Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SẴN SÀNG CÔNG NGHỆ

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SẴN SÀNG CÔNG NGHỆ

Tải bản đầy đủ - 0trang

5

kinh doanh” (Điều 4.23, Luật Sở hữu trí tuệ). “Bí quyết kỹ thuật” thuộc tập

hợp “Bí mật kinh doanh”, vì đều là thông tin thu được từ hoạt động kinh

doanh, kết tinh của lao động bằng trí tuệ, có khả năng sử dụng được trong

kinh doanh và các lĩnh vực khác. Mặc dù “Bí quyết” và “Bí mật” cũng mang

hàm nghĩa tương đồng, là những thơng tin được giấu kín. Tuy nhiên, nội hàm

của “Bí quyết kỹ thuật” hẹp hơn “Bí mật kinh doanh”. Vì “Bí mật kinh

doanh” ngồi “Bí quyết kỹ thuật” tương ứng với các giải pháp kỹ thuật, còn

những bí quyết khác khơng phải kỹ thuật gắn với hoạt động trong quá trình tổ

chức sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ,

bên cạnh các đối tượng được bảo hộ buộc phải bộc lộ thơng tin thì “Bí mật

kinh doanh” là hình thức bảo hộ theo cơ chế đặc biệt, do chủ sở hữu tự bảo vệ

che giấu thông tin.

Trước đây, khi đề cập đến công nghệ, thông thường chúng ta bàn đến

lĩnh vực kỹ thuật. Nhưng nay, cơng nghệ còn bao hàm trong lĩnh vực dịch vụ

(có thể gắn với kỹ thuật hoặc khơng phải kỹ thuật), vì giải pháp trong lĩnh vực

dịch vụ cũng biến đổi nguồn lực thành sản phẩm (sản phẩm dịch vụ). Ví dụ,

cơng nghệ trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, ngân hàng, trong đó có những

cách thức, biện pháp huy động vốn, sử dụng vốn, nâng cao số lượng vòng

quay của vốn một cách hiệu quả. Đồng thời, công nghệ không chỉ dừng lại

trong lĩnh vực kỹ thuật, hay lĩnh vực kinh doanh. Về tổng thể, cơng nghệ có

thể xuất hiện trong mọi lĩnh vực kể cả lĩnh vực quân sự, an ninh quốc phòng

đến các hoạt động vui chơi, giải trí,… Câu chuyện truyền thuyết lịch sử

“Chiếc nỏ thần” của An Dương Vương, phải chăng đó chính là bí quyết –

cơng nghệ trong lĩnh vực quân sự trong những thời kỳ đầu dựng nước và giữ

nước hào hùng của dân tộc. Do vậy, nên chăng chúng ta nên dùng thuật ngữ

“Bí quyết” nói chung thay thế cho thuật ngữ “Bí quyết kỹ thuật”. Việc sử

dụng thuật ngữ “Bí quyết” sẽ bao quát hơn, phù hợp hơn với xu thế thời đại.



6

Đặc biệt nó sẽ bao hàm cả công nghệ trong các ngành dịch vụ đang đóng góp

60% – 70% GDP của thế giới[1].

Mặt khác, khi đề cập đến giải pháp, tức là cách thức hay phương tiện giải

quyết một vấn đề. Giải pháp giải quyết có thể bằng “sản phẩm” (tức là bằng

cơng cụ hay phương tiện vật chất cụ thể) hoặc có thể bằng “quy trình” (trình

tự sắp xếp, tổ chức cơng việc). Dưới góc độ về mặt tốn học, xét ở khía cạnh

tập hợp, thì “sản phẩm”, “quy trình” là hai tập hợp con của tập hợp “giải

pháp”. Có nghĩa là “giải pháp” bao hàm cả “sản phẩm” và “quy trình”. Cách

thức diễn giải của Nghị định số 13/2012/NĐ-CP ngày 02/3/2012 (Nghị định

13) và Thông tư số 18/2013/TT-BKHCN ngày 01/8/2013 (Thông tư 18), khi

đề cập đến sáng kiến, một loại hình cơng nghệ cũng đã tiếp cận theo hướng đề

cập trên. Theo Nghị định 13, Thông tư 1811, giải pháp sáng kiến bao gồm:

giải pháp kỹ thuật, giải pháp quản lý, giải pháp tác nghiệp, giải pháp ứng

dụng tiến bộ kỹ thuật (Điều 3.1, Nghị định 13). Trong đó, giải pháp kỹ thuật

là: “cách thức kỹ thuật, phương tiện kỹ thuật nhằm giải quyết một nhiệm vụ

(một vấn đề) xác định, bao gồm:a) Sản phẩm, dưới các dạng: Vật thể (ví dụ:

Dụng cụ, máy móc, thiết bị, linh kiện); chất(ví dụ: Vật liệu, chất liệu, thực

phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm); vật liệu sinh học (ví dụ: Chủng vi sinh, chế

phẩm sinh học, gen, thực vật, động vật biến đổi gen); hoặc giống cây trồng,

giống vật ni; b) Quy trình (ví dụ: Quy trình cơng nghệ; quy trình chẩn

đốn, dự báo, kiểm tra, xử lý, kỹ thuật chăn ni, trồng trọt; quy trình chẩn

đoán, chữa bệnh cho người, động vật và thực vật,…) (Điều 3.1, Thông tư 18).

Trở lại với khái niệm “công nghệ” của Luật CGCN, chúng ta thấy rằng:

khái niệm “công nghệ” của Luật CGCN rõ ràng chưa đầy đủ. Nó vừa thừa,

vừa thiếu, bởi lẽ khi đề cập “giải pháp” thì khơng nên liệt kê “quy trình” một

cách độc lập, song song, vì “quy trình” là tập hợp con của “giải pháp”. Nếu

muốn đề cập rõ nghĩa hơn,thì nên loại hẳn thuật ngữ “giải pháp”, bổ sung



7

thêm thuật ngữ “sản phẩm” vào nội dung diễn giải khái niệm “công nghệ”

hoặc sử dụng phương án thay thế khác sẽ được trình bày cụ thể trong nội

dung của bài viết dưới đây.

Trong một bài viết trình bày tại hội thảo về CGCN[2] cuối năm 2014, tác

giả Trần Văn Hải cũng có những phân tích, bình luận về vấn đề này [21]. Tác

giả Trần Văn Hải cho rằng công nghệ bao hàm vật thể, chất thể, quy trình.

Quy định của Luật CGCN (cơng nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ

thuật…) thì “khó có thể điều chỉnh được đối với trường hợp cơng nghệ có

kèm theo cơng cụ, phương tiện (cơng nghệ dạng sản phẩm) đối với các lần

chuyển giao tiếp theo cho cùng một chủ thể nhận chuyển giao” [21, tr.1].

Theo quan điểm của tác giả bài báo, tác giả Trần Văn Hải đã phát hiện được

điểm chưa phù hợp trong khái niệm “công nghệ” của Luật CGCN. Tuy nhiên,

phát hiện của tác giả Trần Văn Hải đúng nhưng chưa đủ. Lỗi logic trong khái

niệm “công nghệ” của Luật CGCN mới là ngun nhân chính của vấn đề. Vì

“quy trình” là một khái niệm mang tính chất độc lập, còn “sản phẩm” sẽ bao

hàm vật thể, chất thể, vật liệu sinh học, giống cây trồng, giống vật nuôi như

đã đề cập ở trên.

Trên cơ sở các luận giải và phân tích nêu trên, khái niệm công nghệ,

trong Luật CGCN cần được định nghĩa lại theo một trong các phương án sau

đây:

Phương án 1: “Cơng nghệ là giải pháp, bí quyết có kèm hoặc không kèm

công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”.

Nếu sử dụng phương án này, cần bổ sung thêm các khái niệm liên quan

đến giải pháp, gồm (1) các loại giải pháp (giải pháp kỹ thuật, giải pháp quản

lý, giải pháp tác nghiệp, giải pháp ứng dụng tiến bộ kỹ thuật[3]); (2) Nội hàm

của giải pháp (giải pháp bao gồm sản phẩm hoặc quy trình) như đã phân tích,

đề cập ở trên.



8

Phương án 2: “Cơng nghệ là sản phẩm, quy trình, bí quyết hoặc các giải

pháp khác có kèm hoặc khơng kèm cơng cụ, phương tiện dùng để biến đổi

nguồn lực thành sản phẩm”.

Phương án 3: “Công nghệ là vật thể, chất thể, vật liệu sinh học, giống

cây trồng, giống vật ni, quy trình, bí quyết, hoặc các giải pháp khác có kèm

hoặc khơng kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản

phẩm”.

(Trích từ Tạp chí Khoa học và Cơng nghệ Việt Nam số 22 năm 2014

đăng tải bài viết: “Luật chuyển giao công nghệ và những vướng mắc cần sửa

đổi” của tác giả Đỗ Thị Bích Ngọc – Bộ KH&CN, nêu lên những bất cập của

Luật chuyển giao công nghệ (CGCN) và hướng sửa đổi, bổ sung trong thời

gian tới.)

+Theo Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương

(ESCAP), định nghĩa cơng nghệ là:

Cơng nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế

biến vật liệu và thơng tin. Nó bao gồm kiến thức, thiết bị, phương pháp và các

hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ.

+ Theo K.Ramanathan, tồn tại một số quan niệm phổ biến về công

nghệ như sau:

“Công nghệ là máy biến đổi”. Với quan niệm này, công nghệ được thể

hiện ở hai khía cạnh. Thứ nhất, nó thể hiện xu hướng cho rằng khoa học và

công nghệ là một và phải được áp dụng đồng thời, và các nhà khoa học ứng

dụng cần tìm ra cách áp dụng vào thực tế các lý thuyết thuần túy. Thứ hai,

thuật ngữ “công nghệ” liên quan đến khả năng làm một cái gì đó, ngụ ý rằng

nó là những gì làm biến đổi yếu tố đầu vào thành sản phẩm đầu ra sau cùng.

Quan niệm như vậy đã nhấn mạnh không chỉ tầm quan trọng của công

nghệ trong việc giải quyết các vấn đề thực tế, mà còn nhấn mạnh sự phù hợp



9

của mục đích kinh tế trong việc áp dụng cơng nghệ. Tuy nhiên, những định

nghĩa này còn rất chung chung, không đủ cụ thể để mở ra chiếc “hộp đen

công nghệ”.

Công nghệ là “công cụ”. Với quan niệm này, cơng ngệ dựa trên nền

tảng là các máy móc thiết bị. Cách nhìn này vẫn còn phổ biến đến ngày nay,

măc dù một vài định nghĩa có nói đến sự tác động qua lại giữa máy móc và

con người.

Những định nghĩa dựa trên quan niệm “Công nghệ là công cụ” đã mở ra

phần nào chiếc hộp đen công nghệ, tuy nhiên nó vẫn còn thiếu sót. Tác giả

Simon đã nói trong cuốn sách “Technology Policy Formulation and Planning:

A Reference Manual” rằng: “Nhìn cơng nghệ ở khía cạnh máy móc và những

vật chất rõ ràng sai lầm giống như chỉ nhìn thấy cái vơ của con ốc sên, hay cái

mạng của con nhện vậy”.

Công nghệ là kiến thức cho rằng kiến thức là bản chất của tất cả các

phương tiện chuyển đổi. Những người ủng hộ quan niệm này cho rằng kiến

thức là khía cạnh quan trọng hàng đầu.

Những định nghĩa đi theo quan niệm này ngụ ý rằng kiến thức có thể

được phân loai thành “know-why” và “know-how”.”Know-why” là những

kiến thức khoa học thuần túy như các nguyên tắc liên quan đến vật lý và hiện

tượng xã hội. “Know-how” dựa trên kinh nghiệm và kinh nghiệm tăng lên

thông qua việc áp dụng “know-why” vào thực tế (phương pháp thử-sai, kinh

nghiệm, học hỏi từ chuyên gia)

Một trong những đóng góp chính của quan niệm này là giúp mở ra chi

tiết ơn “hộp đen công nghệ” bằng cách nhấn mạnh tầm quan trọng của kiến

thức và phác họa các dạng kiến thức cần thiết cho các hoạt động chuyển đổi.

Công nghệ là các hình thái biểu hiện cố gắng làm sáng tỏ những vấn đề

mà ba quan niệm trên gặp phải và cố mở ra hồn tồn chiếc hộp đen cơng



10

nghệ. Quan niệm này nhìn cơng nghệ theo những hình thái biểu hiện khác

nhau theo cách tiếp cận chiết trung, dựa trên những ý tưởng phát ra từ ba quan

niệm trên.

Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc khơng

kèm cơng cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.

Như trên ta đã thấy, việc xem xét cơng nghệ theo các hình thái bieur hiện

đã khắc phục những thiếu sót của các quan niệm khác và mở ra chiếc hộp đen

công nghệ một cách đầy đủ. Trong việc đánh giá trình độ cơng nghệ, cần thiết

phải có một cái nhìn đầy đủ và chi tiết về công nghệ và các thành tố của nó để

có thể khảo sát một cách đầy đủ và sát với thực tế nhất trình độ cơng nghệ của

các ngành cơng nghiệp, thì định nghĩa cơng nghệ của K.Ramanathan với bốn

thành phần Thiết bị, Con người, Thông tin và Tổ chức đã được lựa chọn để

xem xét bởi sự toàn diện và cụ thể so với định nghĩa khác.

Thành phần Thiết bị (Technoware): bao gồm các công cụ và các

phương tiện sản xuất thực hiện các hoạt động sản xuất để tạo ra các sản phẩm

mong muốn. Technoware bao gồm hệ thống biến đổi nguyên vật liệu và hệ

thống xử lý thơng tin.

• Hệ thống biến đổi ngun vật liệu thực hiện các hoạt động cơ học theo

thiết kế của máy móc thiết bị.

• Hệ thống xử lý thơng tin thực hiện một chuỗi kiểm sốt, có thể được

xây dựng một cách cục bộ hoặc hoàn toàn trong thành phần Thiết bị. Trong

một vài trường hợp, nó có thể khơng có trong thành phần này. Hệ thống gồm

ba giai đoạn: nhận biết – phân tích – xử lý.

Thành phần Con người (Humanware): là kỹ năng và kinh nghiệm sản

xuất biểu hiện về mặt con người của công nghệ. Tầm quan trọng của kỹ năng

dựa trên ba điều cơ bản:



11

• Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình sản xuất và là

nguồn gốc giá trị thị trường của các loại hàng hố.

• Con người có trí thơng minh (khơng như máy móc). Do đó, họ có khả

năng suy nghĩ, phân tích, sáng tạo và phát triển thông tin cần thiết để tạo ra sự

sung túc, giàu có.

• Năng suất lao động của con người có thể tăng hoặc giảm do môi trường

làm việc.

Thành phần Tổ chức (Orgaware): đề cập tới sự hỗ trợ về nguyên lý,

thực tiễn, và bố trí để vận hành hiệu quả việc sử dụng Technoware bởi

Humanware. Nó có thể được thể hiện thông qua các thuật ngữ như nội quy

công việc, tổ chức công việc, sự thuận tiện trong công việc, đánh giá công

việc và giảm nhẹ công việc.

Thành phần Thông tin (Inforware): biểu thị việc tích luỹ kiến thức bởi

con người. Dù có tổ chức tốt, “Con người” cũng khơng thể sử dụng “Máy

móc” hiệu quả nếu khơng có cơ sở “Thơng tin, tài liệu”. Inforware được chia

làm ba loại:

• Thơng tin chuyên về thiết bị: thông tin cần cho việc vận hành, bảo trì

và cải tiến.

• Thơng tin chun về con người: thông tin về những hiểu biết và đánh

giá về quy trình sản xuất và thiết bị được sử dụng.

• Thơng tin chun về tổ chức: thơng tin cần thiết để bảo đảm việc sử

dụng hiệu quả, sự tác động qua lại theo thời gian, và sự có sẵn của

Technoware và Humanware.

Bốn yếu tố này bổ sung cho nhau và tác động lẫn nhau. Chúng đòi hỏi

phải có mặt đồng thời trong hoạt động sản xuất và khơng có hoạt động chuyển

đổi nào có thể hồn thành nếu thiếu một trong bốn yếu tố.(Trích từ luận



12

văn:Sử dụng cơng cụ chuyển giao công nghệ trong nền kinh tế của tác giả

Nguyễn Thị Tuyết Băng)

1.1.2. Thành phần của công nghệ

Mỗi công nghệ đều bao gồm 4 thành phần chính:

Kỹ thuật (T): bao gồm các máy móc thiết bị. Thành phần kỹ thuật là cốt

lõi của bất kỳ công nghệ nào. Nhờ máy móc, thiết bị, phương tiện mà con

người tăng được sức mạnh cơ bắp và trí tuệ trong hoạt động sản xuất.

Con người (H): Bao gồm kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng do học hỏi,

tích luỹ được trong q trình hoạt động, nó cũng bao gồm các tố chất của con

người như tính sáng tạo, sự khơn ngoan, khả năng phối hợp, đạo đức lao động

Thông tin (I): Bao gồm các dữ liệu về phần kỹ thuật, về con người và tổ

chức. Các thơng số về đặc tính của thiết bị, số liệu về vận hành thiết bị, để

duy trì và bảo dưỡng, dữ liệu để nâng cao và dữ liệu để thiết kế các bộ phận

của phần kỹ thuật. Thành phần thông tin biểu hiện các tri thức được tích luỹ

trong cơng nghệ, nó giúp trả lời câu hỏi "làm cái gì" và "làm như thế nào".

Tổ chức (O).

1.2. SẴN SÀNG CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI SỬ DỤNG GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ

1.2.1. Sự sẵn sàng công nghệ

Sẵn sàng là sẵn sàng cho việc vận hành, sử dụng tại thời điểm hiện tại

hoặc tương lai

Theo suy nghĩ chủ quan của mỗi người thì sẵn sàng cơng nghệ được hiểu

là sẵn sàng cho việc vận hành, sử dụng công nghệ tại thời điểm hiện tại hoặc

tương lai, với định nghĩa về công nghệ nêu trên thì sẵn sàng cơng nghệ có thể

là sẵn sàng công cụ, sẵn sàng con người, sẵn sàng thiết bị, …

Sẵn sàng công nghệ là đề cập đến khuynh hướng của con người nắm lấy

và sử dụng công nghệ mới cho việc đạt được mục tiêu trong cuộc sống cũng

như cơng việc. Điều này có thể được xem như là cái suy nghĩ tổng quan về



13

yếu tố tinh thần cũng như thái độ quyết định đến việc sử dụng cơng nghệ mới

của con người. (Trích dẫn “An Updated and Streamlined Technology

Readiness Index: TRI 2.0, Parasuraman and Colby”)

1.2.2 Sẵn sàng công nghệ đối với giao dịch điện tử

Theo cách hiểu thông dụng nhất, mức độ sẵn sàng cho giao dịch điện tử

(e-readiness) được hiểu là những điều kiện đặc trưng của một quốc gia trong

q trình quốc gia đó tham gia vào nền kinh tế thông tin hay nền kinh tế số,

hoặc doanh nghiệp tham gia vào một hệ thống giao dịch nào đó. Các tiêu chí

thường được sử dụng để đánh giá bao gồm: cơ sở hạ tầng và công nghệ, mức

độ sử dụng internet, môi trường pháp lý, mơi trường kinh tế, mơi trường văn

hóa, xã hội, kỹ năng và nguồn nhân lực, định hướng phát triển v.v...Hiện nay,

đánh giá và nâng cao mức độ sẵn sàng cho giao dịch điện tử rất quan trọng

đối với hầu hết các nước trên thế giới. Các số liệu đánh giá đang trở thành nhu

cầu nóng và được sử dụng ngày một rộng rãi.

Xét trên góc độ tổng thể của quốc gia, có rất nhiều lý do để một đất nước

cần xác định mức độ sẵn sàng cũng như đưa ra các chiến lược nhằm cải thiện

mức độ sẵn sàng cho giao dịch điện tử, cụ thể là:

- Đánh giá và nâng cao mức độ sẵn sàng cho giao dịch điện tử, các

quốc gia có thể xác định rõ năng lực và trình độ hội nhập vào nền kinh tế số

đang diễn ra trên toàn cầu, tránh được mối đe dọa bị bỏ lại phía sau do chậm

tiến hay lạc hậu về công nghệ, nhất là ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực

thương mại.

- Đánh giá, công bố và nâng cao mức độ sẵn sàng cho giao dịch điện tử

và công nghệ thông tin giúp cho quốc gia thu hút thêm đầu tư, tăng cường vị

thế trên trường quốc tế. Hiện nay, nhiều tổ chức quốc tế, nhà tài trợ nước

ngoài và các tổ chức cho vay vốn đã và đang đưa khả năng phát triển về công

nghệ cũng như mức độ sẵn sàng cho giao dịch điện tử, công nghệ thơng tin



14

vào chương trình phát triển và xét duyệt viện trợ. Do đó, nâng cao mức độ sẵn

sàng cho giao dịch điện tử giúp cho quốc gia thu hút thêm được những nguồn

lực phục vụ cho sự phát triển của đất nước.

- Đánh giá và nâng cao mức độ sẵn sàng cho giao dịch điện tử là một

trong những yếu tố thúc đẩy tiếp cận nền kinh tế thông tin và xã hội thông tin,

khai thác các lợi thế rất lớn mà công nghệ thông tin mang lại đối với sự phát

triển kinh tế. Ứng dụng công nghệ thông tin và TMĐT giúp cho việc quản lý

nền kinh tế trở nên thông minh và hiệu quả hơn (theo mục tiêu SMART : đơn

giản - Simple, đạo đức - Moral, trách nhiệm - Accountable, tương tác –

Responsive và minh bạch - Transparent). Bên cạnh đó, nhờ có các tiện ích của

công nghệ thông tin, cuộc sống của người dân cũng trở nên thuận lợi, dễ dàng

hơn, hứa hẹn nhiều lợi ích xã hội và kinh tế tốt hơn.

- Đánh giá và nâng cao mức độ sẵn sàng cho giao dịch điện tử và cơng

nghệ thơng tin hiện đang được nhìn nhận là một vũ khí quan trọng trong q

trình đẩy mạnh tiến bộ xã hội trên thế giới. Khi được sử dụng đúng cách,

thông tin này cung cấp tiềm năng to lớn để trao quyền cho người dân trong

việc phát triển đất nước, vượt qua những trở ngại phát triển; giải quyết những

vấn đề quan trọng nhất xã hội phải đối mặt; thúc đẩy sự phát triển của các

cộng đồng, quyền dân chủ các tổ chức, tự do báo chí, và nền kinh tế các địa

phương.

Hiện nay, nhiều quốc gia và các tổ chức trên thế giới đã tiến hành nghiên

cứu, xây dựng các mơ hình và cơng cụ để phục vụ cho quá trình đo lường,

đánh giá mức độ sẵn sàng cho giao dịch điện tử. Hiện đã có những báo cáo

đánh giá mức độ sẵn sàng cho giao dịch điện tử của các quốc gia được thực

hiện và công bố thường niên. Dựa trên những quan điểm, mục đích phát triển

khác nhau mỗi tổ chức đánh giá xây dựng và sử dụng các công cụ đo lường,

các tiêu chuẩn đánh giá khác nhau. Do vậy, phương pháp tiếp cận, phương



15

pháp đánh giá mức độ sẵn sàng cho giao dịch điện tử trên thế giới rất đa dạng

và phong phú.

Phân loại các mơ hình đánh giá mức độ sẵn sàng cho giao dịch điện tử

Các mơ hình đánh giá có thể được phân loại theo quan điểm của các nhà

nghiên cứu hoặc theo các phương thức đánh giá dữ liệu, mục đích sử dụng kết

quả nghiên cứu.

Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu, mức độ sẵn sàng cho giao dịch

điện tử có thể được phân loại theo quan điểm đánh giá sự sẵn sàng của nền

kinh tế (economy readiness) hay theo quan điểm đánh giá sự sẵn sàng của

toàn xã hội (society readiness).

Theo quan điểm đánh giá sự sẵn sàng cho giao dịch điện tử của toàn xã

hội, các công cụ và chỉ tiêu đánh giá tập trung chủ yếu đến các khía cạnh xã

hội. Trong mơ hình đánh giá các tiêu chí biểu đạt sự sẵn sàng của cộng đồng

xã hội trong quá trình khai thác, tận dụng những ưu thế và lợi ích của CNTT

được chú trọng sử dụng. Ví dụ về mơ hình theo quan điểm này là: mơ hình

đánh giá sự sẵn sàng về giao dịch điện tử của Trung tâm nghiên cứu phát triển

(CID), trường Đại học Havard, Hoa Kỳ. Các tiêu chí đo lường thường liên

quan đến sự tiếp cận thông tin, giao dịch điện tử của các nhóm cộng đồng

trong xã hội, quyền của cá nhân, mật độ dân số v.v...

Theo quan điểm đánh giá sự sẵn sàng cho giao dịch điện tử của nền kinh

tế, các công cụ đánh giá tập trung vào sự sẵn sàng của nền kinh tế quốc gia

hay sự sẵn sàng của môi trường kinh doanh trong q trình ứng dụng cơng

nghệ thơng tin. Ví dụ điển hình về mơ hình theo quan điểm này là: mơ hình

đánh giá của Liên minh các hãng cơng nghệ và dịch vụ công nghệ thông tin

thế giới (WITSA), báo cáo đánh giá của diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á Thái

Bình Dương (APEC), mơ hình đánh giá mức độ phổ biến internet tồn cầu

của Mosaic. Các khía cạnh thường được đo lường là: số lượng hàng hóa và



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SẴN SÀNG CÔNG NGHỆ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×