Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ HỆ THỐNG THÔNG QUAN ĐIỆN TỬ VNACCS/VCIS

1 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ HỆ THỐNG THÔNG QUAN ĐIỆN TỬ VNACCS/VCIS

Tải bản đầy đủ - 0trang

27

mới chỉ được thực hiện thí điểm trong khn khổ Dự án E-manifest, theo đó,

hãng tàu phải gửi trước tồn bộ thơng tin manifest về hàng hóa trên tàu cho cơ

quan Hải quan.

So với hệ thống hiện hành, Hệ thống VNACCS mở rộng thêm các chức

năng, thủ tục mới, đó là thủ tục đăng ký danh mục miễn thuế, thủ tục áp dụng

chung cả hàng mậu dịch và phi mậu dịch, thủ tục đơn giản đối với hàng trị giá

thấp, quản lý hàng hóa tạm nhập - tái xuất.

Chức năng khác của Hệ thống VNACCS là tăng cường kết nối với các

Bộ, Ngành bằng cách áp dụng Cơ chế một cửa (Single Window). Theo thiết

kế, Hệ thống VNACCS có sự kết nối với các Bộ, Ngành.Cơ quan Hải quan sẽ

gửi thông tin liên quan đến việc xin cấp phép của các cơ quan chuyên

ngành.Kết quả xử lý cấp phép sẽ được thực hiện thông qua Hệ thống.

Tiếp nhận và xử lý phân luồng tự động thông tin khai báo của doanh

nghiệp.Hạn chế sử dụng hồ sơ giấy thông qua việc áp dụng chữ ký điện

tử.Thời gian xử lý đối với hàng luồng xanh là 1 - 3 giây.Thời gian xử lý đối

với luồng vàng và luồng đỏ phụ thuộc vào thời gian kiểm tra hồ sơ và kiểm

tra thực tế hàng hóa.

Hệ thống VNACCS kết nối với nhiều hệ thống công nghệ thông tin của

các bên liên quan như: doanh nghiệp kinh doanh kho bãi, cảng, dịch vụ, giao

nhận, vận chuyển, ngân hàng, các Bộ, Ngành liên quan.

Về khai báo và xử lý thông tin khai báo trước thông quan: trước thông

quan,hệ thống VNACCS hỗ trợ tập trung xử lý thông tin trước khi hàng

đến/khai báo để phục vụ cho công tác kiểm tra, giám sát hải quan tại các khâu

khai báo.

Một trong những nội dung thay đổi tương đối lớn của Hệ thống

VNACCS liênquan đến hàng gia công, sản xuất xuất khẩu và chế xuất. Khi áp

dụng Hệ thống VNACCS sẽ thực hiện theo hướng thanh khoản theo từng tờ



28

khai, thực hiện quản lý theo từng phương tiện vận tải. Doanh nghiệp sẽ thực

hiện tự khai, tự chịu trách nhiệm và tự thanh khoản.Cơ quan Hải quan chỉ

kiểm tra trên cơ sở thông tin quản lý rủi ro đối với việc thanh khoản.

Về xác định trị giá.Hiện tại, Việt Nam áp dụng 06 mẫu Tờ khai trị giá

tương ứng với 06 phương pháp xác định trị giá. Khi áp dụng Hệ thống

VNACCS cho phép gộp một số chỉ tiêu của tờ khai trị giá theo phương pháp trị

giá giao dịch vào tờ khai nhập khẩu. Do đó, về cơ bản, đối với phương pháp trị

giá giao dịch không cần phải khai riêng tờ khai trị giá như hiện nay. Để đảm

bảo việc thơng quan hàng hóa nhanh chóng, những lơ hàng có sự nghi vấn về

giá sẽ chuyển sang khâu sau thông quan để xác định. Bộ phận nào xử lý việc

này sẽ được cân nhắc cụ thể trước khi đưa hệ thống này đi vào vận hành.

Về giám sát, quản lý hải quan đối với một số loại hình: khi áp dụng Hệ

thống VNACCS, hệ thống sẽ được thực hiện theo hướng đơn giản hóa, gom

các quy trình thủ tục theo hướng chuyển cửa khẩu, chuyển cảng, quá cảnh,…

về loại hình là hàng hóa vận chuyển chịu sự giám sát của hải quan vì bản chất

là việc chuyển hàng hóa từ địa điểm này sang địa điểm khác, chịu sự giám sát

của hải quan. Hiện tại chưa có loại hình đối với chuyển cảng. Vì vậy, căn cứ

theo Công ước Kyoto sửa đổi và thực tiễn của Hải quan các nước, trong dự

thảo Luật Hải quan sửa đổi, bổ sung có đưa nội dung này theo hướng doanh

nghiệp vận tải chịu trách nhiệm cập nhật thông tin và phản hồi thơng tin trên

hệ thống về hàng hóa vận chuyển đang chịu sự giám sát của Hải quan tại điểm

đi và điểm đến để phục vụ cho việc theo dõi, giám sát của hải quan.

Về chế độ quản lý của hải quan: Theo quy định hiện tại, hiện có khoảng

trên 200 mã loại hình xuất khẩu, nhập khẩu. Để đảm bảo và tạo thuận lợi cho

việc quản lý hải quan, thống kê và trên cơ sở khuyến nghị của Công ước

Kyoto sửa đổi, Hệ thống VNACCS thực hiện chuẩn hóa các chế độ quản lý

hải quan với khoảng 40 mã loại hình xuất khẩu, nhập khẩu. Bên cạnh đó, khi



29

thực hiện Hệ thống VNACCS/VCIS sẽ không phân biệt loại hình mậu dịch và

phi mậu dịch, sự khác nhau chủ yếu là về mặt chứng từ. Ngoài ra, một số loại

hình đặc thù như hàng hóa mang vào, mang ra của cư dân biên giới, hàng an

ninh quốc phòng, hàng trị giá thấp sẽ được thực hiện thủ công.

2.2 THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH THỰC HIỆN THỦ TỤC HẢI QUAN TẠI

TP ĐÀ NẴNG:

Trong những năm gần đây, Đà Nẵng liên tục đứng đầu về Chỉ số năng

lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), dẫn dầu bảng xếp hạng về hạ tầng kỹ thuật và

ứng dụng.Chỉ số PCI đã góp phần đưa Đà Nẵng trở thành điểm đến của nhiều

nhà đầu tư trong và ngồi nước. Chính vì vậy, trong những năm qua, số doanh

nghiệp, lượng hàng hoá xuất nhập khẩu ra vào Đà Nẵng tương đối lớn và

nhiều chủng loại nên địa bàn quản lý của Cục Hải quan TP Đà Nẵng khá rộng,

đối tượng quản lý phong phú, ngoài các cửa khẩu đường biển, đường khơng,

còn có các khu cơng nghiệp,vv…Do đó với định hướng phát triển chung của

ngành Hải quan, Cục Hải quan TP Đà Nẵng không ngừng đẩy mạnh cải cách

thủ tục hành chính, hiện đại hố hải quan, tạo thuận lợi tối đa cho doanh

nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, đầu tư, du lịch.

Hoạt động xuất khẩu qua địa bàn thành phố Đà Nẵng

Quy mô kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn TP Đà Nẵng liên tục tăng

trong giai đoạn 2010 - 2015 tuy tốc độ tăng có biến động. Theo số liệu của

Cục Hải quan TP Đà Nẵng, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2010 đạt

644,7 triệu USD, đến năm 2015 tăng lên đến 1.275,1 triệu USD. (khơng tính

kim ngạch đối với hàng hóa là tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, hàng hóa

tham dự hội chợ triển lãm)

Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng ngày càng tăng, từ 7 mặt hàng có

kim ngạch trên 10 triệu USD/năm từ năm 2010(Hàng thủy sản, nguyên liệu

thuốc lá, gỗ và sản phẩm gỗ, hàng dệt may, máy móc, thiết bị khác, hàng hóa

khác) tăng lên 13 mặt hàng năm 2015(Hàng thủy sản, nông sản, hóa chát và

sản phầm hóa chất, chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm, cao su và sản phẩm



30

cao su, gỗ và sản phẩm gỗ, bông và xơ, sợi dệt các loại, hàng dệt may, máy vi

tính, sản phẩm và linh kiện điện tử, máy móc thiết bị khác, linh kiện và phụ

tùng, tàu thuyền các loại, hàng hóa khác). Một số mặt hàng đạt kim ngạch

xuất khẩu cao chủ yếu là: Hàng dệt may năm 2010 là 101.29 triệu USD, đến

năm 2015 tăng đến 319.42 triệu USD. Hàng thủy sản năm 2010 là 81,5 triệu

USD, đến năm 2015 tăng đến 149.2 triệu USD.

Xuất khẩu đóng góp quan trọng vào giá trị của GDP của thành phố Đà

Nẵng. Cơ cấu xuất khẩu phân theo nhóm hàng chuyển dịch theo hướng tăng

giá trị các mặt hàng như Hàng thủy sản, nông sản, điện tử, máy móc thiết bị

phụ tùng, dệt may, da giày,vv.... Dệt may và thủy sản vẫn là hai nhóm hàng

chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu hàng xuất khẩu. Mặt dù quy mô xuất khẩu của

hai mặt hàng này tăng nhưng danh mục mặt hàng xuất khẩu mở rộng hơn đã

khiến cho tỉ trọng của các mặt hàng này giảm trong cơ cấu hàng xuất khẩu.

Hoạt động nhập khẩu qua địa bàn thành phố Đà Nẵng

Kim ngạch nhập khẩu qua địa bàn TP Đà Nẵng liên tục tăng trong giai

đoạn 2010 - 2015 tuy tốc độ tăng có biến động. Theo số liệu của Cục Hải

quan TP Đà Nẵng, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2010 đạt 1.544 triệu

USD, đến năm 2015 tăng lên đến 2.513,5 triệu USD.(không tính kim ngạch

đối với hàng hóa là tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, hàng hóa tham dự

hội chợ triển lãm)

Tương tự như xuất khẩu, tỉ trọng nhập khẩu của thành phố so với cả

nước đang có xu hướng ngày càng giảm đi. Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu

chuyển dịch theo hướng tăng giá trị hàng nhập khẩu là nguyên vật liệu may

mặc, hóa chất, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất, chất dẻo và sắt, thép,vv...

Trong xu hướng chung của quốc gia là nhập khẩu phục vụ tiêu dùng, tỉ trọng

nhập khẩu máy móc thiết bị của Đà Nẵng tăng từ 208 triệu USD từ năm 2010

lên đến 260 triệu USD năm 2015.

Bên cạnh kim ngạch xuất nhập khẩu ngày càng tăng thì loại hàng hóa

XNK ngày càng đa dạng, đồng thời doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ HỆ THỐNG THÔNG QUAN ĐIỆN TỬ VNACCS/VCIS

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×