Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
d. Động cơ pháp lý

d. Động cơ pháp lý

Tải bản đầy đủ - 0trang

16

thể sẽ thao tác để đáp ứng quy định. Hoặc quy định về thuế suất lợi nhuận

doanh nghiệp cũng có thể là động cơ gây ra hành vi quản trị lợi nhuận.

Nguyễn Thị Minh Trang [4] cũng cho thấy các doanh nghiệp khơng niêm yết

tại Việt Nam có xu hướng điều chỉnh giảm lợi nhuận để tiết kiệm chi phí thuế

lợi nhuận doanh nghiệp.

1.1.4. Một số kỹ thuật quản trị lợi nhuận

Tùy theo mục tiêu khác nhau của các nhà quản trị, có thể mục tiêu của

nhà quản trị là điều chỉnh lợi nhuận nhằm tiết kiệm thuế lợi nhuận doanh

nghiệp phải nộp, có thể mục tiêu của nhà quản trị là tăng lợi nhuận để thu hút

vốn đầu tư, bán cổ phiếu ra thị trường,...mà họ sẽ lựa chọn điều chỉnh giảm

hoặc tăng lợi nhuận Và ở nghiên cứu này thì mục tiêu chính là hành vi quản

trị lợi nhuận để tránh báo cáo lỗ hoặc tránh làm giảm lợi nhuận. Cụ thể các

nhà quản trị có thể lựa chọn một số các kỹ thuật điều chỉnh sau:

a. Vận dụng phương pháp kế toán:

- Tác động đến doanh thu, giá vốn

Chính sách tính giá thành sản phẩm và xác định sản phẩm dở dang: Lựa

chọn phương pháp tính giá thành sản phẩm và phương pháp đánh giá sản

phẩm dở dang có thể làm thay đổi giá thành, từ đó có thể điều chỉnh giá vốn

hàng bán.

+ Phương pháp tính giá thành sản phẩm: Việc lựa chọn phương pháp tính

giá thành sản phẩm và phương pháp ước tính giá trị sản phẩm dở dang có thể

làm thay đổi giá thành sản phẩm, dẫn tới có thể điều chỉnh giá vốn hàng bán.

Hiện tại theo Thông tư 200/TT-BTC [1] ngày 22/12/2014 Hướng dẫn chế độ

kế tốn doanh nghiệp (Thơng tư 200), phương pháp tính giá thành gồm những

phương pháp sau:

Phương pháp tỷ lệ: Phương pháp này áp dụng trong các doanh nghiệp

mà trong cùng một quá trình sản xuất, sử dụng một thứ nguyên liệu, thu được



17

nhóm sản phẩm cùng loại với kích cỡ, sản phẩm khác nhau. Đối tượng tập

hợp chi phí là tập hợp theo nhóm sản phẩm của tồn bộ quy trình cơng nghệ,

đối tượng tính giá thành là từng loại sản phẩm trong quy trình đó

Phương pháp định mức: Trong một doanh nghiệp, việc nắm rõ các yếu

tố cấu thành trong giá thành sẽ cho phép doanh nghiệp đề ra những biện pháp

tiết kiệm cụ thể, tìm ra các chốt quan trọng làm giảm năng suất chung của cả

dây chuyền sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ. Phương pháp định mức áp dụng

đối với các doanh nghiệp có quy trình sản xuất ổn định, đã xây dựng và quản

trị được định mức; và có trình tự tổ chức, tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá

thành của nhân viên kế toán tương đối vững. Nội dung của phương pháp này

là căn cứ vào định mức kinh tế kỹ thuật hiện hành và dự tốn chi phí sản xuất

chung để xác định giá thành định mức. Qua đó doanh nghiệp tập hợp chi phí

sản xuất trong phạm vi định mức cho phép.

Phương pháp hệ số: Tính giá thành theo phương pháp hệ số áp dụng với

những doanh nghiệp mà trong một chu kỳ sản xuất cùng sử dụng một loại vật

liệu và một lượng lao động nhưng thu được đồng thời nhiều sản phẩm khác

nhau và chi phí khơng tập hợp riêng cho từng sản phẩm. Cụ thể các bước tính

giá thành theo phương pháp này như sau: xác định giá thành đơn vị sản phẩm

tiêu chuẩn, quy đổi sản phẩm thu được của từng loại về sản phẩm tiêu chuẩn

theo các hệ số quy định, xác định giá thành của từng loại sản phẩm.

Phương pháp giản đơn: Hay còn gọi là phương pháp trực tiếp, đây là

phương pháp được áp dụng trong các doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất

giản đơn, số lượng mặt hàng ít, sản xuất với khối lượng lớn và chu kỳ sản

xuất ngắn như các nhà máy điện, nước, các doanh nghiệp khai thác tài nguyên

(khoáng sản, quặng, than, gỗ…). Đối tượng hạch tốn chi phí sản xuất trong

các doanh nghiệp này là từng loại sản phẩm hay dịch vụ

+ Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang



18

Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí sản xuất định mức: Theo

phương pháp này, kế toán căn cứ vào khối lượng sản phẩm dở dang đã kiểm

kê ở từng giai đoạn sản xuất, quy đổi theo mức độ hoàn thành của sản phẩm

và định mức khoản mục chi phí ở từng cơng đoạn tương ứng cho đơn vị sản

phẩm để tính ra chi phí định mức cho sản phẩm dở dang ở từng cơng đoạn,

sau đó tổng hợp cho từng loại sản phẩm.

Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu chính trực

tiếp: Phương pháp này được áp dụng thích hợp ở doanh nghiệp có quy trình

sản xuất giản đơn, chi phí nguyên vật liệu chính trực tiếp chiếm tỷ trọng lớn

trong tổng chi phí sản xuất, chi phí nguyên vật liệu phụ và cả chi phí chế biến

chiếm tỷ trọng không đáng kể. Theo phương pháp này, sản phẩm dở dang

cuối kỳ chỉ bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, còn các chi phí gia cơng

chế biến được tính cả cho sản phẩm hồn thành.

Đánh giá sản phẩm dở dang theo khối lượng sản phẩm hoàn thành

tương đương: Sản phẩm dở dang trong kỳ của doanh nghiệp áp dụng phương

pháp này phải chịu tồn bộ chi phí theo mức độ hồn thành, theo đó khi kiểm

kê sản phẩm dở dang người ta phải đánh giá mức độ hồn thành sau đó quy

đổi sản phẩm dở dang theo sản phẩm hồn thành tương đương.

- Chính sách tính giá trị hàng xuất kho:

Có 4 phương pháp tính giá trị hàng xuất kho (VAS 02) [2]: nhập trướcxuất trước, nhập sau-xuất trước, thực tế đích danh và bình qn gia quyền.

Lựa chọn phương pháp tính giá hàng xuất kho có thể làm thay đổi giá vốn

hàng bán trong kỳ.

Việc lựa chọn phương pháp xác định giá vốn hàng xuất kho sẽ ảnh

hưởng đến giá vốn hàng bán dẫn đến làm thay đổi lợi nhuận trong kỳ. Theo

VAS 02 [2], việc tính giá trị hàng tồn kho được áp dụng theo một trong các

phương pháp sau:



19

- Phương pháp tính theo giá đích danh:’’ Phương pháp tính theo giá đích

danh được áp dụng đối với doanh nghiệp có ít loại mặt hàng hoặc mặt hàng

ổn định và nhận diện được’’. Theo phương pháp này, sản phẩm, vật tư, hàng

hóa xuất kho thuộc lơ hàng nhập nào thì lấy đơn giá nhập kho của lơ hàng đó

để tính.

- Phương pháp bình qn gia quyền: ‘’Giá trị của từng loại hàng tồn kho

được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho tương tự đầu kỳ

và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ. Giá trị

trung bình có thể được tính theo thời kỳ hoặc vào mỗi khi nhập một lô hàng

về, phụ thuộc và tình hình của doanh nghiệp’’. Theo phương pháp này giá

xuất kho hàng hóa được tính theo đơn giá bình qn gồm có bình qn dự trữ

cả kỳ, bình qn dự trữ cuối kỳ trước, bình quân sau mỗi lần nhập.

- Phương pháp nhập trước, xuất trước: ‘’áp dụng dựa trên giả định là

hàng tồn kho được mua trước hoặc sản xuất trước thì được xuất trước, và

hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất gần thời

điểm cuối kỳ. Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo

giá của lô hàng nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của hàng

tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần

cuối kỳ còn tồn kho’’. Phương pháp này thường được áp dụng với các doanh

nghiệp kinh doanh về thuốc, mỹ phẩm. Theo đó phương pháp này làm cho

doanh thu hiện tại không phù hợp với những khoản chi phí hiện tại. Doanh

thu hiện tại được tạo ra bởi giá trị sản phẩm, vật tư, hàng hóa đã có từ cách đó

rất lâu.

- Phương pháp nhập sau, xuất trước: Phương pháp này ngược với

phương pháp trên và thường được doanh nghiệp áp dụng trong giai đoạn lạm

phát.

- Chính sách về thanh lý TSCĐ:



20

Lựa chọn thời điểm mua, thanh lý TSCĐ có thể điều chỉnh doanh thu,

chi phí.

Ghi nhận TSCĐ

Việc xác định một tài sản có được ghi nhận là TSCĐ hay một khoản chi

phí trong doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ kế toán. Theo

VAS 03 [2], một tài sản được ghi nhận là TSCĐ hữu hình phải thỏa mãn tất cả

bốn (04) tiêu chuẩn sau: một là, chắc chắn thu được lợi ích kinh tế tương lai

từ việc sử dụng tài sản đó. Hai là, nguyên giá tài sản phải được xác định một

cách tin cậy. Ba là, thời gian sử dụng ước tính trên một năm. Bốn là, có đủ

tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành. Việc ghi nhận một tài sản là TSCĐ

vơ hình theo VAS 04 phải dựa vào các yếu tố sau: tính có thể xác định được,

khả năng kiểm sốt và lợi ích kinh tế trong tương lai.

Chính sách khấu hao TSCĐ

Nhà quản trị có thể lựa chọn phương pháp khấu hao cũng như ước tính

thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ, qua đó ảnh hưởng tới giá trị khấu hao

cần trích lập. Điều này dẫn tới ảnh hướng tới chi phí ghi nhận trong kỳ và ảnh

hưởng tới lợi nhuận trong kỳ kế toán. Hiện tại việc trích khấu hao TSCĐ

trong doanh nghiệp đang được điều chỉnh bởi Thông tư 45/2013/TT-BTC

Hướng dẫn chế độ quản trị, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định và

Thông tư 147/2016/TT-BTC Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thơng tư 45.

Theo đó doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong các phương pháp trích khấu

hao như sau: một là, phương pháp khấu hao đường thẳng. Hai là, phương

pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh. Ba là, phương pháp khấu

hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm.

Ghi nhận chi phí sửa chữa TSCĐ

Vấn đề xác định sửa chữa TSCĐ là sửa chữa lớn hay sửa chữa nhỏ, sửa

chữa nâng cấp, số kỳ phân bổ chi phí sửa chữa và ước tính mức trích trước chi



21

phí sửa chữa lớn TSCĐ sẽ ảnh hướng tới chi phí dẫn đến ảnh hướng tới lợi

nhuận kế tốn trong kỳ. Việc hướng dẫn hạch tốn các khoản chi phí này

được điều chỉnh bởi Thông tư 45.

Lựa chọn thời điểm đầu tư hay thanh lý TSCĐ

Nhà quản trị có thể lựa chọn thời điểm đầu tư hoặc thanh lý TSCĐ từ đó

gây ảnh hướng tới chi phí (đầu tư) hoặc doanh thu (thanh lý) từ đó ảnh hưởng

đến lợi nhuận trong kỳ kế tốn.

b. Tác động đến chi phí

- Chính sách lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho: Nhà quản trị có thể

thay đổi giá bán và chi phí ước tính để thay đổi mức lập dự phòng, điều chỉnh

chi phí trong kỳ. Doanh nghiệp thực hiện ước tính mức trích lập dự phòng

giảm giá hàng tồn kho theo ý chí chủ quan của nhà quản trị, từ đó sẽ ảnh

hưởng tới chi phí dẫn tới ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ.

- Chính sách kế tốn về chi phí vốn vay: Việc doanh nghiệp xác định

khoản chi phí đi vay nào được vốn hóa trong kỳ, ghi nhận vào chi phí sản

xuất kinh doanh hay thời điểm vốn hóa, tạm ngừng vốn hóa và chấm dứt vốn

hóa có thể làm ảnh hưởng tới chi phí dẫn đến ảnh hưởng tới lợi nhuận kế tốn

của doanh nghiệp.

- Chính sách lập dự phòng nợ phải thu khó đòi: Việc lập dự phòng nợ

phải thu khó đòi dựa trên mức dự kiến tổn thất đối với những khoản nợ chưa

đến hạn. Nhà quản trị có thể điều chỉnh chi phí thơng qua trích lập dự phòng

nợ phải thu khó đòi dựa trên mức độ tổn thất dự kiến, tuổi nợ…

Dự phòng phải thu khó đòi là những khoản dự phòng phần giá trị các

khoản nợ phải thu và các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn khác có bản

chất tương tự khó có khả năng thu hồi. Qua đó, nhà quản trị có thể dựa vào ý

kiến chủ quan của mình để dự kiến mức trích lập dự phòng, đưa ra các quyết



22

định như xử lý xóa nợ, hỗn xử lý nợ quá hạn v.v..gây ảnh hưởng tới chi phí

từ đó ảnh hưởng tới lợi nhuận trong kỳ kế tốn.

- Chính sách lập dự phòng giảm giá đầu tư tài chính: Mức trích lập dự

phòng có thể được điều chỉnh ít hơn mức cần thiết hoặc nâng mức trích lập để

điều chỉnh việc ghi nhận chi phí trích lập dự phòng.

- Chính sách phân bổ chi phí trả trước: Đối với các chi phí cần phân bổ

qua nhiều kỳ, nhà quản trị có thể lựa chọn số kỳ phân bổ để điều chỉnh chi phí

từng kỳ. Chi phí trả trước là các chi phí thực tế đã phát sinh, nhưng chưa tính

vào chi phí sản xuất, kinh doanh của kỳ phát sinh trong doanh nghiệp. Nhà

quản trị hoàn toàn có thể lực chọn mức phân bổ chi phí cho từng kỳ, số kỳ

phân bổ dự kiến. Vì vậy doanh nghiệp có thể chủ động tăng giảm chi phí của

từng kỳ bằng cách xác định thời gian phân bổ ngắn hay dài trong khoảng thời

gian cho phép. Do đó ảnh hưởng tới lợi nhuận của kỳ kế tốn.

- Chính sách về trích trước chi phí: Chế độ kế tốn cho phép các cơng ty

được tính trước và hạch tốn và chi phí chưa phát sinh vào chi phí sản xuất

kinh doanh trong kỳ khi có sở, được tính tốn chặt chẽ nhằm khơng gây phát

sinh đột biến cho chi phí sản xuất kinh doanh. Chi phí trả trước như lương,

chi phí sửa chữa lớn TSCĐ, chi phí doanh nghiệp sản xuất theo mùa vụ

v.v..Nhà quản trị có thể điều chỉnh chi phí thơng qua việc lựa chọn mức trích

trước, hồn nhập.

b. Các kỹ thuật điều chỉnh lợi nhuận khác

Thông qua chính sách giá và tín dụng thương mại: Một biện pháp các

DN thường sử dụng để tăng lợi nhuận khi thấy có nguy cơ khơng đạt kế hoạch

đặt ra là giảm giá bán hoặc nới lỏng chính sách bán chịu, nhằm tăng lượng hàng

bán ra trong những tháng cuối năm tài chính hoặc doanh nghiệp có thể sử dụng

chính sách giá buộc khách hàng tự nguyện tăng doanh số trong kỳ bằng việc



23

thông báo sẽ tăng giá vào đầu năm sau. Khách hàng sẽ phản ứng lại bằng việc

sẵn sàng mua sản phẩm của doanh nghiệp để chờ tăng giá. Hay doanh nghiệp

sẵn sàng nới lỏng hạn mức tín dụng để tăng kích thích mua hàng làm tăng sản

lượng. Việc nới lỏng mức tín dụng có thể đẩy doanh nghiệp vào tình thế khó

khăn khi có q nhiều khoản nợ phải thu và có thể sẽ làm phát sinh nhiều khoản

nợ phải thu khó đòi gây thiệt hại cho doanh nghiệp.

Cắt giảm các chi phí hữu ích: Cắt giảm một số chi phí khơng cần thiết

như chi phí nghiên cứu và phát triển, chi phí quảng cáo, chi phí bảo dưỡng

thiết bị cũng là một cách có thể làm tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, vì các chi phí

này có vai trò cực kì quan trọng đối với sự phát triển của DN về lâu dài, nên

sử dụng giải pháp này cũng đồng nghĩa với việc hy sinh các khoản lợi nhuận

tiềm năng trong tương lai.

Làm giảm chi phí bằng cách “vốn hóa”: Việc xác định thời điểm bắt

đầu vốn hóa, thời điểm tạm ngừng vốn hóa, thời điểm chấm dứt việc vốn hóa

cũng có ảnh hưởng khơng nhỏ đến chỉ tiêu lợi nhuận.

Trước sự hấp dẫn của những lợi ích ngắn hạn, các DN thường có xu

hướng điều chỉnh lợi nhuận lệch so với thực tế. Điều này gây khó khăn cho

các đối tượng sử dụng thơng tin kế tốn. Đặc biệt, trong sự phát triển của thị

trường chứng khoán, để thu hút các nhà đầu tư, các DN thường dùng các kỹ

thuật để điều chỉnh lợi nhuận, biến lỗ thành lãi, lãi ít thành lãi nhiều. Bài báo

này đã trình bày một cách tổng quát các kỹ thuật mà NQT vận dụng, để có thể

điều chỉnh lợi nhuận.

1.1.5. Một số mơ hình nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận

Cơ sở của hành vi quản trị lợi nhuận là kế tốn theo cơ sở dồn tích. Kế

tốn cơ sở dồn tích là một trong các ngun tắc kế tốn cơ bản nhất chi phối

các phương pháp kế toán cụ thể trong kế tốn doanh nghiệp. Theo đó, mọi

giao dịch kinh tế liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu,



24

doanh thu và chi phí được ghi nhận tại thời điểm phát sinh giao dịch, không

quan tâm đến thời điểm thực tế thu tiền hoặc chi tiền (Chuẩn mực kế toán số

01, 2002) [2]. Về ghi nhận doanh thu và chi phí có ảnh hưởng quyết định đến

báo cáo lợi nhuận của DN trong một kỳ, cơ sở dồn tích được xem là nguyên

tắc chính yếu đối với xác định lợi nhuận của doanh nghiệp. Lợi nhuận theo cơ

sở dồn tích là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí; từ đó, BCTC nói

chung và BCKQKD nói riêng phải được lập trên cơ sở dồn tích. Khoản dồn

tích xuất hiện là do có một độ vênh giữa lợi nhuận kế tốn trình bày trên

BCKQHĐKD và lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD do áp dụng 2 cơ sở kế tốn

khác nhau là cơ sở dồn tích và cơ sở tiền. Khoản dồn tích trong lợi nhuận

(TA) được tính bằng cách lấy tổng lợi nhuận kế tốn sau thuế trừ dòng tiền

thuần HĐKD:

TA = Lợi nhuận sau thuế - Dòng tiền thuần HĐKD

Tuy nhiên, khơng thể sử dụng biến TA để đo lường mức độ điều chỉnh

lợi nhuận một cách trực tiếp do trong đó có các khoản dồn tích phù hợp với

tình hình kinh doanh thực tế của doanh nghiệp như các khoản doanh thu bán

chịu trong kỳ, các khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá

hàng tồn kho, các khoản chi phí phải trả được trích lập đúng qui định.

Theo đó, ta có:

Tổng dồn tích

(TA)

Trong đó:



Dồn tích có



Dồn tích khơng

=



điều chỉnh



+



điều chỉnh



(NDA)

(DA)

Dồn tích khơng điều chỉnh (NDA) phản ánh điều kiện kinh doanh cụ thể

của từng đơn vị do đó khơng bị điều chỉnh bởi nhà quản trị, ví dụ như độ dài

của chu kì kinh doanh, chu kỳ sống của sản phẩm.

Dồn tích có điều chỉnh (DA) thì nhà quản trị có thể điều chỉnh thơng qua

việc lựa chọn chính sách kế toán hay tác động vào nghiệp vụ kinh tế phát sinh



25

Suy ra DA = TA - NDA

Do đó, để xác định DA ta phải ước lượng NDA

Trên đây, là một số mơ hình nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận.

a. Mơ hình dồn tích có điều chỉnh của DeAnglo (1986)

Mơ hình của DeAngelo [15] giả định rằng các thành phần biến kế tốn

khơng thể điều chỉnh (NDA) thời kỳ t là ngẫu nhiên và bằng với số biến kế

tốn dồn tích (TA) của thời kỳ t-1, do dó tác giả cho rằng sự thay đổi trong

tổng số biến kế tốn dồn tích (TA) giữa thời kỳ t và t-1 có thể xuất phát từ

hành vi diều chỉnh lợi nhuận.

Biến kế tốn



Biến kế tốn

=



có thể điều

= chỉnh

=

(DAt)

Biến kế tốn

dồn tích (TA)



=



Biến kế tốn dồn

+



dồn tích năm

t-(TAt)

Lợi nhuận sau

thuế



tích năm t-1 (TAt)



1



-



Dòng tiền thuần

từ HĐKD



Theo DeAngelo [15], phần kế tốn có thể điều chỉnh (DA) hay sự thay

đổi số biến kế tốn dồn tích chính là phần lợi nhuận do nhà quản trị điều

chỉnh. Nói cách khác, DA≠0 tương đương với có hiện tượng gian lận . Tuy

nhiên mơ hình của DeAngele chỉ đúng trong trường hợp giả định, tức biến kế

tốn khơng thể điều chỉnh (NDA) của năm t ngẫu nhiên và bằng với số biến

kế toán dồn tích (TA) của năm t-1. Trường hợp cơng ty đang trong giai đoạn

tăng trưởng, biến kế tốn khơng thể điều chỉnh sẽ thay đổi liên tục từ năm này

qua năm khác khơng thể áp dụng mơ hình DeAngele (1986).

b. Mơ hình dồn tích có điều chỉnh của Friedlan (1994)

Mơ hình Friedlan [24] ra đời đã khắc phục được nhược điểm của mơ

hình DeAngele [15]. Friedlan[24] giả định sự thay đổi trong tổng số trích

trước giữa hai kỳ kế tốn là do sự ảnh hưởng của hai nhân tố: (1) sự thay đổi



26

do tăng trưởng và (2) sự thay đổi do lựa chọn kế tốn của tổ chức phát triển.

Mơ hình như sau:

Biến kế tốn



Biến kế tốn



có thể điều



dồn tích t (TAt)

+

Doanh thu t



=



chỉnh (DAt)



Biến kế tốn dồn

tích t - 1 (TAt – 1)

Doanh thu t



Theo Friedlan [24] phần biến kế tốn có thể điều chỉnh (DA) chính là lợi

nhuận được điều chỉnh . Tùy thuộc vào kết quả tính tốn DA nhỏ hơn, lớn hơn

hoặc bằng 0 để đưa ra kết luận về hành vi điều chỉnh lợi nhuận của cơng ty.

c. Mơ hình của Healy (1985)

Theo cách tiếp cận của Healy [32], phần khơng thể điều chỉnh chính là

trung bình tổng biến dồn tích của các năm trước

∑t

NDAit =

DAit



=



TAit

Ait -1

n



TAit

Ait -1



- NDAit



Trong đó:

n: số năm trong kỳ tính tốn

t: năm nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận

i: công ty thứ i trong nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận.

Trong nghiên cứu Healy [32] cho rằng khi khơng có hành động điều

chỉnh của nhà quản trị, biến dồn tích có thể điều chỉnh có giá trị bằng khơng

(DA= 0), tương ứng tổng biến kế tốn dồn tích bằng biến kế tốn khơng thể

điều chỉnh (TA= NDA) và NDA không đổi từ năm này qua năm khác. Ngược

lại, DA ≠ 0 và NDA thay đổi qua các năm đồng nghĩa với nghi ngờ có sai

phạm báo cáo tài chính.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

d. Động cơ pháp lý

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×