Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 ĐẶC ĐIỂM SỰ SẴN SÀNG CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI SỬ DỤNG HỆ THỐNG THÔNG QUAN ĐIỆN TỬ VNACCS/VCIS:

3 ĐẶC ĐIỂM SỰ SẴN SÀNG CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI SỬ DỤNG HỆ THỐNG THÔNG QUAN ĐIỆN TỬ VNACCS/VCIS:

Tải bản đầy đủ - 0trang

21

được đảm bảo, giảm thủ tục hành chính, phần mềm khai báo có nhiều cải tiến

so với trước đây, giảm thời gian khai báo với các ứng dụng được hỗ trợ,

doanh nghiệp sẽ được cập nhật phiên bản phần mềm đăng ký tờ khai mới nhất

để thuận lợi trong việc khai báo, quản lý các giấy tờ liên quan bằng điện tử về

hàng hoá xuất nhập khẩu, được bên cung cấp phần mềm hỗ trợ nhiệt tình.

Mặc dù có được nhiều thuận tiện như vậy nhưng doanh nghiệp cũng e ngại về

hệ thống truyền dữ liệu bị sự cố sẽ ảnh hưởng đến việc thơng quan hàng hố,

việc thơng tin mua bán hàng hố có thể bị lộ ra ngồi, việc đăng ký và thơng

quan tờ khai có thể thực hiện tại nhà khơng cần phải xuất trình hồ sơ, không

phải tiếp xúc với cán bộ đăng ký tờ khai cũng như các cán bộ của cơ quan

chuyên ngành liên quan, họ e ngại sẽ dễ gặp khó khăn khi phát sinh vấn đề so

với việc giao tiếp trực tiếp với con người thay vì chỉ thơng qua máy móc. Việc

thay đổi này, doanh nghiệp phải chuẩn bị cho nhân viên tại công ty về kiến

thức pháp luật cũng như sử dụng phần mềm để đăng ký trên hệ thống, phần

mềm quản lý liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu, việc này đem lại cho

doanh nghiệp việc có thể tinh giản bộ máy điều hành liên quan đến xuất nhâp

khẩu, không cần phải quá nhiều người như trước đây, họ có thể quản lý nhân

viên mình chặt chẽ hơn. Với hệ thống mới quá nhiều tiêu chí khai báo, các

chính sách đi theo làm doanh nghiệp phải tăng khả năng quản lý về các mặt,

trước đây phải khai báo với cơ quan hải quan nên doanh nghiệp dễ kiểm soát

mọi việc hơn so với hiện nay việc quản lý đầu vào doanh nghiệp tự kê khai, tự

chịu trách nhiệm giúp giảm thiểu thủ tục hành chính nhưng doanh nghiệp phải

tự quản lý cho đúng với luật, nghị định liên quan để tránh bị vi phạm, nâng

cao quản lý mọi việc trong doanh nghiệp.

1.3.1. Các yếu tố cấu thành sự sẵn sàng công nghệ

Nghiên cứu về sự sẵn sàng công nghệ được triển khai nghiên cứu ở rất

nhiều lĩnh vực như ngân hàng, ... Tuy nhiên, tại các nước phát triển trên thế



22

giới cũng như Việt Nam, không nhiều những nghiên cứu định lượng được

triển khai nghiên cứu về sự sẵn sàng công nghệ. Theo nghiên cứu

Parasuraman (2000) đưa ra thì sẵn sàng cơng nghệ gồm bốn yếu tố cấu thành:

+ Sự lạc quan

+ Sự đổi mới

+ Không thuận tiện

+ Khơng an tồn

1.4. ĐO LƯỜNG SỰ SẴN SÀNG CƠNG NGHỆ

Có nhiều cách tiếp cận đo lường sự sẵn sàng công nghệ, tuy nhiên có thể

giới thiệu 2 cách tiếp cận thường gặp:

1.4.1. Chỉ số sẵn sàng công nghệ 1.0 (TRI 1.0)

Chỉ số sẵn sàng công nghệ phiên bản 1.0 gồm có 4 khía cạnh và 36 biến

được tác giả Parasuraman nghiên cứu và khảo sát vào năm 1999 với rất nhiều

lĩnh vực để đánh giá sẵn sàng công nghệ được định nghĩa như là khuynh

hướng của con người để nắm lấy và sử dụng công nghệ mới cho việc thực

hiện mục tiêu ở trong cuộc sống cũng như nơi làm việc được công bố cách

đây hơn một thập niên ( Parasuraman 2000,p.308). TRI được nêu ra trong tài

liệu về việc áp dụng công nghệ mới và tương tác giữa con người với cơng

nghệ. Như tóm tắt trong Parasuraman (2000), Mick và Fournier’s (1998) tập

trung chủ yếu nghiên cứu chất lượng bao quát của phản ứng của con người

đối với công nghệ, nhận ra tám nghịch lý công nghệ gồm tự do/ nơ dịch, đồng

hố/ cách ly, hiệu quả/ khơng hiệu quả) ngụ ý rằng cơng nghệ có thể kích hoạt

cảm xúc tích cực cũng như tiêu cực).

TRI 1.0 gồm 4 nhân tố: sự lạc quan, đổi mới, không thuận tiện và khơng

an tồn. Trong bốn khía cạnh thì sự lạc quan và sự đổi mới là nhân tố thúc

đẩy, đóng góp xây dựng nên sẵn sàng cơng nghệ, nhưng ngược lại khơng

thuận tiện và khơng an tồn lại kìm hãm và làm giảm sẵn sàng công nghệ.



23

1.4.2. Chỉ số sẵn sàng công nghệ 2.0 (TRI 2.0)

Chỉ số sẵn sàng công nghệ TRI 2.0 là phát triển dựa trên chỉ số sẵn sàng

công nghệ TRI 1.0.Với lý do tất yếu về việc phát triển cơng nghệ ngày càng

nhanh chóng,các nhà nghiên cứu nhận ra một số biến khơng còn phù hợp với

thực tại hiện nay nên đã tiến hành nghiên cứu và phát hiện một số biến mới

phù hợp hơn để đo lường đạt độ tin cậy cao. Họ tiến hành khảo sát dựa trên

36 biến của TRI 1.0 và 9 biến mới, ban đầu TRI 2.0 được điều tra với 45 biến.

Sau khi dùng các phần mềm và phân tích đánh giá thì chỉ số TRI 2.0 hiện giờ

chỉ gồm có 4 khía cạnh là lạc quan, đổi mới, khơng thuận tiện và khơng an

tồn, với TRI 1.0 có 36 biến thì TRI 2.0 chỉ còn 16 biến, trong 16 biến này thì

có 11 biến cũ của TRI 1.0 và 5 biến mới. TRI 2.0 dùng để đo lường sẵn sàng

công nghệ trong nhiều lĩnh vực, đối tượng và phù hợp với giai đoạn hiện nay.

1.4.3. Đánh giá chỉ số đo lường

Công nghệ tự thay đổi theo thời gian, thay đổi nhanh chóng với các lĩnh

vực cơng nghệ cao. Nhiều công nghệ mới hơn so với trước đây như điện thoại

thông minh, dịch vụ Internet không dây, truyền thông xã hội hội nghị trực

tuyến, ứng dụng điện toán đám mây thì có một nhu cầu được đặt ra các biến

của chỉ số sẵn sàng cơng nghệ TRI 1.0 có còn phù hợp với cơng nghệ hiện tại

khơng. Vì vậy các nhà nghiên cứu đã tiến hành đo lường lại các biến của TRI

1.0 trong thời điểm hiện nay thì phát hiện ra một số biến của TRI 1.0 khơng

còn phù hợp với hiện tại, một số biến tích cực chuyển sang tiêu cực vì TRI 1.0

được đo lường tại thời điểm năm 1999, khi đó cơng nghệ còn sơ khai và đơn

giản, các biến đó dùng cho hiện tại thì đã lỗi thời, lạc hậu. Hiện nay công

nghệ phát triển vơ cùng đa dạng và nhanh chóng như biến “ Tơi xem nó là

khơng an tồn để làm bất kỳ loại hình kinh doanh trực tuyến nào”, theo điều

tra của NTRs thì đa số đồng ý là 58 % vào năm 1999, 50 % vào năm 2004,

38% vào năm 2009 , có sự giảm sút thế này là vì dịch vụ tài chính trực tuyến



24

đang ngày càng phổ biến. Bên cạnh đó TRI 2.0 có độ tin cậy cao, phạm vi sử

dụng nhiều, ứng dụng rộng rãi hơn, với số biến đo lường ngắn hơn rất nhiều

so với TRI 1.0, điều này giúp việc điều tra giảm gánh nặng cho người điều tra,

chỉ số được đo lường chính xác hơn.



25



KẾT LUẬN CHƯƠNG 1



26

CHƯƠNG 2



THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

2.1 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ HỆ THỐNG THÔNG QUAN ĐIỆN TỬ

VNACCS/VCIS

Trước đây, khi muốn thơng quan một lơ hàng hố xuất nhập khẩu, các

doanh nghiệp phải mất vài ngày để đăng ký một tờ khai bằng hình thức thủ

cơng. Sau đó vào năm 2009, để giảm thiểu thời gian, ngành Hải quan đã sử

dụng Hải quan điện tử để đăng ký tờ khai, thời gian thông quan hàng được

giảm thiểu và thông quan trong ngày. Đến năm 2014, đánh dấu một bước

chuyển quan trọng trong ngành Hải quan khi Hải quan Việt Nam triển khai sử

dụng Hệ thống thông quan điện tử VNACCS/VCIS, giảm thiểu thời gian

thơng quan đến còn vài giây, kết nối Cơ chế một cửa với các ngành liên quan,

tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp.

Hệ thống VNACCS/VCIS là Hệ thống thông quan tự động và Cơ chế

một cửa quốc gia gồm 02 hệ thống nhỏ: (i) Hệ thống thông quan tự động (gọi

tắt là Hệ thống VNACCS); (ii) Hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin nghiệp vụ

(gọi tắt là Hệ thống VCIS). Hệ thống VNACCS/VCIS gồm các phần mềm

chủ yếu: Khai báo điện tử (e-Declaration); Manifest điện tử (e-Manifest);

Hóađơn điện tử (e-Invoice); Thanh tốn điện tử (e-Payment); C/O điện tử (eC/O); Phân luồng (selectivity); Quản lý hồ sơ rủi ro/tiêu chí rủi ro; Quản lý

doanh nghiệp XNK; Thơng quan và giải phóng hàng; Giám sát và kiểm sốt.

Hệ thống VNACCS là hệ thống thơng quan hàng hóa tự động của Việt

Nam (Tên tiếng Anh là Viet Nam Automated Cargo Clearance System).Hệ

thống VNACCS sử dụng cho mục đích thơng quan hàng hóa xuất nhập khẩu.

So với hệ thống hiện hành, Hệ thống VNACCS có điểm mới là tập trung

cả 03 khâu: Khâu trước, trong và sau thông quan. Hệ thống hiện tại chỉ tập

trung khâu trong và sau thơng quan. Tồn bộ khâu trước thơng quan hiện nay



27

mới chỉ được thực hiện thí điểm trong khn khổ Dự án E-manifest, theo đó,

hãng tàu phải gửi trước tồn bộ thơng tin manifest về hàng hóa trên tàu cho cơ

quan Hải quan.

So với hệ thống hiện hành, Hệ thống VNACCS mở rộng thêm các chức

năng, thủ tục mới, đó là thủ tục đăng ký danh mục miễn thuế, thủ tục áp dụng

chung cả hàng mậu dịch và phi mậu dịch, thủ tục đơn giản đối với hàng trị giá

thấp, quản lý hàng hóa tạm nhập - tái xuất.

Chức năng khác của Hệ thống VNACCS là tăng cường kết nối với các

Bộ, Ngành bằng cách áp dụng Cơ chế một cửa (Single Window). Theo thiết

kế, Hệ thống VNACCS có sự kết nối với các Bộ, Ngành.Cơ quan Hải quan sẽ

gửi thông tin liên quan đến việc xin cấp phép của các cơ quan chuyên

ngành.Kết quả xử lý cấp phép sẽ được thực hiện thông qua Hệ thống.

Tiếp nhận và xử lý phân luồng tự động thông tin khai báo của doanh

nghiệp.Hạn chế sử dụng hồ sơ giấy thông qua việc áp dụng chữ ký điện

tử.Thời gian xử lý đối với hàng luồng xanh là 1 - 3 giây.Thời gian xử lý đối

với luồng vàng và luồng đỏ phụ thuộc vào thời gian kiểm tra hồ sơ và kiểm

tra thực tế hàng hóa.

Hệ thống VNACCS kết nối với nhiều hệ thống cơng nghệ thông tin của

các bên liên quan như: doanh nghiệp kinh doanh kho bãi, cảng, dịch vụ, giao

nhận, vận chuyển, ngân hàng, các Bộ, Ngành liên quan.

Về khai báo và xử lý thông tin khai báo trước thông quan: trước thông

quan,hệ thống VNACCS hỗ trợ tập trung xử lý thông tin trước khi hàng

đến/khai báo để phục vụ cho công tác kiểm tra, giám sát hải quan tại các khâu

khai báo.

Một trong những nội dung thay đổi tương đối lớn của Hệ thống

VNACCS liênquan đến hàng gia công, sản xuất xuất khẩu và chế xuất. Khi áp

dụng Hệ thống VNACCS sẽ thực hiện theo hướng thanh khoản theo từng tờ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 ĐẶC ĐIỂM SỰ SẴN SÀNG CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI SỬ DỤNG HỆ THỐNG THÔNG QUAN ĐIỆN TỬ VNACCS/VCIS:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×