Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b. Kiểm định Wald và hệ số hồi quy

b. Kiểm định Wald và hệ số hồi quy

Tải bản đầy đủ - 0trang

72

tài chính dài hạn của các cơng ty niêm yết thuộc nhóm ngành sản xuất thực

phẩm đồ uống Việt Nam với 5 yếu tố ảnh hưởng (ROS, SALEGR, CCC,

AGE, GENDER). Để hiểu hơn về kết quả, ta đi vào phần phân tích kết quả

thống kê ở mục tiếp theo 3.1.4.

3.1.4 Phân tích kết quả nghiên cứu

Việc đánh giá kết quả nghiên cứu được dựa trên hệ số và mức ý nghĩa

của các hệ số của mơ hình.

Nhìn vào mơ hình ta thấy, hiệu quả hoạt động kinh doanh (ROS) có hệ

số 29.885 với mức ý nghĩa là 5%. ROS có hệ số cao nhất trong mơ hình, điều

này cho thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh có ảnh hưởng đáng kể đến xác

suất để DN đạt trạng thái cân bằng tài chính dài hạn bền vững. Hệ số ROS

dương chứng tỏ hiệu quả hoạt động kinh doanh có quan hệ thuận chiều với

xác suất giúp doanh nghiệp đạt trạng thái cân bằng tài chính dài hạn bền

vững. Hiệu quả hoạt động kinh doanh càng cao, tức là với một đồng doanh

thu bán ra thì doanh nghiệp thu về được nhiều đồng lợi nhuận hơn. Với cùng

một mức lợi nhuận để chi trả cổ tức thì khi hiệu quả hoạt động kinh doanh

tăng, lợi nhuận giữ lại gia tăng (khoản lợi nhuận này được thể hiện bên dưới

vốn chủ sở hữu trong bảng cân đối kế toán), như vậy nguồn vốn thường

xuyên của doanh nghiệp sẽ gia tăng tương ứng với phần lợi nhuận giữ lại gia

tăng. Nguồn vốn thường xuyên gia tăng là điều kiện không thể thiếu để đảm

bảo tình hình cân bằng tài chính hạn bền vững. Bên cạnh đó, khi ROS tăng thì

mức độ tín nhiệm, mức độ tin tưởng của doanh nghiệp đối với ngân hàng, nhà

cung cấp và khách hàng sẽ cao hơn. Doanh nghiệp sẽ thuận tiện hơn trong

việc sử dụng nguồn vốn vay nợ và tình hình kinh doanh sẽ thuận lợi hơn với

sự hợp tác tin tưởng của đối tác, tạo điều kiện cho doanh nghiệp đảm bảo tình

hình cân bằng tài chính. Do đó, kết quả nghiên cứu đã chứng minh được giả



73

thuyết H3: Hiệu quả hoạt động kinh doanh của DN có quan hệ thuận chiều với

cân bằng tài chính dài hạn.

Với mức ý nghĩa 5%, hệ số của tốc độ tăng trưởng doanh thu (SALEGR)

là - 2.205. Hệ số của SALEGR âm chứng tỏ yếu tố tốc độ tăng trưởng doanh

thu có ảnh hưởng ngược chiều đến xác suất DN đạt cân bằng tài chính dài hạn

bền vững. Tốc độ tăng trưởng doanh thu là tỷ lệ sự thay đổi doanh thu năm

này so với năm trước đó. Tốc độ tăng trưởng doanh thu càng cao thì trong

thời gian ngắn doanh nghiệp cần xoay sở huy động thêm vốn để đáp ứng đủ

các yêu cầu tương ứng với lượng doanh thu tăng thêm, các chi phí tăng thêm

như là: chi phí để sản xuất lượng hàng tồn kho tiêu thụ và lượng hàng tồn kho

dự trữ theo nhu cầu của thị trường bao gồm cả chi phí đầu tư thêm máy móc

thiết bị để phục vụ hoạt động sản xuất, chi phí phát sinh cho việc bán hàng, và

các chi phí phát sinh ngồi dự tính,…. Nguồn vốn thường xuyên trong doanh

nghiệp không phải trong thời gian ngắn mà doanh nghiệp có thể huy động

được, trong khi đó với tốc độ tăng trưởng doanh thu cao doanh nghiệp sẽ gặp

thuận lợi hơn đối với khoản vay, đặc biệt là vay ngắn hạn, doanh nghiệp có

thể thế chấp kho hàng để vay ngắn hạn. Vì vậy, khả năng doanh nghiệp huy

động nguồn vốn tạm thời để tài trợ cho tài sản lưu động là cao, tỷ trọng nguồn

vốn thường xuyên tài trợ cho tài sản lưu động sẽ thấp hơn, doanh nghiệp sẽ dễ

rơi vào trang thái mất cân bằng tài chính dài hạn. Trong trường hợp, doanh

nghiệp khơng thu hồi được kịp thời các khoản phải thu như kế hoạch thì

doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán cho các khoản nợ đến

hạn. Như vậy, giả thuyết H4: Tốc độ tăng trưởng doanh thu có mối quan hệ tỉ

lệ nghịch với cân bằng tài chính dài hạn đã được chứng minh.

Kết quả mơ hình cho thấy, chu kỳ tiền mặt (CCC) có hệ số - 0.013 với

mức ý nghĩa 5%, hệ số chu kỳ tiền mặt tuy nhỏ nhưng điều này khơng có

nghĩa là chu kỳ tiền mặt ít có ý nghĩa với mơ hình. Yếu tố chu kỳ tiền mặt có



74

đơn vị tính tốn là ngày, còn các yếu tố ROS, SALEGR được tính bằng tỷ lệ.

Khả năng để chu kỳ tiền mặt thay đổi 1 đơn vị (1 ngày) là điều dễ dàng xảy

ra, dễ dàng có thể thực hiện, trong khi đó để ROS thay đổi 0.01 (1%) hoặc

SALEGR thay đổi 0.1 (10%) là cả một nổ lực lớn của doanh nghiệp. Do đó,

chu kỳ tiền mặt cũng là yếu tố có ảnh hưởng đáng kể đến mơ hình. Hệ số

CCC âm cho thấy CCC có quan hệ ngược chiều với xác suất DN đạt cân bằng

tài chính dài hạn bền vững. Chu kỳ tiền mặt càng dài có nghĩa là với một

đồng bỏ ra ban đầu thì khoản thời gian cần thiết để thu về số tiền sinh ra từ

một đồng đó là nhiều hơn, tức là việc thu hồi tiền càng chậm, doanh nghiệp

đang bị ứ dọng vốn ở chu kỳ phải thu hoặc ở chu kỳ hàng tồn kho, tình trạng

này kéo dài doanh nghiệp sẽ gặp phải rủi ro lớn trong việc khơng thanh tốn

kịp thời cho các khoản nợ đến hạn. Chu kì tiền mặt càng dài, thì lượng tiền

mặt của doanh nghiệp càng khan hiếm cho hoạt động sản xuất kinh doanh và

cho các hoạt động khác như đầu tư, doanh nghiệp cần phải huy động thêm

nguồn vốn để tài trợ cho tài sản lưu động, nhằm duy trì hoạt động sản xuất

kinh doanh trong doanh nghiệp. Ngược lại, chu kỳ tiền mặt càng ngắn, khoản

thời gian doanh nghiệp thu hồi lại lượng tiền mặt bỏ ra ban đầu là càng ngắn,

doanh nghiệp chủ động hơn trong việc thanh tốn, doanh nghiệp khơng cần

huy động thêm vốn để tài trợ cho tài sản lưu động, lúc này tài sản thường

xuyên đảm bảo tài trợ một cách đáng kể hợp lý cho tài sản lưu động, doanh

nghiệp đạt trạng thái an tồn về tài chính dài hạn bền vững. Kết quả nghiên

cứu đã chứng minh được giả thuyết H 5: Chu kì tiền mặt có quan hệ nghịch

chiều với cân bằng tài chính dài hạn.

Số năm hoạt động của doanh nghiệp (AGE) có hệ số hồi quy 3.558 với

mức ý nghĩa 5%. Hệ số hồi quy dương cho thấy số năm hoạt động của doanh

nghiệp có ảnh hưởng cùng chiều đến xác suất đạt cân bằng tài chính dài hạn

bền vững trong doanh nghiệp. Với một doanh nghiệp mới thành lập và một



75

doanh nghiệp lâu năm thì mức độ tin tưởng của ngân hàng, nhà cung cấp,

cũng như khách hàng là không giống nhau. Với cùng một loại sản phẩm, cùng

giá bán, các điều kiện khác giống nhau, thường khách hàng ưu tiên chọn

doanh nghiệp đã từng có giao dịch trước đây hoặc doanh nghiệp lâu năm hơn,

khách hàng cũng có xu hướng tin tưởng rằng lâu năm hơn thì sẽ bền vững

hơn, chắc chắn hơn. Trong trường hợp nhà cung cấp khơng có khả năng cung

ứng cho tất cả khách hàng thì khách hàng lâu năm hơn có lịch sử giao dịch

nhiều hơn sẽ được nhà cung cấp ưu tiên hơn so với khách hàng mới. Các

doanh nghiệp mới thành lập sẽ gặp khó khăn hơn trong việc huy động vốn vì

độ tin tưởng của nhà đầu tư khơng cao tất cả những gì mà doanh nghiệp mới

thành lập có được chỉ là trên giấy tờ được thể hiện qua chiến lược, kế hoạch

kinh doanh. Ngân hàng cũng thận trọng hơn với yêu cầu vay vốn đối với các

doanh nghiệp này việc tiếp cận nguồn vốn vay của doanh nghiệp cũng không

được thuận lợi. Hơn nữa, doanh nghiệp lâu năm là những doanh nghiệp đã tồn

tại và phát triển cho đến ngày hôm nay, đã vượt qua, đứng vững trước những

điều kiện khắc nghiệt của thị trường, nên những doanh nghiệp này có đầy đủ

kinh nghiệm để ứng phó với những biến động bất thường hơn là các doanh

nghiệp mới thành lập.Trong dữ liệu mẫu nghiên cứu, trung bình số năm hoạt

động của các cơng ty đạt trạng thái cân bằng tài chính bền vững là 30 năm và

trung bình số năm hoạt động của các cơng ty khơng đạt trạng thái cân bằng tài

chính bền vững là 24 năm. Điều này một lần nữa khẳng định số năm hoạt

động ảnh hưởng cùng chiều đến cân bằng tài chính dài hạn. Giả thuyết H 8: Số

năm hoạt động có mối quan hệ thuận chiều với cân bằng tài chính dài hạn đã

được chứng minh.

Kết quả thống kê cho thấy giới tính của lãnh đạo doanh nghiệp

(GENDER) có quan hệ cùng chiều với xác suất đạt cân bằng tài chính dài hạn

bền vững trong doanh nghiệp, có hệ số hồi quy là 1.597 với mức ý nghĩa 5%.



76

Trong mẫu nghiên cứu, tỷ lệ giới tính nữ là lãnh đạo doanh nghiệp đạt trạng

thái cân bằng tài chính dài hạn bền vững chiếm 25.8%, tỷ lệ giới tính nữ là

lãnh đạo doanh nghiệp có trạng thái cân bằng tài chính dài hạn không bền

vững chiếm 10.9%. Kết quả này cho thấy giới tính thật sự có ảnh hưởng đến

cân bằng tài chính dài hạn. Có sự khác nhau giữa nữ giới và nam giới trong

việc ra quyết định, nữ giới thường khơng lựa chọn các phương án mạo hiểm,

mang tính rủi ro cao cho dù có thể lợi nhuận mang lại khá hấp dẫn, nữ giới

thường ưu tiên chọn giải pháp an tồn do đó mỗi quyết định của nữ giới

thường chú trọng đến độ an toàn về mặt tài chính hơn, tình hình cân bằng tài

chính dài hạn được ổn định hơn. Giả thuyết H11: giới tính của chủ doanh

nghiệp có quan hệ thuận chiều với cân bằng tài chính dài hạn đã được chứng

minh. Lưu ý, ở đây tác giả không đề cập đến việc phân biệt giới tính.

Những biến độc lập còn lại: cấu trúc tài chính (LEV); cấu trúc tài sản

(TANG); dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (OCF); khả năng thanh tốn

nhanh (QR), quy mơ doanh nghiệp (SIZE); vốn lưu động ròng năm trước

(NWCT) khơng có ý nghĩa thống kê với mơ hình. Những biến độc lập này có

thể có hoặc khơng có ảnh hưởng đến cơ cấu tài sản dài hạn, tài sản lưu động,

tỉ lệ nợ vay ngắn hạn, tỷ lệ nợ vay dài hạn, nhưng những yếu tố này lại không

thực sự có ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ tiêu nghiên cứu.

Yếu tố cấu trúc tài chính (LEV) cho biết tỷ lệ tổng nợ dài hạn và ngắn

hạn trên tổng tài sản, yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình sử dụng nợ

trong doanh nghiệp, tuy nhiên yếu tố LEV là khơng có ảnh hưởng trực tiếp

đến tình hình cân bằng tài chính dài hạn trong doanh nghiệp. Số liệu từ bảng

3.1, bảng kết quả mô tả thống kê mô hình nghiên cứu cho thấy, độ lệch chuẩn

của LEV khá nhỏ so với giá trị trung bình của LEV nên tỷ lệ tổng nợ trên tổng

tài sản của các công ty trong mẫu nghiên cứu khơng có sự khác biệt nhiều

giữa các công ty, tỷ lệ LEV của các công ty trong ngành có giá trị gần gần

bằng nhau, điều này cũng có thể là nguyên nhân làm cho LEV khơng có ảnh

hưởng trực tiếp chỉ tiêu nghiên cứu. Tương tự, yếu tố cấu trúc tài sản (TANG)



77

cũng khơng có sự khác biệt nhiều giữa các công ty trong mẫu nghiên cứu (độ

lệch chuẩn của TANG khá nhỏ so với giá trị trung bình của TANG), điều này

cũng có thể là ngun nhân làm cho TANG khơng có ảnh hưởng trực tiếp đến

chỉ tiêu nghiên cứu. Một trong những nguyên nhân có thể làm cho các yếu tố

LEV, TANG, OCF, QR, SIZE, NWCT khơng có ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ

tiêu nghiên cứu là do mẫu nghiên cứu không đủ lớn, đôi khi làm cho các yếu

tố này không thể hiện được đầy đủ mối quan hệ với chỉ tiêu nghiên cứu.

Từ kết quả phân tích, chúng ta thấy được chiều hướng tác động của các

yếu tố ảnh hưởng đến xác suất đạt cân bằng tài chính dài hạn bền vững trong

doanh nghiệp. Tác giả tiến hành so sánh giả thuyết nghiên cứu và kết quả

nghiên cứu được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 3.10. Bảng so sánh kết quả và giả thuyết nghiên cứu

STT



Yếu tố



1 Cấu trúc tài chính (LEV)

2 Cấu trúc tài sản (TANG)

Hiệu quả hoạt động kinh doanh

3

(ROS)

Tốc độ tăng trưởng doanh thu

4

(SALEGR)

5 Chu kỳ tiền mặt (CCC)

Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh

6

(OCF)

7 Tỉ số thanh toán nhanh (QR)

8 Số năm hoạt động (AGE)

9 Quy mô công ty (SIZE)

10 Vốn lưu động ròng (NWCT)

Giới tính chủ doanh nghiệp

11

(GENDER)



Giả



Kết quả nghiên



thuyết

-



cứu

Không tương quan

Không tương quan



+



+



-



-



-



-



-



Không tương quan



+

+

+

+



Không tương quan

+

Khơng tương quan

Khơng tương quan



+



+



Các biến có ý nghĩa của mơ hình: ROS, SALEGR, CCC, AGE,

GENDER đều cho kết quả cùng chiều với giả thuyết nghiên cứu.



78

3.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KIẾN NGHỊ

Làm thế nào để doanh nghiệp đạt trạng thái cân bằng tài chính dài hạn

bền vững là câu hỏi lớn đặt ra cho nhà quản trị. Tình hình tài chính dài hạn

của doanh nghiệp khơng thể dễ dàng thay đổi trong ngày một, ngày hai. Do

đó, việc xác định đúng đối tượng tác động nhằm hỗ trợ, định hướng cho việc

ra quyết định của nhà quản trị nhằm duy trì và cải thiện tình hình cân bằng tài

chính dài hạn của doanh nghiệp là điều vơ cùng cần thiết. Dựa vào kết quả

nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến cân bằng tài chính dài hạn của các Cơng

ty niêm yết thuộc nhóm ngành sản xuất thực phẩm đồ uống Việt Nam trong

gia đoạn từ năm 2013 đến năm 2015, tác giả rút ra hàm ý, đưa ra một số kiến

nghị và giải pháp đề xuất cho các Cơng ty niêm yết thuộc nhóm ngành sản

xuất thực phẩm đồ uống Việt Nam nói riêng và các DN Việt Nam nói chung

về vấn đề cân bằng tài chính dài dạn như sau:

3.2.1. Tăng cường hiệu quả hoạt động kinh doanh

Hiệu quả hoạt động kinh doanh đo lường khả năng sinh lời từ hoạt

động kinh doanh thông qua các chỉ tiêu như là khả năng sinh lời tài sản (tỉ

suất lợi nhuận trên tổng tài sản), tức là với một đồng tài sản bỏ ra thì doanh

nghiệp thu lợi được bao nhiêu đồng hoặc chỉ tiêu khả năng sinh lời trên doanh

thu (tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu), tức là một đồng doanh thu bán ra thì

doanh nghiệp thu về được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Khi hiệu quả hoạt động

kinh doanh càng cao, lợi nhuận thu về càng nhiều, nguồn vốn bên trong doanh

nghiệp tăng lên, doanh nghiệp có thể giữ nguồn lợi nhuận này để đầu tư,

không phải chịu áp lực từ việc huy động vốn, do đó doanh nghiệp chủ động

hơn về mặt tài chính.

Theo nguồn dữ liệu thu thập được từ mẫu đối với hiệu quả hoạt động

sản xuất kinh doanh như sau: trung bình chỉ tiêu hiệu quả hoạt động kinh

doanh của các cơng ty đạt trạng thái cân bằng tài chính dài hạn bền vững là

10.33% và trung bình chỉ tiêu hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty



79

không đạt trạng thái cân bằng tài chính dài hạn bền vững là 2.38%. Như vậy,

có sự chênh lệch cách biệt của hai chỉ số này, trung bình chỉ số hiệu quả hoạt

động kinh doanh của các công ty đạt trạng thái cân bằng tài chính dài hạn bền

vững cao hơn 4 lần so với các công ty không đạt trạng thái cân bằng tài chính

dài hạn bền vững. Điều này một lần nữa cho thấy, mối quan hệ giữa hiệu quả

hoạt động kinh doanh và cân bằng tài chính dài hạn là mối quan hệ thuận

chiều nhau.

Tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh tức là tăng tỷ lệ lợi nhuận trên một

đồng tài sản bỏ ra hoặc một đồng doanh thu bán ra. Để tăng tỷ lệ này, đòi hỏi

doanh nghiệp phải khơng ngừng vận động, khơng ngừng hồn thiện hơn,

doanh nghiệp đang đứng yên chính là doanh nghiệp đang thuộc lùi. Doanh

nghiệp cần tìm mọi cách để gia tăng doanh thu đồng thời kết hợp với việc cắt

giảm chi phí để có thể gia tăng lợi nhuận thu về cho doanh nghiệp. Tăng hiệu

quả hoạt động sản xuất kinh doanh là mục tiêu và là kỳ vọng của chủ doanh

nghiệp, và cũng là biện pháp để đảm bảo tình hình cân bằng tài chính cho

doanh nghiệp.

3.2.2. Kiểm sốt tốc độ tăng trưởng doanh thu

Dưới một góc độ khác, có quan điểm cho rằng tăng trưởng doanh thu

càng cao, tức là tăng nguồn thu cho doanh nghiệp, do đó tác động tích cực

đến cân bằng tài chính dài hạn bền vững. Tuy nhiên, dữ liệu của các doanh

nghiệp thuộc nhóm ngành sản xuất thực phẩm đồ uống đã cho thấy điều

ngược lại, đúng theo giả thuyết mà tác giả đặt ra: tốc độ tăng trưởng doanh

thu ảnh hưởng tỷ lệ nghịch đến cân bằng tài chính dài hạn bền vững. Theo số

liệu trong mẫu, trung bình tốc độ tăng trưởng doanh thu của các doanh nghiệp

đạt cân bằng tài chính dài hạn bền vững là 9.30% và trung bình tốc độ tăng

trưởng doanh thu của các doanh nghiệp có trạng thái cân bằng tài chính dài

hạn khơng bền vững là 13.02%, cho thấy doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b. Kiểm định Wald và hệ số hồi quy

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×