Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỐI VỚI NGHIÊN CỨU QUYẾT ĐỊNH MUA QUẦN ÁO CỦA NAM GIỚI

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỐI VỚI NGHIÊN CỨU QUYẾT ĐỊNH MUA QUẦN ÁO CỦA NAM GIỚI

Tải bản đầy đủ - 0trang

10



khả năng kiểm soát của các nhà tiếp thị. Tuy nhiên chúng cần được xem xét

để các nhà tiếp thị có thể hiểu được hành vi phức tạp của người tiêu dùng.

1.1.2. Mơ hình hành vi người tiêu dùng

Mơ hình hành vi người tiêu dùng là những phản ứng đáp lại về mua sắm

hàng hoá và dịch vụ trước những kích thích Marketing của doanh nghiệp.

Nghiên cứu mơ hình hành vi người tiêu dùng giúp các nhà tiếp thị hiểu rõ

phản ứng của để đưa ra các kích thích Marketing phù hợp, tạo được lợi thế

cạnh tranh và nâng cao hiệu quả của các hoạt động Marketing. Có rất nhiều

mơ hình giải thích về hành vi người tiêu dùng. Các mơ hình thường giải thích

các tác nhân kích thích khác nhau, các yếu tố ảnh hưởng, tiến trình ra quyết

định và kết quả. Dưới đây là mơ hình về hành vi người tiêu dùng do Philip

Kotler đề xuất năm 2005 và được xem là mơ hình nền tảng trong việc nghiên

cứu hành vi người tiêu dùng .



Hình 1.1: Mơ hình hành vi người tiêu dùng của Philip Kotler (2005)

Theo Philip Kotler, nghiên cứu về hành vi tiêu dùng của khách hàng là

một nhiệm vụ khá quan trọng có ảnh hưởng rất lớn trong việc ra các quyết

định về tiếp thị của doanh nghiệp. Ngồi ra, theo Kotler, mơ hình cơ bản của

quá trình ra quyết định của người tiêu dùng bao gồm ba thành phần chính là

tiếp thị và những tác nhân kích thích khác, “hộp đen” của người mua, các

phản ứng của người mua. Mơ hình trên cho thấy các yếu tố marketing (sản



11



phẩm, giá cả, phân phối và xúc tiến) và những tác nhân kích thích khác (kinh

tế, cơng nghệ, chính trị, xã hội) tác động vào “hộp đen” ý thức của người mua

và gây ra những phản ứng đáp lại nhất định (lựa chọn sản phẩm, lựa chọn

nhãn hiệu, lựa chọn nhà cung ứng, lựa chọn thời gian, lựa chọn lượng mua).

“Hộp đen” ý thức của người mua bao gồm hai phần. Phần thứ nhất là những

đặc điểm của người mua (văn hóa, xã hội, cá nhân, tâm lý), có ảnh hưởng cơ

bản đến việc con người tiếp nhận các tác nhân kích thích và phản ứng lại với

nó như thế nào. Phần thứ hai là quá trình thơng qua quyết định của người mua

(nhận thức vấn đề, tìm kiếm thơng tin, đánh giá, quyết định, hành vi sau khi

mua) và kết quả sẽ phụ thuộc vào quyết định đó. Để hiểu rõ hành vi của người

tiêu dùng cần thiết phải hiểu rõ cả hai phần này. Với mơ hình này, nhiệm vụ

của người làm tiếp thị là phải tìm hiểu được điều gì xảy ra bên trong “hộp

đen” ý thức của người tiêu dùng giữa lúc các tác nhân kích thích tác động và

lúc xuất hiện những phản ứng của họ.

1.2. VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG

1.2.1. Khái niệm

Việc ra quyết định của người tiêu dùng từ lâu đã là mối quan tâm của

nhiều nhà nghiên cứu. Bắt nguồn từ những nghiên cứu của các nhà kinh tế đi

trước cách đây khoảng 300 năm, được dẫn đầu bởi Nicholas Bernoulli, John

von Neumann and Oskar Morgenstern đã bắt đầu nghiên cứu cơ sở của việc ra

quyết định của người tiêu dùng (Richarme, 2007). Những nghiên cứu từ rất

sớm này đã tiếp cận đề tài từ góc độ kinh tế và chỉ tập trung vào hành động

mua (Loudon và Della Bitta, 1993). Mơ hình phổ biến nhất từ quan điểm này là

“thuyết vị lợi”, trong đó đề xuất rằng người tiêu dùng chọn lựa dựa trên các kết

quả mong đợi của các quyết định của họ. Người tiêu dùng được xem như là

những người ra quyết định dựa trên lý trí, là những người chỉ quan tâm đến lợi

ích cá nhân. (Schiffman và Kanuk 2007, Zinkhan 1992). Quyết định mua của

người tiêu dùng là quá trình bao gồm việc cá nhân hoặc nhóm lựa chọn, mua,



12



sử dụng hoặc loại bỏ các sản phẩm, dịch vụ, hay kinh nghiệm hay những ý

tưởng để đáp ứng các nhu cầu của họ (Solomon và cộng sự, 1996). Theo

Prasad và Jha (2014), việc ra quyết định của người tiêu dùng có thể được định

nghĩa là một q trình thu thập và xử lý thông tin, đánh giá, lựa chọn phương

án tốt nhất để có thể giải quyết một vấn đề hay thực hiện một sự lựa chọn mua.

1.2.2. Tiến trình ra quyết định mua của người tiêu dùng

Tiến trình ra quyết định mua của người tiêu dùng là quá trình được thực

hiện bởi người tiêu dùng liên quan đến một giao dịch thị trường tiềm năng

trước, trong và sau khi mua một sản phẩm, dịch vụ. Quá trình ra quyết định

thường bao gồm 5 giai đoạn.



Hình 1.2: Mơ hình năm giai đoạn của tiến trình ra quyết định mua hàng

của Philip Kotler (2005)

- Nhận thức vấn đề:

Đây là giai đoạn đầu tiên mà một người nhận ra rằng có một vấn đề hoặc

một nhu cầu cần được giải quyết. Theo Lãn và cộng sự (2013), nhận thức vấn đề

là sự khác biệt nhận biết giữa một trạng thái lý tưởng và một trạng thái thức tại.

Nhận biết vấn đề không chỉ liên quan đến việc mua, mà còn gắn với việc tiêu

dùng hay loại bỏ sản phẩm. Đây là giai đoạn then chốt trong tiến trình ra quyết

định bởi nó thúc đẩy người tiêu dùng hành động và bởi khi không nhận ra nhu

cầu hay mong muốn, một cá nhân sẽ khơng tìm cách đẻ mua hàng hóa hoặc dịch

vụ. Một nhu cầu có thể được kích thích bởi các kích thích bên trong hoặc bên

ngồi. Ở giai đoạn này, nhiệm vụ của người làm marketing là xác định xem có

những loại nhu cầu nào được phát sinh. Cái gì tạo ra chúng và người mua muốn

thỏa mãn chúng bằng những sản phẩm cụ thể nào.

- Tìm kiếm thơng tin:



13



Khi thôi thúc nhu cầu đủ mạnh, người tiêu dùng sẽ cố gắng tìm các cách

thức nhằm giải quyết nhu cầu đó bằng cách tìm kiếm thơng tin để ra quyết

định mua hàng. Việc tìm kiếm thơng tin sẽ bao gồm việc tìm kiếm thơng tin

bên trong-tiến trình nhớ lại những thơng tin có trong trí nhớ và tìm kiếm bên

ngồi-bao gồm tìm kiếm trước khi mua và tìm kiếm liên tục. Nhờ kết quả của

việc thu thập thông tin mà người tiêu dùng có thể biết được các loại nhãn hiệu

của lớp sản phẩm và những đặc tính của chúng.

Thứ nhất, người tiêu dùng có thể tìm kiếm thơng tin từ bên trong. Người

tiêu dùng tập hợp các thông tin về các loại sản phẩm, các biến thể, các lựa

chọn thay thế khác nhau và các nhãn hiệu khác nhau. Việc tìm kiếm như vậy

có thể được thực hiện liên tục, cụ thể hoặc ngẫu nhiên. Người tiêu dùng sẽ

nhớ lại cách họ đã dùng để giải quyết các vấn đề như vậy trong quá khứ, các

thông tin được lưu trữ trong trí nhớ của mình (bao gồm thơng tin thu thập, lưu

trữ cũng như kinh nghiệm của mình), điều này gọi là việc ra quyết định danh

nghĩa.

Thứ hai, người tiêu dùng có thể tìm kiếm thơng tin từ mơi trường bên

ngoài. Họ sẽ cố gắng giải quyết vấn đề bằng cách hỏi một người bạn để tìm

lời khuyên về sản phẩm tốt nhất phục vụ cho nhu cầu của họ, điều này gọi là

ra quyết định hạn chế. Các nguồn thơng tin tìm kiếm có thể là cá nhân (gia

đình, bạn bè, hàng xóm và đồng nghiệp…), thơng tin thương mại (truyền

thơng tiếp thị thơng qua hình thức quảng cáo, người bán hàng, hội chợ, triễn

lãm, bao bì, nhãn hiệu…), công chúng (thông tin đại chúng, các diễn đàn của

người tiêu dùng, tổ chức xếp hạng của chính phủ…) và kinh nghiệm (kinh

nghiệm của bản thân và của người khác). Mối quan hệ cá nhân là những

nguồn ảnh hưởng chính, nguồn thơng tin đại chúng là nguồn rất đáng tin cậy.



14



- Đánh giá các lựa chọn:

Theo Lãn và cộng sự (2013), đánh giá là sự ước lượng hay dự đoán liên

quan đến việc sản phẩm hay dịch vụ sở hữu một số đặc điểm hay hoạt động

theo cách thức nào đấy. Đánh giá khơng đòi hỏi người tiêu dùng ra quyết

định. Người tiêu dùng đánh giá dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá như những

khía cạnh, tính năng, đặc điểm và lợi ích khác nhau mà người tiêu dùng mong

muốn để giải quyết một vấn đề nào đó. Tính năng và lợi ích của sản phẩm là

những gì ảnh hưởng đến việc người tiêu dùng thích một sản phẩm cụ thể nào

đó. Người tiêu dùng sẽ lựa chọn có mua sản phẩm đó từ tập hợp các sản phẩm

thay thế hay khơng tùy thuộc vào mỗi tính năng độc đáo mà sản phẩm mang

lại và cả những lợi ích mà họ nhận được từ tính năng đó. Vào cuối giai đoạn

đánh giá, ý định mua hàng được hình thành.

- Quyết định mua:

Sau khi người tiêu dùng đã đánh giá các lựa chọn thay thế khác nhau họ

sẽ lựa chọn một thương hiệu cụ thể. Việc mua hàng của người tiêu dùng có

thể là những thử nghiệm/mua hàng đầu tiên hoặc mua hàng lặp lại. Người tiêu

dùng có thể phải tiếp tục đưa ra các quyết định về việc mua ở đâu, mua khi

nào, mua từ ai, mua bao nhiêu hay làm thế nào để thanh toán. Điều đáng chú

ý là một ý định mua (mong muốn mua những thương thiệu được ưa thích

nhất) khơng phải lúc nào cũng dẫn đến một quyết định mua có lợi cho thương

hiệu, nó có thể bị chi phối bởi thái độ của người khác và các yếu tố tình

huống bất ngờ. Sau khi đưa ra các quyết định, người tiêu dùng hoàn tất bước

cuối cùng của giao dịch bằng tiền mặt hoặc tín dụng.

- Hành vi sau khi mua:

Quá trình quyết định mua hàng không kết thúc với hành vi mua hàng.

Sau khi sử dụng sản phẩm và dịch vụ, người tiêu dùng sẽ so sánh mức độ

thành công so với sự mong đợi của họ và sẽ thấy hài lòng hay khơng hài lòng



15



về sản phẩm, dịch vụ. Người tiêu dùng chỉ hài lòng khi tính năng và cơng

dụng của sản phẩm đáp ứng một cách tốt nhất sự mong đợi của họ, từ đó sẽ

dẫn đến hành vi mua lặp lại và họ sẽ giới thiệu cho người khác biết về sản

phẩm đó. Khi người tiêu dùng cảm thấy khơng thỏa mãn với sản phẩm đã

mua, họ sẽ cố gắng làm giảm bớt sự khó chịu để thiết lập sự cân bằng tâm lý

thông việc từ bỏ hay lựa chọn nhãn hiệu khác, đồng thời có thể họ sẽ lan

truyền thơng tin bất lợi cho doanh nghiệp. Quá trình đánh giá sau khi mua là

quan trọng vi phản hồi yêu cầu từ việc sử dụng hiện tại một sản phẩm sẽ ảnh

hưởng đến xác suất của các lần mua sau này.

1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua của người tiêu dùng

a. Các yếu tố văn hóa

- Văn hóa:

Theo Assael Henry (1987) “Văn hóa là tồn bộ những chuẩn mực, giá trị

và tập quán được học hỏi từ môi trường xã hội, tác động đến cách thức ứng

xử chung của tất cả các cá nhân thuộc một xã hội cụ thể.”

Văn hóa là nguyên nhân đầu tiên và là yếu tố cơ bản nhất quyết định ý

muốn và hành vi của một người. Cách ăn mặc, tiêu dùng, sự cảm nhận giá trị

của hàng hóa, sự thể hiện mình thông qua tiêu dùng... đều chịu sự chi phối

mạnh mẽ của văn hóa. Những con người có nền văn hố khác nhau thì sẽ có

hành vi tiêu dùng khác nhau. Người làm marketing cần quan tâm đến các yếu

tố này khi thiết kế chiến lược marketing hay các thông điệp quảng cáo, màu

sắc và kiểu dáng sản phẩm, thái độ của nhân viên bán hàng…

- Nhánh văn hóa:

Một bộ phận cấu thành nhỏ hơn của một nền văn hoá được gọi là nhánh

văn hoá. Nguồn gốc dân tộc, chủng tộc, sắc tộc và mơi trường địa lý gắn bó với

nhánh văn hóa. Các nhánh văn hố khác nhau có các lối sống riêng, hành vi tiêu

dùng riêng. Trong mỗi nhánh văn hóa, người ta cùng chia sẻ những hệ thống giá

trị dựa trên những kinh nghiệm sống và hoàn cảnh sống giống nhau. Như vậy,



16



các nhánh văn hoá khác nhau sẽ tạo thành các phân đoạn thị trường khác nhau

đòi hỏi những người làm Marketing phải thiết kế nên các sản phẩm và chương

trình Marketing phù hợp với từng phân đoạn thị trường thị trường đó.

- Giai cấp xã hội:

Theo Lãn và cộng sự (2010), cá nhân trong một xã hội có thể được nhóm

lại theo địa vị xã hội, tạo nên giai cấp xã hội. Giai cấp xã hội là những giai

tầng tương đối đồng nhất và bền vững trong một xã hội, được sắp xếp theo

trật tự tôn ti, và các thành viên trong những thứ bậc ấy đều cùng chia sẻ

những giá trị, mối quan tâm và cách ứng xử giống nhau. Giai cấp xã hội

không chỉ dựa vào một yếu tố duy nhất như thu nhập, mà cả sự kết hợp của

nghề nghiệp, thu nhập, học vấn, của cải, và những yếu tố khác nữa. Những

người thuộc về những giai cấp xã hội khác nhau sẽ có những sở thích về sản

phẩm và nhãn hiệu khác nhau.

b. Các yếu tố xã hội

- Gia đình:

Theo Braithwaite và Baxter (2006), gia đình là một nhóm xã hội gồm hai

hay nhiều người được đặc trưng bởi sự phụ thuộc lẫn nhau ở hiện tại, với

những cam kết lâu dài bắt nguồn từ huyết thống, pháp luật và tình cảm. Các

thành viên trong gia đình của người mua có thể tạo nên một ảnh hưởng mạnh

mẽ lên hành vi của người mua đó. Gia đình thường được chia làm 2 loại.

Gia đình định hướng: bao gồm cha mẹ của người mua. Từ cha mẹ, mỗi

cá nhân có được những định hướng về tơn giáo, chính trị, kinh tế, những tham

vọng cá nhân, giá trị bản thân và tình cảm.

Gia đình hôn phối: bao gồm vợ, chồng, con cái của người mua, có ảnh

hưởng trực tiếp hơn đến hành vi mua sắm hàng ngày.



17



Các nhà tiếp thị cần phải xác định xem thường thì thành viên nào có ảnh

hưởng lớn hơn đến việc mua sắm những sản phẩm hoặc dịch vụ khác nhau để

có thể biết nhằm vào ai mà thuyết phục.

- Nhóm tham khảo:

Park và Lessig (1977) cho rằng nhóm tham khảo là một cá nhân hoặc

nhóm thực tế hoặc tưởng tượng có liên quan, ảnh hưởng đến việc đánh giá,

nguyện vọng hoặc hành vi của cá nhân. Nhóm tham khảo bao gồm:

Nhóm sơ cấp: bao gồm bạn thân, hàng xóm, đồng nghiệp.

Nhóm thứ cấp: bao gồm tổ chức tơn giáo, hiệp hội ngành nghề, cơng

đồn, đồn thể, câu lạc bộ.

Nhóm ngưỡng mộ: là nhóm mà cá nhân có mong muốn gia nhập, trở

thành thành viên.

Nhóm tẩy chay: là nhóm mà cá nhân khơng chấp nhận hành vi của nó.

Do vậy, các cá nhân không tiêu dùng như các thành viên của nhóm mà họ tẩy

chay.

Các nhóm tham khảo ảnh hưởng đến một người ít ra theo ba cách: hướng

người ta đi theo cách ứng xử và phong cách sống mới; ảnh hưởng đến quan

điểm và ý thức của một người vì người đó thường muốn được hòa nhập vào

đó, tạo ra các áp lực buộc tuân theo chuẩn mực chung và có thể ảnh hưởng

đến sự chọn lựa sản phẩm và nhãn hiệu của người đó.

- Vai trò và địa vị xã hội:

Địa vị phản ánh sự ngưỡng mộ nói chung mà xã hội dành cho vai trò của

một người trong xã hội đó. Một người đều có mặt trong nhiều loại nhóm: gia

đình, câu lạc bộ, tổ chức. Vị trí của người ấy trong mỗi nhóm có thể xác định

trong khn khổ vai trò và địa vị. Mỗi vai trò đều sẽ ảnh hưởng đến hành vi

mua của họ.



18



c. Các yếu tố cá nhân

- Tuổi tác và giai đoạn trong đời sống gia đình:

Ở những lứa tuổi, giai đoạn trong đời sống gia đình khác nhau, người

tiêu dùng sẽ có những nhu cầu, mong muốn và khả năng mua khác nhau. Ở

từng lứa tuổi, giai đọan mà người tiêu dùng có những nhu cầu, khả năng tài

chính và sở thích khác nhau, do đó có những hành vi và sự lựa chọn trong

mua sắm khác nhau.

- Nghề nghiệp:

Nghề nghiệp của một người cũng ảnh hưởng đến việc mua sắm và tiêu

dùng hàng hóa và dịch vụ. Khách hàng có nghề nghiệp khác nhau sẽ tiêu dùng

khác nhau. Vì vậy, người làm tiếp thị cần biết đối tượng khách hàng mục tiêu

của mình thuộc ngành nghề nào để có các chính sách Marketing phù hợp.

- Hồn cảnh kinh tế:

Hồn cảnh kinh tế của một người bao gồm số thu nhập dành cho tiêu

dùng, số tiền gởi tiết kiệm và tài sản, kể cả khả năng vay mượn và thái độ đối

với việc chi tiêu và tiết kiệm. Thu nhập là nhân tố ảnh hưởng rất mạnh đến

nhu cầu của các loại hàng hóa, nhất là những loại sản phẩm nhạy cảm với thu

nhập. Những người kinh doanh phải thường xuyên theo dõi xu thế trong lĩnh

vực tài chính cá nhân, các khoản tiết kiệm, tỉ lệ lãi suất để điều chỉnh chiến

lược kinh doanh của mình cho phù hợp.

- Lối sống:

Theo Engel và Blackwell (2982) hay Eckman và công sự (1990), lối

sống của người tiêu dùng bao gồm các đặc điểm tâm lý và những mối quan

tâm trong cuộc sống của người tiêu dùng. Nó xác định cách người tiêu dùng

dành thời gian, tiền bạc trong mối quan hệ với các hoạt động, sự quan tâm và

sự biểu hiện của quan điểm (Anderson và Golden, 1984). Người tiêu dùng tuy

cùng nhóm văn hóa đặc thù hoặc tầng lớp xã hội như nhau và thậm chí cùng

nghề nghiệp giống nhau, cũng vẫn có thể có sự khác biệt trong lối sống. Các



19



nhà quản lý cần tìm ra mối liên hệ giữa lối sống và hành vi tiêu dùng các loại

hàng hoá để làm cơ sở cho các chiến lược Marketing phù hợp.

- Nhân cách và ý niệm về bản thân:

Nhân cách là những đặc tính tâm lý nổi bật, đặc thù tạo ra thế ứng xử

(những phản ứng đáp lại) có tính ổn định và nhất qn đối với mơi trường

xung quanh của mỗi con người. Nhân cách của mỗi người sẽ ảnh hưởng đến

hành vi và cách cư xử của người đó.

Theo Engel, Blackwell, Miniard, ý niệm về bản thân là một cấu trúc tổ

chức các nhận thức về bản thân con người, tức là những nhận thức về khả

năng và đặc điểm của họ trong mối quan hệ với môi trường. Điều quan trọng

là người làm marketing phải hiểu được khách hàng của mình muốn thỏa mãn

ý niệm bản thân nào khi chọn mua một sản phẩm hay nhãn hiệu cụ thể.

d. Các yếu tố tâm lý

- Động cơ:

Theo Lãn và cộng sự (2010), động cơ được định nghĩa là một trạng thái

kích hoạt nội tại khơi dậy sinh lực hành động nhằm đạt được mục đích. Các

nhà tâm lý học đã phát triển những lý thuyết về động cơ của con người. Trong

số những lý thuyết nổi tiếng nhất có ba lý thuyết là lý thuyết Zigmund Freud,

lý thuyết Abraham Maslow và lý thuyết Frederick Herzberg. Những lý thuyết

này chứa đựng những hàm ý hoàn toàn khác nhau đối với việc phân tích

người tiêu dùng và chiến lược Marketing.

Lý thuyết động cơ của Freud cho rằng đời sống tâm lý của con người

gắn với 3 mức độ phát triển: vô thức, tiền ý thức và ý thức, đồng thời phân

tích ảnh hưởng, tác động của vơ thức, tiền thức và ý thức tới hành vi con

người.

Học thuyết nhu cầu của Maslow đi vào giải thích tại sao tại những con

người ở những hoàn cảnh khác nhau, với những đặc điểm khác nhau lại có



20



nhu cầu khác nhau. Tại sao người này làm việc cả ngày chỉ để kiếm tiền, còn

người kia cũng làm việc cả ngày nhưng không phải để kiếm tiền mà chỉ là để

thể hiện bản thân…

Frederick Herzberg đã xây dựng lý thuyết động cơ “hai yếu tố“ để phân

biệt những nhân tố gây nên sự khơng hài lòng và những nhân tố tạo nên sự hài

lòng của nhân viên trong cơng việc tại một tổ chức bất kỳ.

- Nhận thức:

Theo Lãn và cộng sự (2010), nhận thức là một tiến trình qua đó con

người chuyển tải những ấn tượng cảm giác thành quan điểm chặt chẽ và thống

nhất về thế giới xung quanh.

Con người có thể có phản ứng khác nhau đối với cùng 1 tác nhân kích

thích do nhận thức có sự chọn lọc, bóp méo có chọn lọc và ghi nhớ có chọn

lọc.

Nhận thức khơng chỉ phụ thuộc vào đặc tính của tác nhân kích thích mà

còn tùy thuộc vào mối tương quan giữa tác nhân kích thích và mơi trường

xung quanh và bản thân của cá thể.

- Kiến thức:

Theo Lãn và cộng sự (2010), kiến thức là thông tin và tổ chức thơng tin

trong trí nhớ, như vậy nó bao gồm 2 thành phần: Nội dung kiến thức và cấu

trúc kiến thức. Các nhà lý luận về kiến thức cho rằng kiến thức của một người

được tạo ra thông qua sự tác động qua lại của những thôi thúc, tác nhân kích

thích, những gợi ý, đáp ứng và sự củng cố.

Việc nghiên cứu kiến thức của người tiêu dùng về sản phẩm, dịch vụ của

doanh nghiệp nhằm phát hiện ra những sự hiểu nhầm, hiểu biết không đúng

của họ và các nhà tiếp thị có thể đưa ra những chương trình Marketing vừa

vặn với kiến thức, sự hiểu biết của người tiêu dùng.

- Niềm tin và thái độ:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỐI VỚI NGHIÊN CỨU QUYẾT ĐỊNH MUA QUẦN ÁO CỦA NAM GIỚI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×