Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN NHẰM TRÁNH BÁO CÁO LỖ HOẶC GIẢM

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN NHẰM TRÁNH BÁO CÁO LỖ HOẶC GIẢM

Tải bản đầy đủ - 0trang

9

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN

1.1.1. Khái niệm về quản trị lợi nhuận

Hành vi quản trị lợi nhuận đã trở thành một lĩnh vực được nghiên cứu

sâu rộng trên thế giới. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa thống

nhất về hành vi quản trị lợi nhuận. Các nhà nghiên cứu thường phát triển định

nghĩa riêng của họ về hành vi quản trị lợi nhuận để phù hợp với mục đích của

họ [42].

Quản trị lợi nhuận (earning management - EM) là sự điều chỉnh lợi

nhuận để đạt được mục tiêu đã đặt ra trước đó của nhà quản trị [7]. Nó là

“một sự can thiệp có tính tốn kỹ lưỡng trong q trình cung cấp thơng tin tài

chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân” . Levitt [8] định nghĩa quản trị

lợi nhuận là một mảng tối mà ở đó, kế toán bị làm sai do nhà quản trị đã “cắt

gọt” các khía cạnh của nó. Vì vậy, báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh mong

muốn của nhà quản trị hơn là phản ánh tình hình tài chính thực của doanh

nghiệp. Các định nghĩa trên đưa ra khái niệm nhưng có phần nhấn mạnh thái

quá đến mặt tiêu cực của quản trị lợi nhuận nên đã được thay thế dần bởi một

quan điểm toàn diện hơn của Haely & Wahlen [33] như sau:

“ Hành vi quản trị lợi nhuận xuất hiện khi các nhà quản trị sử dụng các

xét đốn khi lập và trình bày báo cáo tài chính hoặc thay đổi cấu trúc các

nghiệp vụ kinh tế trong hoạt động của doanh nghiệp nhằm làm cho các đối

tượng sử dụng thông tin trên BCTC hiểu sai về hiệu quả kinh doanh của công

ty hoặc tác động đến các hợp đồng mà có cam kết dựa trên chỉ tiêu lợi nhuận

kế toán”.

Theo Carmen Joosten [13], lợi nhuận bao gồm dòng tiền từ hoạt động và

dòng tiền tích lũy, ban giám đốc cơng ty có 2 phương thức để điều chỉnh lợi

nhuận:

+ Điều chỉnh lợi nhuận bằng các giao dịch thực (Real earning



10

management): Cơng ty có thể điều chỉnh lợi nhuận thông qua những chỉnh

sửa từ hoạt động kinh doanh bình thường, vì vậy dòng tiền từ hoạt động kinh

doanh có thể bị ảnh hưởng. Những chỉnh sửa từ hoạt động kinh doanh bình

thường để điều chỉnh BCKQHĐKD này được gọi là điều chỉnh lợi nhuận

bằng các giao dịch thực (REM) [50].

+ Điều chỉnh lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích (Accrual-based earning

management): Cơng ty có thể thay đổi mức độ dồn tích để có được lợi nhuận

như mong muốn. Việc ban giám đốc sử dụng các ước tính để lập BCTC được

gọi là điều chỉnh lợi nhuận trên cơ sở ước tính (AEM) [33]. Ở Việt Nam, thuật

ngữ Earning Management (EM) được dịch ra với nhiều cách khác nhau như:

điều chỉnh lợi nhuận, quản trị lợi nhuận… Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là

những nghiên cứu của Việt Nam về EM thường đi theo hướng tiêu cực như

những phương pháp để “làm đẹp” BCTC hay “những thủ thuật phù phép

BCTC”. Như vậy, quản trị lợi nhuận đã trình bày ở trên chúng ta có thể thấy

được những đặc điểm chung trong các khái niệm về quản trị lợi nhuận như sau:

- Là hành vi phụ thuộc vào quyết định có chủ ý của nhà quản trị.

- Là sự can thiệp của nhà quản trị làm thay đổi các thơng tin trên báo cáo

tài chính.

- Là sự cơng bố thơng tin liên quan đến các thời điểm trình bày báo cáo.

1.1.2. Các lý thuyết nền tảng của hành vi quản trị lợi nhuận

a. Lý thuyết đại diện

Lý thuyết đại diện được hiểu là một mối quan hệ hợp đồng giữa một

hoặc nhiều người (bên ủy quyền - principals) với một người khác (bên đại

diện - agency) để thực hiện một số cơng việc, và do đó đã chuyển quyền ra

các quyết định cho người đại diện [29]. Mối quan hệ giữa bên ủy quyền và

bên đại diện xuất hiện trong công ty đại chúng là giữa chủ sở hữu và nhà quản

trị [41].



11

Lý thuyết đại diện cho rằng nhà quản trị có thể đưa ra các quyết định

nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích cá nhân của mình thay vì tối đa hóa giá trị

doanh nghiệp. Hành vi tư lợi cá nhân của nhà quản trị còn bao gồm cả việc

tiêu thụ một số nguồn lực của doanh nghiệp dưới hình thức bổng lộc và tránh

các nguy cơ rủi ro, theo đó các nhà quản trị sợ rủi ro sẽ bỏ qua các cơ hội

mang lại lợi nhuận mà trong đó các cổ đơng của cơng ty sẽ thích họ đầu tư.

Như vậy, hành vi tư lợi xảy ra khi có sự tách biệt về quyền sở hữu và

quyền kiểm sốt hay chính là do mâu thuẫn lợi ích giữa các nhà quản trị và

các cổ đơng. Nhà quản trị có thể có nhiều động lực để thực hiện hành vi quản

trị lợi nhuận nhằm đạt được một mục tiêu nào đó. Đối với các DN niêm yết,

mối quan hệ giữa cổ đông, NQL và nhà đầu tư luôn là mối quan hệ chủ đạo

trong hoạt động của DN. Đối với cổ đông, NQL được giao những trách nhiệm

phải hoàn thành, cụ thể hoàn thành các chỉ tiêu kinh doanh, trong đó, quan

trọng nhất là chỉ tiêu về lợi nhuận tạo ra áp lực lớn mà có thể khiến cho NQL

thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận khi lợi nhuận không đạt được như kỳ

vọng. Bên cạnh đó, DN một khi đã niêm yết tức là mong muốn có được cơ

hội tiếp cận các nguồn vốn từ thị trường một cách dễ dàng hơn. Để có thể

thuyết phục được nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư DN phải chứng minh được triển

vọng về lợi nhuận trong tương lai của DN. Đây cũng là một động lực lớn thúc

đẩy NQL DN có hành vi quản trị lợi nhuận nhằm mục tiêu huy động vốn với

chi phí vốn thấp hơn. Đối với nhóm ngành mang tính thời vụ như ngành xây

dựng, thị trường khơng ổn định thì lợi nhuận có thể giảm mạnh hoặc rơi vào

tình trạng báo động lỗ. Lúc này NQL có thể thực hiện quản trị lợi nhuận để

tránh tình trạng báo lỗ hoặc tránh lợi nhuận giảm để còn chỗ đứng trên thị

trường chứng khốn. Vì vậy, để giảm thiểu hành vi này các cổ đơng nên gắn

kết NQL với lợi ích chung của cổ đông và doanh nghiệp. Hay các cổ đông nên

gánh chịu thêm chi phí đại diện (agency cost) như là thưởng cho NQL. Tuy



12

nhiên, vấn đề chi phí đại diện như lương, thưởng có thể là con dao hai lưỡi.

Khi các cổ đơng gánh chịu chi phí đại diện dựa trên kết quả hoạt động kinh

doanh thì các nhà quản trị sẽ cố gắng đạt được kết quả kinh doanh tốt với

mong muốn nhận được lợi ích từ đó. Nếu khơng thể điều hành tốt có thể NQL

sẽ sử dụng các thủ thuật để đạt được mong muốn cá nhân.

b. Lý thuyết tín hiệu

Vào năm 1973, Spence là người tiên phong cho ra đời lý thuyết tín hiệu,

theo lý thuyết này, khi có sự tồn tại của thơng tin bất cân xứng, lý thuyết tín

hiệu đưa ra một trạng thái cân bằng trong đó đối tượng có lợi thế về thơng tin

tốt hơn nên cung cấp một số tín hiệu cho các đối tượng khác. Áp dụng lý

thuyết tín hiệu trong thị trường tài chính sự bất cân xứng thơng tin có thể xuất

hiện giữa nhà quản lý và các cổ đơng, chủ nợ … Khi đó, theo lý thuyết tín

hiệu, nhà quản trị cần cung cấp thơng tin, tín hiệu cho thị trường để các đối

tượng đánh giá đúng về thực trạng kinh tế của doanh nghiệp.

Lý thuyết tín hiệu cho rằng các quyết định tài chính của cơng ty là các

dấu hiệu được gửi đi bởi các nhà quản lý cho các nhà đầu tư để xem xét

những thông tin phản hồi và dấu hiệu này là nền tảng cho chính sách

truyền thơng tài chính. Lý thuyết tín hiệu giả định rằng các cơng ty

có kết quả hoạt động tốt thường sử dụng thơng tin tài chính như là một cơng

cụ truyền tín hiệu đến thị trường. Do vậy, nhà quản lý có thể có hành vi quản

trị lợi nhuận nhằm đưa ra tín hiệu tốt đên nhà đầu tư trong từng trường hợp cụ

thể.

Đối tượng NQL hướng đến khi thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận chính

là những NĐT. Khi NĐT an tâm từ những tín hiệu tốt mà công ty đưa ra, tỷ suất

sinh lợi của cổ phiếu trong tương lai sẽ lớn hơn do những dự đốn từ những tín

hiệu tốt mà nhà quản lý truyền đạt thông qua chỉ tiêu lợi nhuận tốt.

c. Lý thuyết chi phí giao dịch (Transaction-cost theory)



13

Lý thuyết chi phí giao dịch cung cấp nền tảng lý thuyết cho phương

pháp tiếp cận Burgstahler và Dichev [9] để kiểm tra việc quản trị lợi nhuận

xung quanh các ngưỡng. Lý thuyết chi phí giao dịch cho rằng năng lực trí tuệ

hạn hẹp của các bên liên quan của công ty không cho phép họ xử lý tất cả các

thơng tin có sẵn (như [47],[49]). Do đó, các nhà đầu tư, nhà cung cấp, khách

hàng và nhân viên lựa chọn một số loại thơng tin nhất định (như lợi nhuận

ròng) mà họ cho là phù hợp với mục đích đánh giá. Để đánh giá mức độ báo

cáo lợi nhuận ròng có thể bị ảnh hưởng bởi quản trị lợi nhuận, các bên liên

quan có thể phân tích các báo cáo tài chính của cơng ty. Tuy nhiên, phân tích

báo cáo tài chính rất tốn kém và các bên liên quan thích tìm kiếm những

phương pháp đơn giản hơn như ngưỡng lợi nhuận ròng để quyết định có nên

mua cổ phiếu hay để xác định các điều khoản giao dịch với công ty. Theo lý

thuyết khách hàng tiềm năng, cá nhân đánh giá các lựa chọn thay thế đối với

một số điểm tham khảo nhất định [35]. Các ngưỡng lợi nhuận có thể được

hiểu là các điểm tham khảo [9]. Do đó, các bên liên quan đưa ra quyết định

mua cổ phần hoặc về các điều khoản giao dịch với công ty bằng cách so sánh

việc thực hiện lợi nhuận với các điểm tham khảo.

e. Lý thuyết triển vọng (prospect theory)

Lý thuyết triển vọng có thể giải thích được động lực để các nhà quản trị

đạt được ngưỡng lợi nhuận đơn giản [34]. Tuy nhiên, sự áp dụng lý thuyết

triển vọng trong việc giải thích về quản trị lợi nhuận đã khơng được nghiên

cứu rộng rãi trong các nghiên cứu trước, ngoại trừ Fiegenbaum [23] ở cấp độ

công ty và Shen and Chih [45] ở cấp quốc gia. Khi nghiên cứu này tập trung

vào ngành xây dựng, lý thuyết triển vọng được kiểm tra khả năng ứng dụng

của nó trong các ngành. Ngồi ra, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung

vào các biến mức độ công ty và đã sử dụng phân loại ngành và các biến giả

trong phân tích kinh tế lượng của họ để tính đến ảnh hưởng của xây dựng.



14

Điều này không đủ để hiểu mức độ biến động trong hoạt động quản trị lợi

nhuận trong các ngành. Do đó, nghiên cứu này cũng nhằm mục đích điều tra

các yếu tố ngành cụ thể có thể giải thích mức độ biến thiên trong hoạt động

quản trị lợi nhuận trong các ngành.

1.1.3. Động cơ của hành vi quản trị lợi nhuận

Việc thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận nhằm thu được những lợi ích

nhất định cho doanh nghiệp hay cho nhà quản trị, cũng có thể là nhằm bảo

đảm các hợp đồng mà các điều khoản ràng buộc dựa trên thơng tin kế tốn.

Theo đó, có bốn động cơ chính của hành vi quản trị lợi nhuận được nhắc đến

nhiều trong các nghiên cứu là động cơ hợp đồng thù lao, động cơ giao ước nợ,

động cơ thị trường vốn và động cơ pháp lý.

a. Động cơ hợp đồng thù lao

Nhà quản trị có xu hướng hành động để tối đa hóa lợi ích của mình. Đây

chính là hành vi tư lợi được nhắc đến trong lý thuyết đại diện. Khi hợp đồng

thù lao dựa trên kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như chỉ số

lợi nhuận hoặc doanh thu thì các nhà quản trị sẽ có động cơ để thực hiện hành

vi tư lợi. Watts & Zimmerman [52] cho rằng các nhà quản trị có động lực để

thúc đẩy báo cáo lợi nhuận từ tương lai đến kỳ kế toán hiện hành khi một kế

hoạch giải thưởng tồn tại dựa trên lợi nhuận. Healy [32] cũng đưa ra kết luận

rằng nhà quản trị sử dụng các xét đoán kế toán để tăng lợi nhuận nhằm đạt

được khoản tiền thưởng theo lợi nhuận. Nghiên cứu mới đây của Noronha &

các cộng sự [42] cho thấy động cơ hợp đồng thù lao là động cơ mạnh mẽ nhất

cho hành vi quản trị lợi nhuận tại các công ty đại chúng của Trung Quốc.

b. Động cơ giao ước nợ

Các ngân hàng và chủ nợ thường yêu cầu doanh nghiệp đạt được một kết

quả kinh doanh nhất định thể hiện qua số liệu kế tốn. Nếu doanh nghiệp

khơng thực hiện được như trong giao ước nợ thì sẽ phải chịu áp lực mạnh từ



15

ngân hàng và chủ nợ thông qua việc ngừng cấp vốn hoặc các khoản phạt do vi

phạm giao ước nợ đã kí. Defond & Jiambalvo [18] xem xét một mẫu gồm 90

công ty vi phạm giao ước nợ và thấy rằng các công ty thao tác làm tăng lợi

nhuận một năm trước năm vi phạm. Sweeney [48] sử dụng một mẫu 130

doanh nghiệp vi phạm giao ước nợ, cung cấp bằng chứng cho thấy rằng trong

những năm trước khi vi phạm, các công ty phải đối mặt với chi phí cao khiến

họ thao tác bằng cách thay đổi các quy trình kế tốn mặc định của họ để làm

tăng lợi nhuận.

c. Động cơ thị trường vốn

Khi có các áp lực thị trường vốn như để đạt được lợi nhuận mục tiêu,

phát hành cổ phiếu ra công chúng hay hoạt động sáp nhập và mua bán doanh

nghiệp thì có thể sẽ xuất hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Burgstahler &

Dichev [9] cung cấp bằng chứng cho thấy nhà quản trị quản trị lợi nhuận để

báo cáo tăng hoặc tránh lỗ. Đã có nhiều nghiên cứu đưa ra bằng chứng các

công ty thực hiện điều chỉnh lợi nhuận trước khi phát hành cổ phiếu ra công

chúng. Tại Việt Nam, Phạm Thị Bích Vân [6] cung cấp bằng chứng cho thấy

phần lớn các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

đều quản trị lợi nhuận trước khi phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu

(IPO). Cũng có bằng chứng cho thấy các doanh nghiệp cũng thổi phồng lợi

nhuận nhằm tăng giá cổ phiếu trước hoạt động sát nhập [22].

d. Động cơ pháp lý

Các nghiên cứu chỉ ra rằng các quy định về pháp lý cũng là động cơ làm

xuất hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Như là quy định các ngân hàng phải

có một khoản tồn quỹ nhất định, hay các cơng ty bảo hiểm phải có một tình

hình tài chính tốt, hay các doanh nghiệp cung cấp các mặt hàng thiết bị thì

phải đạt một số chỉ tiêu về tỷ suất sinh lời nhất định. Với quy định khắt khe

đó có thể dẫn tới các doanh nghiệp trong ngành này khi gặp khó khăn họ có



16

thể sẽ thao tác để đáp ứng quy định. Hoặc quy định về thuế suất lợi nhuận

doanh nghiệp cũng có thể là động cơ gây ra hành vi quản trị lợi nhuận.

Nguyễn Thị Minh Trang [4] cũng cho thấy các doanh nghiệp không niêm yết

tại Việt Nam có xu hướng điều chỉnh giảm lợi nhuận để tiết kiệm chi phí thuế

lợi nhuận doanh nghiệp.

1.1.4. Một số kỹ thuật quản trị lợi nhuận

Tùy theo mục tiêu khác nhau của các nhà quản trị, có thể mục tiêu của

nhà quản trị là điều chỉnh lợi nhuận nhằm tiết kiệm thuế lợi nhuận doanh

nghiệp phải nộp, có thể mục tiêu của nhà quản trị là tăng lợi nhuận để thu hút

vốn đầu tư, bán cổ phiếu ra thị trường,...mà họ sẽ lựa chọn điều chỉnh giảm

hoặc tăng lợi nhuận Và ở nghiên cứu này thì mục tiêu chính là hành vi quản

trị lợi nhuận để tránh báo cáo lỗ hoặc tránh làm giảm lợi nhuận. Cụ thể các

nhà quản trị có thể lựa chọn một số các kỹ thuật điều chỉnh sau:

a. Vận dụng phương pháp kế toán:

- Tác động đến doanh thu, giá vốn

Chính sách tính giá thành sản phẩm và xác định sản phẩm dở dang: Lựa

chọn phương pháp tính giá thành sản phẩm và phương pháp đánh giá sản

phẩm dở dang có thể làm thay đổi giá thành, từ đó có thể điều chỉnh giá vốn

hàng bán.

+ Phương pháp tính giá thành sản phẩm: Việc lựa chọn phương pháp tính

giá thành sản phẩm và phương pháp ước tính giá trị sản phẩm dở dang có thể

làm thay đổi giá thành sản phẩm, dẫn tới có thể điều chỉnh giá vốn hàng bán.

Hiện tại theo Thông tư 200/TT-BTC [1] ngày 22/12/2014 Hướng dẫn chế độ

kế toán doanh nghiệp (Thơng tư 200), phương pháp tính giá thành gồm những

phương pháp sau:

Phương pháp tỷ lệ: Phương pháp này áp dụng trong các doanh nghiệp

mà trong cùng một quá trình sản xuất, sử dụng một thứ nguyên liệu, thu được



17

nhóm sản phẩm cùng loại với kích cỡ, sản phẩm khác nhau. Đối tượng tập

hợp chi phí là tập hợp theo nhóm sản phẩm của tồn bộ quy trình cơng nghệ,

đối tượng tính giá thành là từng loại sản phẩm trong quy trình đó

Phương pháp định mức: Trong một doanh nghiệp, việc nắm rõ các yếu

tố cấu thành trong giá thành sẽ cho phép doanh nghiệp đề ra những biện pháp

tiết kiệm cụ thể, tìm ra các chốt quan trọng làm giảm năng suất chung của cả

dây chuyền sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ. Phương pháp định mức áp dụng

đối với các doanh nghiệp có quy trình sản xuất ổn định, đã xây dựng và quản

trị được định mức; và có trình tự tổ chức, tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá

thành của nhân viên kế tốn tương đối vững. Nội dung của phương pháp này

là căn cứ vào định mức kinh tế kỹ thuật hiện hành và dự tốn chi phí sản xuất

chung để xác định giá thành định mức. Qua đó doanh nghiệp tập hợp chi phí

sản xuất trong phạm vi định mức cho phép.

Phương pháp hệ số: Tính giá thành theo phương pháp hệ số áp dụng với

những doanh nghiệp mà trong một chu kỳ sản xuất cùng sử dụng một loại vật

liệu và một lượng lao động nhưng thu được đồng thời nhiều sản phẩm khác

nhau và chi phí khơng tập hợp riêng cho từng sản phẩm. Cụ thể các bước tính

giá thành theo phương pháp này như sau: xác định giá thành đơn vị sản phẩm

tiêu chuẩn, quy đổi sản phẩm thu được của từng loại về sản phẩm tiêu chuẩn

theo các hệ số quy định, xác định giá thành của từng loại sản phẩm.

Phương pháp giản đơn: Hay còn gọi là phương pháp trực tiếp, đây là

phương pháp được áp dụng trong các doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất

giản đơn, số lượng mặt hàng ít, sản xuất với khối lượng lớn và chu kỳ sản

xuất ngắn như các nhà máy điện, nước, các doanh nghiệp khai thác tài nguyên

(khoáng sản, quặng, than, gỗ…). Đối tượng hạch tốn chi phí sản xuất trong

các doanh nghiệp này là từng loại sản phẩm hay dịch vụ

+ Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang



18

Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí sản xuất định mức: Theo

phương pháp này, kế toán căn cứ vào khối lượng sản phẩm dở dang đã kiểm

kê ở từng giai đoạn sản xuất, quy đổi theo mức độ hoàn thành của sản phẩm

và định mức khoản mục chi phí ở từng cơng đoạn tương ứng cho đơn vị sản

phẩm để tính ra chi phí định mức cho sản phẩm dở dang ở từng cơng đoạn,

sau đó tổng hợp cho từng loại sản phẩm.

Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu chính trực

tiếp: Phương pháp này được áp dụng thích hợp ở doanh nghiệp có quy trình

sản xuất giản đơn, chi phí ngun vật liệu chính trực tiếp chiếm tỷ trọng lớn

trong tổng chi phí sản xuất, chi phí nguyên vật liệu phụ và cả chi phí chế biến

chiếm tỷ trọng khơng đáng kể. Theo phương pháp này, sản phẩm dở dang

cuối kỳ chỉ bao gồm chi phí ngun vật liệu trực tiếp, còn các chi phí gia cơng

chế biến được tính cả cho sản phẩm hoàn thành.

Đánh giá sản phẩm dở dang theo khối lượng sản phẩm hoàn thành

tương đương: Sản phẩm dở dang trong kỳ của doanh nghiệp áp dụng phương

pháp này phải chịu tồn bộ chi phí theo mức độ hồn thành, theo đó khi kiểm

kê sản phẩm dở dang người ta phải đánh giá mức độ hồn thành sau đó quy

đổi sản phẩm dở dang theo sản phẩm hoàn thành tương đương.

- Chính sách tính giá trị hàng xuất kho:

Có 4 phương pháp tính giá trị hàng xuất kho (VAS 02) [2]: nhập trướcxuất trước, nhập sau-xuất trước, thực tế đích danh và bình qn gia quyền.

Lựa chọn phương pháp tính giá hàng xuất kho có thể làm thay đổi giá vốn

hàng bán trong kỳ.

Việc lựa chọn phương pháp xác định giá vốn hàng xuất kho sẽ ảnh

hưởng đến giá vốn hàng bán dẫn đến làm thay đổi lợi nhuận trong kỳ. Theo

VAS 02 [2], việc tính giá trị hàng tồn kho được áp dụng theo một trong các

phương pháp sau:



19

- Phương pháp tính theo giá đích danh:’’ Phương pháp tính theo giá đích

danh được áp dụng đối với doanh nghiệp có ít loại mặt hàng hoặc mặt hàng

ổn định và nhận diện được’’. Theo phương pháp này, sản phẩm, vật tư, hàng

hóa xuất kho thuộc lơ hàng nhập nào thì lấy đơn giá nhập kho của lơ hàng đó

để tính.

- Phương pháp bình quân gia quyền: ‘’Giá trị của từng loại hàng tồn kho

được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho tương tự đầu kỳ

và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ. Giá trị

trung bình có thể được tính theo thời kỳ hoặc vào mỗi khi nhập một lơ hàng

về, phụ thuộc và tình hình của doanh nghiệp’’. Theo phương pháp này giá

xuất kho hàng hóa được tính theo đơn giá bình qn gồm có bình qn dự trữ

cả kỳ, bình quân dự trữ cuối kỳ trước, bình quân sau mỗi lần nhập.

- Phương pháp nhập trước, xuất trước: ‘’áp dụng dựa trên giả định là

hàng tồn kho được mua trước hoặc sản xuất trước thì được xuất trước, và

hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất gần thời

điểm cuối kỳ. Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo

giá của lơ hàng nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của hàng

tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần

cuối kỳ còn tồn kho’’. Phương pháp này thường được áp dụng với các doanh

nghiệp kinh doanh về thuốc, mỹ phẩm. Theo đó phương pháp này làm cho

doanh thu hiện tại không phù hợp với những khoản chi phí hiện tại. Doanh

thu hiện tại được tạo ra bởi giá trị sản phẩm, vật tư, hàng hóa đã có từ cách đó

rất lâu.

- Phương pháp nhập sau, xuất trước: Phương pháp này ngược với

phương pháp trên và thường được doanh nghiệp áp dụng trong giai đoạn lạm

phát.

- Chính sách về thanh lý TSCĐ:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN NHẰM TRÁNH BÁO CÁO LỖ HOẶC GIẢM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×