Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Giới tính của lãnh đạo doanh nghiệp

Giới tính của lãnh đạo doanh nghiệp

Tải bản đầy đủ - 0trang

49

vốn thường xuyên này có chắc chắn đảm bảo đủ lớn tài trợ cho tài sản lưu

động phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường của doanh

nghiệp được hay khơng, hay nói một cách khác nguồn vốn thường xuyên lúc

này có ở mức đủ lớn để vốn lưu động ròng khơng dễ dàng chuyển sang trạng

thái âm cho dù có những biến động bất lợi về phía doanh nghiệp (kể cả thua

lỗ đáng kể), đảm bảo cho tình hình cân bằng tài chính dài hạn của doanh

nghiệp đạt trạng thái bền vững hay khơng. Do đó, tác giả sử dụng phương

pháp ước lượng mơ hình theo Binary logistic để nghiên cứu, biến phụ thuộc

lúc này sẽ được quy đổi thành biến nhị phân, cụ thể như sau: có trạng thái cân

bằng tài chính dài hạn bền vững (Y=1) và có trạng thái cân bằng tài chính dài

hạn không bền vững (Y=0). Cách xác định trạng thái CBTCDH được thể hiện

như sau:

Trong một tổng thể nói chung và một mẫu nghiên cứu nói riêng, giả

định logic có thể áp dụng trong bối cảnh nghiên cứu này là: không phải mọi

doanh nghiệp đều nằm trong trạng thái cân bằng tài chính dài hạn bền vững

và cũng khơng phải mọi doanh nghiệp đều nằm trong trạng thái cân bằng tài

chính khơng bền vững, chính vì vậy tác giả chia mẫu nghiên cứu ra làm 3

vùng: vùng có trạng thái CBTCDH bền vững, vùng có trạng thái CBTCDH ở

mức trung bình và vùng có trạng thái CBTCDH khơng bền vững. Để xác định

3 vùng tác giả dùng tỷ lệ vốn lưu động ròng trên tài sản lưu động

(NWC/TSLĐ) làm căn cứ để so sánh xác định quan sát thuộc vùng nào. Tác

giả sử dụng tỷ lệ NWC/TSLĐ, chứ không sử dụng giá trị của vốn lưu động

ròng vì theo như đã phân tích ở trên, doanh nghiệp đạt trạng thái CBTCDH

bền vững là khi nguồn vốn thường xuyên chắc chắn đảm bảo đủ lớn để tài trợ

cho tài sản lưu động, lúc đó nguồn vốn thường xuyên ở mức đủ lớn để đảm

bảo vốn lưu động ròng khơng dễ dàng chuyển sang trạng thái âm cho dù có

những biến động bất lợi về phía doanh nghiệp, do đó việc sử dụng giá trị



50

trung vị của tỷ lệ vốn lưu động ròng trên tài sản lưu động để so sánh xác định

vùng là hợp lý. Một doanh nghiệp có giá trị chỉ tiêu vốn lưu động ròng cao,

nhưng giá trị tài sản lưu động của doanh nghiệp cũng cao, lúc này nguồn vốn

thường xuyên không chắc chắn đủ lớn để tài trợ cho tài sản lưu động, do đó

khơng thể sử dụng giá trị của vốn lưu ròng làm căn cứ để so sánh xác định

vùng. Trước hết để xác định quan sát thuộc vùng nào, ta xác định giá trị trung

vị của tỷ lệ NWC/TSLĐ của các công ty trong mẫu nghiên cứu. So sánh tỷ lệ

NWC/TSLĐ của từng quan sát với giá trị trung vị của tỷ lệ NWC/TSLĐ của

các công ty trong mẫu nghiên cứu để xác định vùng như sau:

Vùng có trạng thái CBTCDH bền vững là vùng cao hơn giá trị trung vị

của tỷ lệ NWC/TSLĐ của mẫu một khoảng được coi là trọng yếu, đủ lớn để

đảm bảo quan sát có NWC/TSLĐ thấp nhất trong vùng có trạng thái

CBTCDH bền vững khơng dễ dàng chuyển qua trạng thái khơng bền vững.

Và ngược lại vùng có trạng thái CBTCDH không bền vững là vùng thấp hơn

giá trị trung vị của tỷ lệ NWC/TSLĐ của mẫu một khoảng được coi là trọng

yếu, đủ lớn để đảm bảo quan sát có NWC/TSLĐ cao nhất trong vùng có trạng

thái CBTCDH không bền vững không dễ dàng chuyển qua trạng thái bền

vững. Các quan sát nằm trong vùng có trạng thái CBTCDH ở mức trung bình

là các quan sát có tỷ lệ NWC/TSLĐ nằm gần, xoay xung quanh, khơng có sự

khác biệt nhiều với giá trị trung vị của tỷ lệ NWC/TSLĐ, và dễ dàng chuyển

đổi vị trí từ cao hơn giá trị trung vị của tỷ lệ NWC/TSLĐ qua thấp hơn cũng

như ngược lại. Các doanh nghiệp thì ln mong muốn và hướng đến vùng có

trạng thái CBTCDH bền vững, làm thế nào để đạt được và giữ vững trạng thái

này, đây là điều mà nhà quản trị doanh nghiệp quan tâm.

Khoảng như thế nào được được coi là trọng yếu, đủ lớn, theo thơng lệ

đứng dưới góc độ kinh tế nói chung thì tỷ lệ 10% so với giá trị trung vị được

coi là có tính trọng yếu, thêm vào đó mẫu nghiên cứu khơng lớn, thời gian



51

nghiên cứu còn hạn chế, do đó tác giả sử dụng tỷ lệ 10% so với giá trị trung vị

của tỷ lệ NWC/TSLĐ cho nghiên cứu của mình. Nghiên cứu có thể được mở

rộng ra theo hướng thực hiện với nhiều mức tỷ lệ trọng yếu so với giá trị

trung vị như 5%, 10%, 15% và xem xét so sánh xem kết quả thu được tương

ứng với các mức trọng yếu khác nhau có sự khác biệt hay khơng. Cụ thể các

bước tính tốn, quy đổi để xác định biến Y được tác giả trình bày trong phần

đo lường biến phụ thuộc tại mục 2.2.2a.

Như vậy, quan sát của biến phụ thuộc sẽ rơi vào 1 trong 3 vùng sau:

vùng có trạng thái CBTCDH bền vững, vùng có trạng thái CBTCDH ở mức

trung bình và vùng có trạng thái CBTCDH khơng bền vững. Cách xác định

vùng cho mỗi quan sát của biến phụ thuộc được thể hiện tại hình 2.3.



Hình 2.3. Đồ thị biểu diễn các xác định vùng cho mỗi quan sát của Y



 Biến độc lập:

Căn cứ vào các giả thuyết đã trình bày, các biến giải thích mà tác giả sử

dụng bao gồm: Cấu trúc tài chính (LEV); Cấu trúc tài sản (TANG); Tỷ suất

sinh lời trên doanh thu (ROS); Tốc độ tăng trưởng doanh thu (SALEGR); Chu



52

kì tiền mặt (CCC); Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (OCF); Khả năng

thanh toán nhanh (QR); Số năm hoạt động (AGE); Quy mơ doanh nghiệp

(SIZE); Vốn lưu động ròng năm trước (NWCT); Giới tính của lãnh đạo

doanh nghiệp (GENDER).

 Mơ hình nghiên cứu đề nghị cho đề tài:

Tác giả thực hiện nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến cân bằng tài

chính dài hạn của các Cơng ty niêm yết thuộc nhóm ngành sản xuất thực

phẩm đồ uống Việt Nam. Từ các biến độc lập và biến phụ thuộc vừa được

trình bày ở hai phân trên, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu tác động của

các yếu tố đến cân bằng tài chính dài hạn như sau:

Ln(P(Y=1)/(Y=0)) = β0+β1(LEVit)+ β2(TANGit)+ β3(ROSit)+β4(SALEGRit)

+β5(CCCit)+ β6(OCFit)+β7(QRit)+β8(AGEit)+β9(SIZEit)

+β10(NWCTit-1)+ β11(GENDER it).

Trong đó:

P(Y=1): Xác suất xảy ra sự kiện, trong nghiên cứu này là xác suất để

doanh nghiệp đạt trạng thái cân bằng tài chính dài hạn bền vững.

P(Y=0): Xác suất không xảy ra sự kiện, trong nghiên cứu này là xác

suất để doanh nghiệp không đạt trạng thái cân bằng tài chính dài hạn bền

vững.

LEV: Cấu trúc tài chính

TANG: Cấu trúc tài sản

ROS: Tỷ suất sinh lời trên doanh thu

SALEGR: Tốc độ tăng trưởng doanh thu

CCC: Chu kì tiền mặt

OCF: Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh

QR: Khả năng thanh toán nhanh



53

AGE: Số năm hoạt động

SIZE: Quy mơ doanh nghiệp

NWCT: Vốn lưu động ròng năm trước

GENDER: Giới tính của lãnh đạo doanh nghiệp

2.2.2 Đo lường các biến

a. Đo lường biến phụ thuộc

Như đã trình bày chi tiết ở phần mơ hình nghiên cứu tại mục 2.2.1b, tác

giả sử dụng phương pháp ước lượng mơ hình hồi quy theo phương pháp

Binary logistic, biến phụ thuộc được xác định thông qua chỉ tiêu tỷ số

NWC/TSLĐ và được quy đổi thành biến nhị phân, cụ thể như sau: có trạng

thái cân bằng tài chính dài hạn bền vững (Y=1) và có trạng thái cân bằng tài

chính dài hạn khơng bền vững (Y=0).

Để xác định doanh nghiệp có đạt trạng thái cân bằng bền vững hay

không, tác giả tiến hành thực hiện các theo từng bước như sau:

- Tính vốn lưu động ròng.

- Tính tỷ lệ vốn lưu động ròng trên tổng tài sản lưu động.

- Tính giá trị trung vị của tỷ số NWC/TSLĐ của 136 quan sát tương

ứng với 46 cơng ty trong vòng 3 năm từ năm 2012 đến năm 2015, giá trị trung

vị của tỷ số NWC/TSLĐ tính tốn được là: 0.3388.

- Tính tốn các giá trị phân vùng. Giá trị phân vùng giữa DN có trạng

thái CBTCDH bền vững và vùng DN có có trạng thái CBTCDH ở mức trung

bình là 110% * 0.3388 = 0.37268. Giá trị phân vùng giữa DN có trạng thái

CBTCDH khơng bền vững và vùng DN có trạng thái CBTCDH ở mức trung

bình là 90% * 0.3388 = 0.30492.

- Xác định trạng thái cân bằng tài chính dài hạn của DN dựa trên các

giá trị phân vùng. DN có trạng thái CBTCDH bền vững khi có tỷ số

NWC/TSLĐ lớn hơn giá trị phân vùng giữa DN có trạng thái CBTCDH bền



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Giới tính của lãnh đạo doanh nghiệp

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×