Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
a. Các giả thuyết nghiên cứu

a. Các giả thuyết nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

42

tính của lãnh đạo doanh nghiệp ảnh hưởng đến tính hình cân bằng tài chính

dài hạn trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, hiện nay yếu tố giới tính đang ngày

càng được quan tâm, các học giả đã đề cập đến ảnh hưởng của yếu tố giới tính

trong các nghiên cứu về tự nguyện công bố thông tin, năng lực lãnh đạo của

giám đốc, hiệu quả sản xuất của các doanh nghiệp. Một điều có thể dễ dàng

nhận thấy là có sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới trong việc ra quyết định,

nữ giới thường thận trọng hơn trong việc ra quyết định và có xu hướng lựa

chọn giải pháp an tồn, hạn chế rủi hơn và do đó quan tâm nhiều hơn đến vấn

đề cân bằng tài chính so với nam giới. Để làm rõ vấn đề này, tác giả đưa đưa

biến giới tính của lãnh đạo doanh nghiệp vào mơ hình. Vì vậy, tác giả đưa ra

các giả thuyết nghiên cứu sau :

 Cấu trúc tài chính

Cấu trúc tài chính của một doanh nghiệp là sự kết hợp giữa việc sử

dụng vốn nợ và vốn chủ sở hữu và được đo lường bằng thước đo đòn bẩy tài

chính (tổng nợ/tổng tài sản). Như vậy, khi tỷ suất nợ cao đồng nghĩa với

doanh nghiệp sử dụng nợ càng nhiều và ngược lại. Lý thuyết trật tự phân hạng

đã chỉ ra rằng, doanh nghiệp luôn ưu tiên sử dụng nguồn vốn nội bộ, nguồn

vốn sẵn có, tiếp theo là nguồn vốn từ nợ và sau cùng là nguồn vốn từ mở rộng

vốn chủ sở hữu. Tỷ suất nợ cao tức là doanh nghiệp đang sử dụng nợ vay

nhiều hơn, mà trong điều kiện kinh tế Việt Nam các doanh nghiệp ưu tiên sử

dụng vay ngắn hạn trước tiên vì thủ tục vay đơn giản hơn và chi phí đi vay tại

thời điểm vay thấp hơn so với dài hạn. Do đó, doanh nghiệp có khả năng sử

dụng nợ vay ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn, cân bằng tài chính dài hạn

trong doanh nghiệp bị tác động theo hướng tiêu cực. Điều này tương đồng với

kết quả của nghiên cứu của Wasiuzzaman (2012): Có mối quan hệ tỉ lệ nghịch

giữa vốn lưu động ròng và đòn bẩy tài chính [16]. Giả thuyết được tác giả đặt

ra là:



43

H1: Cấu trúc tài chính có quan hệ nghịch chiều với cân bằng tài chính

dài hạn.

 Cấu trúc tài sản

Tác giả đồng thuận với quan điểm của Bannos – caballeo (2010): mối

quan hệ giữa cấu trúc tài sản và vốn lưu động ròng là mối quan hệ trái chiều

[8]. Cấu trúc tài sản được được đo lường bằng tỷ lệ tài sản cố định trên tổng

tài sản. Tỷ lệ TSCĐ trên tổng tài sản tăng điều này đòi hỏi nguồn vốn thường

xuyên phải tăng tương ứng với sự gia tăng của TSCĐ để đảm bảo tình hình

cân bằng tài chính trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc huy động nguồn vốn

thường xuyên thường gặp nhiều khó khăn và tốn nhiều thời gian, chi phí sử

dụng vốn lại cao nên doanh nghiệp khó có thể đảm bảo việc gia tăng nguồn

vốn thường xuyên để kịp thời với sự gia tăng của TSCĐ, vốn lưu động ròng

lúc này sẽ âm. Bên cạnh đó, khi TSCĐ tăng thì doanh nghiệp có nhiều cơ hội

thế chấp TSCĐ cho quá trình vay nợ và đặc biệt là vay ngắn hạn, doanh

nghiệp có xu hướng sử dụng nguồn vay ngắn hạn để tài trợ cho TSDH, điều

này sẽ làm cho tình hình cân bằng tài chính trong doanh nghiệp gặp bất ổn.

Kết quả nghiên cứu trong nước của Đinh Thị Thu Thủy (2015) [5] cũng đồng

thuận với quan điểm trên. Do đó giả thuyết được đặt ra là:

H2: Cấu trúc tài sản có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với cân bằng tài chính

dài hạn.

 Hiệu quả hoạt động kinh doanh

Với tình hình kinh tế khó khăn như hiện nay, rủi ro mà các doanh

nghiệp phải đối đầu ngày càng nhiều, khi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh

có hiệu quả, hiệu quả hoạt động kinh doanh tăng thì mức độ uy tín của doanh

nghiệp đối với ngân hàng được gia tăng và doanh nghiệp sẽ thuận tiện hơn

trong việc sử dụng nguồn vốn vay nợ. Nhưng thực tế cho thấy các doanh

nghiệp đang có xu hướng lựa chọn sử dụng nguồn vốn bên trong doanh



44

nghiệp, giảm tỷ trọng nợ nhằm tiết kiệm chi phí và hạn chế rủi ro, đảm bảo

tình hình cân bằng tài chính trong doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay. Bên

cạnh đó, hiệu quả hoạt động kinh doanh tăng, điều này làm cho lợi nhuận giữ

lại gia tăng tức là nguồn vốn thường xuyên trong doanh nghiệp được gia tăng,

theo đó tình hình cân bằng tài chính dài hạn trong doanh nghiệp được an toàn

hơn. Quan điểm của tác giả đồng thuận với quan điểm của Afrifa, Godfred

Adjapong (2016) [7].

H3: Hiệu quả hoạt động kinh doanh của DN có quan hệ thuận chiều

với cân bằng tài chính dài hạn.

 Tốc độ tăng trưởng doanh thu

Tác giả đồng thuận với quan điểm của Đinh Thị Thu Thủy (2015): sự

biến động của doanh thu có ảnh hưởng ngược chiều đến vốn lưu động ròng [5].

Tăng trưởng doanh thu là một phương án cho mục tiêu gia tăng giá trị doanh

nghiệp. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng doanh thu tăng cao, đòi hỏi doanh nghiệp

phải huy động thêm nguồn vốn để tài trợ kịp thời cho tốc độ tăng của tài sản

lưu động tương ứng với tốc độ tăng trưởng của doanh thu. Nguồn vốn thường

xuyên là nguồn vốn không dễ dàng huy động được trong ngắn hạn nên khả

năng doanh nghiệp huy động nguồn vốn tạm thời để tài trợ cho tài sản lưu động

là cao, tỷ trọng vốn lưu động ròng đầu tư cho tài sản lưu động sẽ thấp hơn,

doanh nghiệp sẽ dễ rơi vào trạng thái mất cân bằng tài chính dài hạn. Doanh

nghiệp có tốc độ tăng trưởng doanh thu cao thường thuận lợi hơn đối với khoản

vay ngắn hạn, doanh nghiệp có thể thế chấp kho hàng để vay ngắn hạn. Ngoài

ra, nếu sự tăng trưởng doanh thu đạt được là do doanh nghiệp nới lỏng chính

sách tính dụng trong việc bán hàng thì doanh nghiệp có khả năng gặp rủi ro cao

về thu hồi công nợ. Giả thuyết nghiên cứu là:

H4: Tốc độ tăng trưởng doanh thu có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với cân

bằng tài chính dài hạn.



45

 Chu kỳ tiền mặt

Chu kỳ tiền mặt là khoản thời gian cần thiết để từ tiền ban đầu mà

doanh nghiệp bỏ ra đến khi doanh nghiệp thu lại được tiền từ việc kinh doanh.

Chu kỳ tiền mặt tăng khi số ngày thu hồi công nợ từ các khoản phải thu gia

tăng, số ngày để hàng dự trữ trong kho được bán đi gia tăng và số ngày phải

thanh toán cho các khoản phải trả bị thu hẹp. Doanh nghiệp có chu kỳ tiền

mặt càng dài thì thời gian chuyển hóa tài sản lưu động thành tiền của doanh

nghiệp càng dài, khả năng lượng tiền mặt hiện có trong doanh nghiệp không

đủ để đáp g ứng cho nhu cầu của doanh nghiệp càng cao, doanh nghiệp cần

phải huy động thêm vốn để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn

mà doanh nghiệp có thể dễ tiếp cận nhất trong thời gian ngắn là nguồn vốn

vay ngắn hạn, nguồn vốn vay ngắn hạn tăng nghĩa là tỷ lệ nguồn vốn thường

xuyên đang tài trợ cho tài sản lưu động giảm xuống, cân bằng tài chính trong

doanh nghiệp dễ rơi vào trạng thái mất an toàn. Nghiên cứu của Định Thị Thu

Thủy (2015) đã làm rõ mối quan hệ ngược chiều giữa yếu tố chu kỳ tiền mặt

với cân bằng tài chính dài hạn [5]. Bên cạnh đó, giá trị thực của đồng tiền bỏ

ra lúc đầu cao hơn giá trị thực mà đồng tiền thu về được trong tương lai. Do

đó, giả thuyết được đặt ra là:

H5: Chu kì tiền mặt có quan hệ nghịch chiều với cân bằng tài chính dài

hạn.

 Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh

Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh là luồn tiền sống còn của doanh

nghiệp. Nghiên cứu Banos - Caballero và cộng sự (2010) đưa ra kết luận rằng:

dòng tiền từ hoạt động kinh doanh tăng lên có nghĩa là dòng tiền nội bộ của

DN tăng lên [9]. Tác giả đồng tình với quan điểm, khi dòng tiền từ hoạt động

kinh doanh tăng lên, việc nắm giữ tiền mặt và các khoản đầu tư ngắn hạn sẽ

tăng, tức là dòng tiền hiện tại doanh nghiệp tăng lên, dòng tiền này đảm bảo



46

trang trải cho hoạt động kinh doanh bình thường của doanh nghiệp, lúc này

nguồn vốn thường xuyên đủ khả năng để đảm bảo phù hợp tài trợ cho tài sản

lưu động, tình hình cân bằng tài chính được cải thiện. Tuy nhiên, trong nghiên

cứu của Appuhami (2008) đã chứng minh điều ngược lại: dòng tiền từ hoạt

động kinh doanh tỷ lệ nghịch với vốn lưu động ròng [8]. Với 2 quan điểm về

chiều hướng tác động của dòng tiền hoạt động kinh doanh đến vốn lưu động

ròng, tác giả đồng tình với quan điểm của Banos - Caballero và cộng sự

(2010) [9]. Giả thuyết đặt ra là:

H6: Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh có quan hệ thuận chiều với cân

bằng tài chính dài hạn.

 Khả năng thanh tốn nhanh

Doanh nghiệp có tỷ lệ thanh tốn nhanh cao thì phần tiền và tài sản có

thể chuyển đổi nhanh thành tiền sẽ tăng cao hơn so với sự tăng của nợ ngắn

hạn, lúc này lượng tiền thu chắc chắn đáp ứng đủ để thanh tốn cho nợ ngắn

hạn , dòng tiền này sẽ có khả năng cao hơn trong việc đáp ứng được nhu cầu

hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ hạn chế việc huy

động thêm nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản lưu động, tình hình cân

bằng tài chính dài hạn được đảm bảo hơn. Nghiên cứu thực nghiệm của Đinh

Thị Thuy Thủy (2015) cũng đã khẳng định rằng khả năng thanh tốn nhanh có

tác động cùng chiều với cân bằng tài chính dài hạn [5]. Giả thuyết được đặt ra

là:

H7: Khả năng thanh toán nhanh có mối quan hệ thuận chiều với cân

bằng tài chính dài hạn.

 Số năm hoạt động

Một doanh nghiệp có số năm hoạt động càng nhiều, doanh nghiệp đó sẽ

có uy tín tín dụng ngày càng lớn và dễ dàng hơn trong việc tiếp cận các khoản

vốn vay cũng như nguồn hàng từ nhà cung cấp, việc quản lý các khoản nợ của



47

doanh nghiệp cũng sẽ dễ dàng hơn, và doanh nghiệp này ln đặt uy tín lên

hàng đầu, quyết định của nhà quản trị luôn nhằm mục tiêu đạt trạng thái cân

bằng tài chính trong dài hạn. Ngược lại, các doanh nghiệp mới thành lập sẽ

khó khăn hơn trong việc tiếp cận các nguồn vốn vay và uy tín từ nhà cung

cấp. Hơn nữa, doanh nghiệp lâu năm là những doanh nghiệp đã tồn tại và phát

triển cho đến ngày hôm nay, đã vượt qua mà đứng vững trước những điều

kiện khắc nghiệt của thị trường, nên những doanh nghiệp này có đầy đủ kinh

nghiệm để ứng phó với những biến động bất thường. Với những cơ sở và lập

luận trên giả thuyết mà tác giả đưa ra là:

H8: Số năm hoạt động có mối quan hệ thuận chiều với cân bằng tài

chính dài hạn.

 Quy mơ doanh nghiệp

Nhà đầu tư tin tưởng rằng đầu tư vào các doanh nghiệp có quy mơ lớn

thì ít rủi ro hơn so với việc đầu tư vào các doanh nghiệp có quy mơ nhỏ. Ngân

hàng cũng sẵn sàng cho các doanh nghiệp có quy mơ lớn vay hơn là các

doanh nghiệp có quy mơ nhỏ. Do đó khả năng doanh nghiệp có quy mô lớn

huy động được nguồn vốn thường xuyên sẽ cao hơn các doanh nghiệp có quy

mơ nhỏ, tỷ lệ nguồn vốn thường xuyên đầu tư cho tài sản lưu động của doanh

nghiệp có quy mơ lớn sẽ cao hơn so với doanh nghiệp có quy mơ nhỏ, tình

hình cân bằng tài chính dài hạn của doanh nghiệp có quy mơ lớn sẽ an tồn

hơn so với doanh nghiệp có quy mơ nhỏ. Đây cũng chính là quan điểm của

Suleiman (2006) : quy mơ doanh nghiệp có mối quan hệ thuận chiều với vốn

lưu động ròng [13]. Giả thuyết đặt ra là:

H9: Quy mơ doanh nghiệp có quan hệ tỉ lệ thuận với cân bằng tài chính

dài hạn.

 Vốn lưu động ròng năm trước

Theo quan điểm của tác giả, tình hình tài chính năm trước sẽ ảnh hưởng



48

đáng kể đến tình hình tài chính của năm hiện tại, doanh nghiệp đạt trạng thái

cân bằng trong năm trước có khả năng cao hơn trong việc đạt trạng thái cân

bằng cho năm hiện tại và ngược lại doanh nghiệp mất cân bằng tài chính trong

năm trước sẽ gặp khó khăn hơn trong việc đạt cân bằng tài chính cho năm

hiện tại. Giả thuyết ta giả đưa ra là:

H10: Vốn lưu động ròng năm trước có quan hệ thuận chiều với cân

bằng tài chính dài hạn.

 Giới tính của lãnh đạo doanh nghiệp

Theo quan điểm của tác giả, có sự khác nhau giữa nam giới và nữ giới

trong việc ra quyết định, nữ giới thường thận trọng hơn trong việc ra quyết

định và có xu hướng chọn giải pháp an toàn, hạn chế rủi hơn và do đó quan

tâm hơn đến vấn đề cân bằng tài chính so với nam giới. Mỗi quyết định của

nhà quản trị sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình cân bằng tài chính trong

doanh nghiệp. Nghiên cứu của Kabeer và cộng sự (2012) đã chỉ ra các yếu tố

về giới tính, tình trạng hơn nhân, trình độ…của nhà lãnh đạo nếu khác nhau

thì năng lực lãnh đạo, phong cách lãnh đạo cũng sẽ khác nhau [12]. Do đó,

giả thuyết tác giả đưa ra là:

H11: Giới tính của lãnh đạo doanh nghiệp có quan hệ thuận chiều với

cân bằng tài chính dài hạn.

b. Mơ hình nghiên cứu

 Biến phụ thuộc:

Như đã đề cập ở chương I, theo lý thuyết để đo lường tính an tồn tài

chính của DN, chỉ tiêu vốn lưu động ròng được sử dụng để đánh giá. DN đạt

trạng thái cân bằng tài chính dài hạn khi vốn lưu động ròng qua các năm đạt

dương. DN mất cân bằng tài chính dài hạn khi vốn lưu động ròng âm. Tuy

nhiên, trong trường hợp chỉ tiêu vốn lưu động ròng khơng âm, nguồn vốn

thường xun của doanh nghiệp sau khi tài trợ cho tài sản dài hạn thì nguồn



49

vốn thường xun này có chắc chắn đảm bảo đủ lớn tài trợ cho tài sản lưu

động phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường của doanh

nghiệp được hay khơng, hay nói một cách khác nguồn vốn thường xuyên lúc

này có ở mức đủ lớn để vốn lưu động ròng khơng dễ dàng chuyển sang trạng

thái âm cho dù có những biến động bất lợi về phía doanh nghiệp (kể cả thua

lỗ đáng kể), đảm bảo cho tình hình cân bằng tài chính dài hạn của doanh

nghiệp đạt trạng thái bền vững hay khơng. Do đó, tác giả sử dụng phương

pháp ước lượng mơ hình theo Binary logistic để nghiên cứu, biến phụ thuộc

lúc này sẽ được quy đổi thành biến nhị phân, cụ thể như sau: có trạng thái cân

bằng tài chính dài hạn bền vững (Y=1) và có trạng thái cân bằng tài chính dài

hạn không bền vững (Y=0). Cách xác định trạng thái CBTCDH được thể hiện

như sau:

Trong một tổng thể nói chung và một mẫu nghiên cứu nói riêng, giả

định logic có thể áp dụng trong bối cảnh nghiên cứu này là: không phải mọi

doanh nghiệp đều nằm trong trạng thái cân bằng tài chính dài hạn bền vững

và cũng khơng phải mọi doanh nghiệp đều nằm trong trạng thái cân bằng tài

chính khơng bền vững, chính vì vậy tác giả chia mẫu nghiên cứu ra làm 3

vùng: vùng có trạng thái CBTCDH bền vững, vùng có trạng thái CBTCDH ở

mức trung bình và vùng có trạng thái CBTCDH khơng bền vững. Để xác định

3 vùng tác giả dùng tỷ lệ vốn lưu động ròng trên tài sản lưu động

(NWC/TSLĐ) làm căn cứ để so sánh xác định quan sát thuộc vùng nào. Tác

giả sử dụng tỷ lệ NWC/TSLĐ, chứ không sử dụng giá trị của vốn lưu động

ròng vì theo như đã phân tích ở trên, doanh nghiệp đạt trạng thái CBTCDH

bền vững là khi nguồn vốn thường xuyên chắc chắn đảm bảo đủ lớn để tài trợ

cho tài sản lưu động, lúc đó nguồn vốn thường xuyên ở mức đủ lớn để đảm

bảo vốn lưu động ròng khơng dễ dàng chuyển sang trạng thái âm cho dù có

những biến động bất lợi về phía doanh nghiệp, do đó việc sử dụng giá trị



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

a. Các giả thuyết nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×