xuất kinh doanh







17



Khoản mục

Thuế

3. Phần chi trang phục bằng hiện vật cho người lao Khơng



Kế tốn





động khơng có hóa đơn, phần chi trang phục bằng hiện

vật



cho



người



lao



động



vượt



quá



1.500.000đồng/người/năm, phần chi trang phục bằng

tiền



cho



người



lao



động



vượt



quá



1.000.000đồng/người/năm

4. Chi thưởng sáng kiến, cải tiến mà doanh nghiệp Khơng







khơng có quy chế quy định cụ thể về chi khen thưởng

sáng chế

5. Chi mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động

Khơng



(Nguồn: Bài báo “Kiểm tốn giá trị hợp lý”, Tạp chí Nghiên cứu khoa

học kiểm tốn)

Chính những khoản chi phí hợp lý và khơng hợp lý này đã làm cho các

chính sách kế toán bị chi phối mạnh mẽ.

Để thực hiện quản trị lợi nhuận nhằm đạt được các mục tiêu, nhà quản lý

có thể có các hành vi điều chỉnh lợi nhuận thơng qua vận dụng chính sách kế

tốn như sau:

- Điều chỉnh lợi nhuận thông qua thay đổi phương pháp kế toán: là cách

thức thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận bị hạn chế bởi nguyên tắc nhất quán

và các quy định công bố thông tin. Bản thân việc thay đổi phương pháp kế

toán áp dụng chỉ đem lại tác động đến lợi nhuận báo cáo của kỳ kế tốn có sự

thay đổi đó. Cụ thể, cơng ty có thể làm thay đổi lợi nhuận công bố khi thay

đổi lựa chọn phương pháp tính giá trị hàng tồn kho, phương pháp khấu ha tài

sản cố định, phương pháp ghi nhận doanh thu và chi phí trong hợp đồng xây dựng.

- Điều chỉnh lợi nhuận thông qua thực hiện các ước tính kế tốn: Các

ước tính kế tốn có thể làm tăng hoặc giảm chi phí theo ước muốn chủ quan

để có được lợi nhuận mong muốn được nhà quản lý áp dụng thường xuyên.

Tuy nhiên, cũng cần phân biệt giữa ước tính kế tốn một lần và ước tính kế



18



tốn mỗi kỳ. ước tính kế tốn một lần được áp dụng một lần khi nghiệp vụ

phát sinh, chẳng hạn: ước tính thời gian khấu hao tài sản cố định, ước tính số

lần phân bổ hay mức phân bổ của chi phí trả trước, ước tính chi phí bảo hành

cơng trình xây lắp. ước tính kế tốn mỗi kỳ được thực hiện vào cuối mỗi kỳ

kế toán, chẳng hạn: ước tính chi phí bảo hành sản phẩm, ước tính tỷ lệ hồn

thành cơng trình xây lắp và cung cấp dịch vụ, ước tính giá trị sản phẩm dở dang.

1.2.4. Trình độ chun mơn của kế tốn

Trình độ của kế tốn viên ảnh hưởng đến khả năng lựa chọn các kỹ thuật,

các chính sách kế tốn phù hợp để tối đa hóa lợi ích của doanh nghiệp mình.

[5, tr.229]. Nếu kế tốn có khả năng vận dụng các chính sách kế toán một

cách nhuần nhuyễn sẽ giúp cho nhà quản trị doanh nghiệp đạt được những

mục tiêu cần thiết. Kế toán được xem như một phương tiện giúp cho doanh

nghiệp theo dõi thường xuyên tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của

cơng ty: q trình sản xuất, theo dõi thị trường… Nhờ đó người quản lý điều

hành trơi chảy các hoạt động, quản lý hiệu quả, kiểm soát nội bộ tốt.

Tuy nhiên, một điều có thể nhận thấy là trình độ kế tốn tại nước ta chưa

cao. Trình độ của kế toán viên sẽ ảnh hưởng đến khả năng lựa chọn chính

sách kế tốn để tối đa hóa lợi ích của doanh nghiệp. Thực tế là các kế tốn

viên khơng cần quan tâm đến nội dung của chuẩn mực mà chỉ quan tâm đến

các thông tư hướng dẫn của Bộ tài chính ban hành. Mặt khác, cơng tác kế tốn

ở các doanh nghiệp chỉ chú trọng cho mục đích kê khai thuế khá cao nên

trong nhiều trường hợp, kế toán chỉ quan tâm đến mục đích thuế và bỏ qua rất

nhiều sự lựa chọn về chính sách kế tốn mà kế tốn viên có thể áp dụng. Vì

vậy, nếu kế tốn có kiến thức và kinh nghiệm thực tế nhiều thì sẽ hiểu được

sự khác nhau của việc vận dụng các chính sách kế tốn phù hợp theo u cầu

của nhà quản trị doanh nghiệp.



19



1.2.5. Ảnh hưởng của thuế đối với cơng tác kế tốn

Tối thiểu hóa chi phí thuế luôn được xem là nhân tố then chốt tác động

đến mỗi phương án lựa chọn chính sách kế tốn của doanh nghiệp. Do đó,

trong từng trường hợp cụ thể, doanh nghiệp khéo léo vận dụng từng khoảng

không của sự lựa chọn trong chuẩn mực kế toán để đạt được mục tiêu chủ

quan của doanh nghiệp.

* Mối quan hệ giữa chính sách kế tốn với chuẩn mực kế tốn và cơng

tác quản trị doanh nghiệp

Doanh nghiệp phải lựa chọn và áp dụng các chính sách kế tốn cho việc

lập và trình bày báo cáo tài chính phù hợp với quy định của từng chuẩn mực

kế tốn. Trường hợp chưa có quy định ở chuẩn mực kế toán và chế độ kế tốn

hiện hành, thì doanh nghiệp phải căn cứ vào chuẩn mực chung để xây dựng

các phương pháp kế toán hợp lý nhằm đảm bảo báo cáo tài chính cung cấp

được các thơng tin đáp ứng các u cầu sau:

- Thích hợp với nhu cầu ra các quyết định kinh tế của người sử dụng;

- Đáng tin cậy, khi:

+ Trình bày trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả

kinh doanh của doanh nghiệp;

+ Phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch và sự kiện khơng chỉ

đơn thuần phản ánh hình thức hợp pháp của chúng;

+ Trình bày khách quan, khơng thiên vị;

+ Tn thủ nguyên tắc thận trọng;

+ Trình bày đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu.

Tuy nhiên tùy theo mục tiêu khác nhau của các nhà quản trị, có thể mục

tiêu của nhà quản trị là điều chỉnh lợi nhuận nhằm tiết kiệm thuế thu nhập

doanh nghiệp phải nộp. Mục tiêu của nhà quản trị có thể là tăng lợi nhuận để

thu hút vốn đầu tư, bán cổ phiếu ra thị trường,…mà họ sẽ lựa chọn điều chỉnh



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x