Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÂN BẰNG TÀI CHÍNH DÀI HẠN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT THUỘC NHÓM NGÀNH SẢN XUẤT THỰC PHẨM ĐỒ UỐNG VIỆT NAM

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÂN BẰNG TÀI CHÍNH DÀI HẠN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT THUỘC NHÓM NGÀNH SẢN XUẤT THỰC PHẨM ĐỒ UỐNG VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

32

hàng năm là 12% trong giai đoạn 2010 - 2015. Năm 2015, doanh thu cả ngành

đạt 1.033 tỷ đồng, tăng 14,3%, trong đó thực phẩm ước đạt 690 nghìn tỷ,

chiếm tỷ trọng 67%, đồ uống có cồn đạt 203 nghìn tỷ, chiếm 19,7%. VNDS_

Research cũng cho rằng trong khi nền kinh tế vận hành ổn định, giá cả hàng

hóa thiết yếu có xu hướng tăng nhẹ và tầng lớp trung lưu mở rộng, ngành

Thực phẩm – đồ uống có cơ sở vững chắc để tiếp tục duy trì tốc độ tăng

trưởng 2 con số trong năm 2017. Dự báo tăng trưởng doanh thu nhóm ngành

thực phẩm đồ uống trong giai đoạn 2016 – 2019 đạt 16.1% mỗi năm.

Trong giai đoạn 2016 – 2017, các công ty trong ngành thực phẩm và đồ

uống có xu hướng mở rộng sản xuất. Cụ thể, Vinasoy (QNS) xây dựng nhà

máy sữa công suất 90 triệu lít sữa ở Bình Dương; Cơng ty CP Tập đồn KiĐo

(KDC) sẽ tiếp tục mở thêm nhà máy mì ăn liền miền Nam sau nhà máy đầu

tiên ở Bắc Ninh; Tổng Công ty Cổ phần Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn

(SAB) mở nhà máy cơng suất 50 triệu lít ở Vĩnh Long. Qua đó chứng tỏ tăng

trưởng dành cho thực phẩm đồ uống vẫn còn nhiều dư địa. Tuy nhiên,

VNDS_Research cho rằng, ngành thực phẩm và đồ uống cũng sẽ chịu áp lực

trước sự bật tăng trở lại của giá năng lượng và một số nguyên liệu đầu vào,

đồng thời, phải phát triển tương thích với xu hướng mới của ngành bán lẻ. Xu

hướng mua sắm đang dịch chuyển mạnh mẽ từ kênh truyền thống (chợ, tạp

hóa nhỏ) sang những kênh hiện đại hơn (siêu thị, cửa hàng tiện lợi, mua hàng

trực tuyến). Mặt khác, người tiêu dùng đang dần quan tâm hơn đến chất

lượng, nguồn gốc, xuất xứ sản phẩm hơn là vấn đề giá cả. Vì vậy, sự tăng

trưởng của ngành chỉ thực sự có lợi cho những doanh nghiệp nào có khả năng

phát triển các sản phẩm “xanh-sạch”, nhạy bén với xu hướng mua sắm mà

đồng thời vẫn quản lý được chi phí. Các chuyên gia nhận định, trong năm

2017 cổ phiếu ngành thực phẩm đồ uống sẽ tiếp tục thăng hoa, thu hút sự

quan tâm của nhà đầu tư nhờ qui mô lẫn chất lượng. Với ROE trung bình



33

18,5%, P/E 15,1x, nhóm thực phẩm chế biến đang ở trong vùng định giá khá

hấp dẫn song đa số các doanh nghiệp có khả năng sinh lời tốt như Công ty Cổ

phần Xuất nhập khẩu Sa Giang (SGC), Công ty Cổ phần Lương thực Thực

phẩm SAFOCO (SAF), Công ty cổ phần Thực phẩm Cholimex (CMF) đều có

thanh khoản kém.

Chốt phiên giao dịch ngày 16/12/2016, thông tin từ zing.new cho biết,

trong số 10 doanh nghiệp vốn hố lớn nhất trên thị trường chứng khốn có tới

3 cái tên đến từ ngành thực phẩm và đồ uống. Đứng đầu danh sách là công ty

Cổ phần Sữa Việt Nam (VNM) với 8,4 tỷ USD, đứng vị trí thứ hai là tổng

công ty Cổ phần Bia – Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (SAB) với 6,41 tỷ

USD, và đứng thứ tám là công ty Cổ phần Tập đồn MaSan (MSN) với 2,16

tỷ USD. Theo ước tính tổng giá trị vốn hố tồn thị trường chứng khốn hiện

nay đạt khoảng 1,56 triệu tỷ đồng và 10 doanh nghiệp có khối lượng vốn hố

lớn nhất sàn chứng khốn đã chiếm tới 60% tồn thị trường. Trong đó, 3 cái

tên đến từ ngành thực phẩm đồ uống đã lên tới 381.376 tỷ đồng, tương đương

17 tỷ USD, chiếm tới 24,5% tổng giá trị vốn hố tồn thị trường. Nếu so sánh

3 doanh nghiệp ngành thực phẩm và đồ uống với 3 đại diện trong khối ngành

ngân hàng cũng nằm trong top 10 doanh nghiệp có vốn hố lớn nhất thị

trường là Vietcombank, Vietinbank và BIDV, thì tổng vốn hố 3 ngân hàng

vẫn còn kém rất xa. Ước tính, khối lượng vốn hoá của 3 ngân hàng trong top

10 vào khoảng 232.217 tỷ đồng, tương đương 10,3 tỷ USD và chiếm 14,9%

tổng vốn hố tồn thị trường.

Nhìn chung, tổng quan nhóm ngành sản xuất thực phẩm đồ uống trong

nước những năm gần đây và những dự đoán cho những năm sắp đến là khá

khả quan với những điểm nổi bậc sau:

-



Nhóm ngành thực phẩm đồ uống đóng góp tỷ trọng lớn nhất



trong cơ cấu tiêu dùng.



34

-



Tốc độ tăng trưởng doanh thu của nhóm ngành thực phẩm đồ



uống cao và liên tục tăng trưởng qua các năm và dự báo sẽ tiếp tục tăng

trưởng trong thời gian sắp đến.

-



Các doanh nghiệp đang có xu hướng mở rộng sản xuất và liên



tục thay đổi để đáp ứng những thay đổi của thị trường.

-



Cổ phiếu của các cơng ty thuộc nhóm ngành sản xuất thực phẩm



đồ uống đang được sự thu hút của nhà đầu tư và cổ phiếu của các cơng ty

thuộc nhóm ngành này đang dẫn đầu trong tổng vốn hố tồn thị trường.

Những thông tin trên đây là tổng quan về các cơng ty thuộc nhóm

ngành sản xuất thực phẩm đồ uống Việt Nam trong những năm gần đây và

một số dự đoán cho những năm sắp đến. Để nghiên cứu sâu hơn về các số liệu

liên quan đến cân bằng tài chính dài hạn, tác giả thu thập, tổng hợp thơng tin

của các cơng ty thuộc nhóm ngành này trên thị trường chứng khoán Việt Nam

giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2015. Mẫu nghiên cứu được chọn gồm 46

công ty, đảm bảo tính đại diện cho tổng thể, cách thức chọn mẫu sẽ được tác

giả trình bày trong mục 2.2.3. Để đi sâu vào nghiên cứu, tác giả xử lý số liệu

tổng hợp được từ mẫu nghiên cứu nhằm đưa ra những số liệu mô tả cụ thể

hơn về tổng quan cho nhóm ngành sản xuất thực phẩm đồ uống từ đó rút ra

những đặc điểm cơ bản về tình hình cân bằng tài chính của các cơng ty thuộc

ngành này.

Như đã đề cập ở chương 1, chỉ tiêu vốn lưu động ròng được đưa ra để

đo lường tình trạng cân bằng tài chính dài hạn của doanh nghiệp, những thông

tin cơ bản liên quan trực tiếp đến chỉ tiêu vốn lưu động ròng là nguồn vốn

thường xuyên (bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn) và tài sản dài

hạn. Các thông tin về độ lớn của các chỉ tiêu này khi được xem xét trong bối

cảnh trong từng doanh nghiệp thì mới thật sự có ý nghĩa. Do đó, tác giả thu

thập, tính tốn các chỉ tiêu này trên tổng tài sản của từng công ty và xác định



35

giá trị trung bình của tất cả các công ty trong mẫu nghiên cứu để thấy rõ được

xu hướng chung của ngành.

Tác giả tổng hợp thông tin về giá trị trung bình tỷ số vốn chủ sở hữu

trên tổng tài sản (VCSH/TTS) và tốc độ tăng trưởng của giá trị trung bình tỷ

số này từ năm 2013 đến năm 2015 của các công ty sản xuất thực phẩm đồ

uống trong mẫu nghiên cứu và trình bày ở bảng 2.1.

Bảng 2.1. Giá trị trung bình VCSH/TTS và tốc độ tăng trưởng của giá trị

trung bình tỷ số này từ năm 2013 đến năm 2015

STT

1

2



Chỉ tiêu

Giá trị trung bình

VCSH/TTS

Tốc độ tăng/giảm



Năm 2012



Năm 2013



Năm 2014



Năm 2015



0.5288



0.5201



0.5257



0.5137



-1.67%



1.06%



-2.33%



(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)

Thông tin từ bảng số liệu cho thấy, giá trị trung bình của VCSH/TTS

của các cơng ty trong mẫu nghiên cứu đều cao hơn 0.5 ở tất cả các năm từ

năm 2012 đến năm 2015, nguồn vốn chủ sở hữu luôn giữ ở mức đầu tư hơn

một nửa trên tổng tài sản. Giá trị trung bình VCSH/TTS từ năm 2012 đến năm

2015 dao động trong khoảng từ 0.5137 đến 0.5288, chênh lệch giữa năm có

giá trị trung bình VCSH/TTS cao nhất và thấp nhất khơng có sự khác biệt

nhiều, điều này cho thấy khi tổng tài sản tăng các doanh nghiệp trong ngành

nghiên cứu có khả năng đảm bảo sự gia tăng vốn chủ sở hữu tương ứng với sự

gia tăng của tổng tài sản. Giá trị trung bình VCSH/TTS khơng biến động

nhiều các năm, còn giá trị trung bình tỷ số nợ dài hạn trên tổng tài sản

(NDH/TTS) có biến động hay khơng. Tác giả tính tốn, tổng hợp số liệu về

giá trị trung bình NDH/TTS và biến động của giá trị trung bình tỷ số này của

các cơng ty sản xuất thực phẩm đồ uống trong mẫu nghiên cứu qua các năm

từ năm 2013 đến năm 2015, thể hiện tại bảng 2.2.



36

Bảng 2.2. Giá trị trung bình NDH/TTS và tốc độ tăng trưởng của giá trị

trung bình tỷ số này từ năm 2013 đến năm 2015

STT

1

2



Chỉ tiêu

Giá trị trung bình

NDH/TTS

Tốc độ tăng/giảm



Năm 2012



Năm 2013



Năm 2014



Năm 2015



0.0300



0.0246



0.0266



0.0443



-18%



8%



67%



(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)

Bảng số liệu cho thấy giá trị trung bình NDH/TTS là khơng cao, chỉ

chiếm từ 2.46% đến 4.43% tổng tài sản, điều này cho thấy các công ty trong

nhóm ngành nghiên cứu khơng sử dụng nhiều nợ dài hạn để đầu tư cho tổng

tài sản. Giá trị trung bình NDH/TTS từ năm 2013 đến năm 2015 đang có xu

hướng gia tăng, tốc độ tăng trưởng là khá cao từ -18% năm 2013 tăng lên 8%

năm 2014 và tiếp tục tăng lên 67% năm 2015, cho thấy các công ty trong

ngóm ngành sản xuất thực phẩm đồ uống đang có xu hướng gia tăng sử dụng

nhiều nợ dài hạn để đầu tư cho tổng tài sản nhiều hơn.

Số liệu về giá trị trung bình tỷ số tài sản dài hạn trên tổng tài sản

(TSDH/TTS) và tốc độ tăng trưởng của giá trị trung bình tỷ số này của các

cơng ty sản xuất thực phẩm đồ uống trong mẫu nghiên cứu từ năm 2013 đến

năm 2014 được tác giả tổng hợp trong bảng sau 2.3.

Bảng 2.3. Giá trị trung bình TSDH/TTS và tốc độ tăng trưởng của giá trị

trung bình tỷ số này từ năm 2013 đến năm 2015

STT

1

2



Chỉ tiêu

Giá trị trung bình

TSDH/TTS

Tốc độ tăng/giảm



Năm 2012



Năm 2013



Năm 2014



Năm 2015



0.2744



0.2626



0.2418



0.2189



-4%



-8%



-9%



(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)

Các cơng ty thuộc nhóm ngành sản xuất thực phẩm đồ uống trong mẫu

nghiên cứu từ năm 2012 đến năm 2015 có giá trị trung bình TSDH/TTS dao

động từ 0.2189 đến 0.2744 và liên tục giảm qua các năm.



37

Cùng nhìn lại các chỉ tiêu về giá trị trung bình các tỷ số VCSH/TTS,

NDH/TTS, TSDH/TTS được phân tích trên đây. Tác giả tổng hợp và biểu

diễn số liệu về giá trị trung bình của các tỷ số trên qua hình 2.1.



Hình 2.1. Biến động giá trị trung bình của VCSH/TTS, NDH/TTS, TSDH/TTS

từ năm 2012 đến 2015



(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)

Nhận xét chung, nguồn vốn thường xuyên của các công ty sản xuất

thực phẩm đồ uống trong mẫu nghiên cứu được tài trợ chủ yếu từ vốn chủ sở

hữu, giá trị trung bình tỷ số nguồn vốn thường xuyên trên tổng tài sản

(NVTX/TTS) hay giá trị trung bình VSCH/TTS cộng với giá trị trung bình

NDH/TTS của các cơng ty này theo từng năm từ năm 2012 đến năm 2015 đều

cao hơn 2 lần so với giá trị trung bình TSDH/TTS, có nghĩa là sau khi tài trợ

cho tài sản dài hạn, gần một nửa nguồn vốn thường xuyên đang tài trợ cho tài

sản lưu động. Giá trị trung bình TSDH/TTS có xu hướng giảm qua các năm,

trong khi đó giá trị trung bình NDH/TTS lại có xu hướng gia tăng và giá trị

trung bình VCSH/TTS thì lại khơng có biến động nhiều. Những biến động

này cho thấy doanh nghiệp cần ít nguồn vốn thường xuyên để tài trợ cho tài

sản dài hạn, lượng vốn thường xuyên tài trợ cho tài sản lưu động càng cao



38

hơn (xét trên khía cạnh tỷ trọng trên tổng tài sản). Đây là dấu hiệu khả quan

cho tình hình cân bằng tài chính chung của nhóm ngành sản xuất thực phẩm

đồ uống trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2015.

2.1.2 Cân bằng tài chính dài hạn của các cơng ty niêm yết thuộc

nhóm ngành sản xuất thực phẩm đồ uống Việt Nam

Như đã đề cập ở Chương I, cân bằng tài chính dài hạn của các doanh

nghiệp được thể hiện thông qua chỉ tiêu vốn lưu động ròng. Các doanh nghiệp

đạt được trạng thái cân bằng tài chính dài hạn khi chỉ tiêu vốn lưu động ròng

dương qua các năm, và tình hình tài chính của các doanh nghiệp ổn định, việc

gia tăng chỉ tiêu vốn lưu động ròng khơng phải từ ngun nhân bán tài sản dài

hạn do phá sản, thanh lý…Và các doanh nghiệp khơng đạt trạng thái cân bằng

tài chính dài hạn khi chỉ tiêu vốn lưu động ròng âm qua các năm.

Để nghiên cứu sâu hơn về tình hình cân bằng tài chính dài hạn của các

cơng ty niêm yết thuộc nhóm ngành sản xuất thực phẩm đồ uống Việt Nam,

tác giả đã xử lý số liệu thu thập được từ báo cáo tài chính của 46 cơng ty

thuộc nhóm ngành nghiên cứu trên sàn giao dịch chứng khốn Thành phố Hồ

Chí Minh và sàn giao dịch chứng khốn Hà Nội trong khoảng thời gian từ

năm 2013 đến năm 2015.

Tác giả tổng hợp chỉ tiêu vốn lưu động ròng của các cơng ty niêm yết

thuộc nhóm ngành sản xuất thực phẩm đồ uống Việt Nam từ năm 2013 2015, kết quả thể hiện tại hình 2.2 sau:



39



Hình 2.2. Số lượng công ty đạt cân bằng và chưa đạt CBTCDH trong danh sách

mẫu điều tra từ năm 2013 đến 2015

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)



Biểu đồ trên thể hiện số lượng các Cơng ty có chỉ tiêu vốn lưu động

ròng dương từ năm 2013 đến 2015, và số lượng các Cơng ty có chỉ tiêu vốn

lưu động ròng âm từ năm 2013 đến 2015. Số lượng này cho thấy các cơng ty

đạt cân bằng tài chính dài hạn qua các năm chiếm tỷ lệ khá cao, tỉ lệ các Công

ty chưa đạt cân bằng tài chính dài hạn chiếm một tỷ lệ không đáng kể - 5/46

qua các năm. Một kết quả đáng ngạc nhiên là tổng số các Công ty đạt cân

bằng tài chính dài hạn là khơng đổi từ năm 2012 đến năm 2015. Trong đó chỉ

có biến động ở 2 Công ty: Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Đa Quốc Gia

I.D.I (IDI) có chỉ tiêu vốn lưu động ròng âm năm 2013, 2014 và chỉ tiêu này

được cải thiện lên dương vào năm 2015; Công ty Cổ phần Thương mại Bia

Hà Nội (HAT) lại có chỉ tiêu vốn lưu động ròng dương vào các năm 2013,

2014 và chỉ tiêu này biến động về âm năm 2015.

Tiếp theo, tác giả tổng hợp phân tích chỉ tiêu NWC/TSLĐ qua các năm



40

của các Công ty được chọn làm mẫu, kết quả thể hiện tại bảng 2.4:

Bảng 2.4. Tỷ lệ NWC/TSLĐ tương ứng với tỷ lệ phần trăm số lượng công ty

trong mẫu nghiên cứu từ năm 2012 đến năm 2015

Phần trăm

STT



số lượng

công ty



1

2

3

4

5

6

7

8

9



10%

20%

30%

40%

50%

60%

70%

80%

90%



Tỷ lệ NWC/TSLĐ tương ứng với tỷ lệ phần trăm số

lượng công ty trong mẫu nghiên cứu

Năm 2012

Năm

Năm

Năm

Năm

đến 2015

(0.01)

0.09

0.15

0.24

0.33

0.43

0.54

0.61

0.69



2012

(0.04)

0.08

0.11

0.21

0.29

0.38

0.51

0.62

0.72



2013

(0.03)

0.10

0.16

0.20

0.30

0.43

0.53

0.59

0.70



2014

(0.01)

0.11

0.19

0.25

0.34

0.48

0.55

0.60

0.66



2015

(0.01)

0.07

0.12

0.27

0.35

0.44

0.61

0.64

0.70



(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)

Từ bảng số liệu 2.4 cho ta thấy trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm

2015, có 10% số lượng các cơng ty trong mẫu nghiên cứu có tỷ lệ

NWC/TSLĐ nhỏ hơn -0.01 và có 50% số lượng các cơng ty trong mẫu nghiên

cứu có tỷ số NWC/TSLĐ nhỏ hơn 0.33. Số liệu theo từng năm cho thấy có

50% số lượng các cơng ty trong mẫu nghiên cứu năm 2012 có tỷ số

NWC/TSLĐ nhỏ hơn 0.29, có 50% số lượng các cơng ty trong mẫu nghiên

cứu năm 2013 có tỷ số NWC/TSLĐ nhỏ hơn 0.30, có 50% số lượng các cơng

ty trong mẫu nghiên cứu năm 2014 có tỷ số NWC/TSLĐ nhỏ hơn 0.34 và có

50% số lượng các cơng ty trong mẫu nghiên cứu năm 2015 có tỷ số

NWC/TSLĐ nhỏ hơn 0.35. Như vậy, tỷ số NWC/TSLĐ từ năm 2012 đến năm

2015 tương ứng với 50% số lượng công ty trong mẫu nghiên cứu đang tăng

dần qua các năm, điều này cho thấy các doanh nghiệp trong ngành có xu

hướng gia tăng tỷ lệ tài trợ của nguồn vốn thường xuyên cho tài sản lưu động,



41

đảm bảo tình hình tài chính trong doanh nghiệp được ổn định hơn.

2.2. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN

CÂN BẰNG TÀI CHÍNH DÀI HẠN CỦA CÁC CƠNG TY NIÊM YẾT

THUỘC NHĨM NGÀNH SẢN XUẤT THỰC PHẨM ĐỒ UỐNG VIỆT

NAM

2.2.1 Các giả thuyết nghiên cứu và mơ hình nghiên cứu

a. Các giả thuyết nghiên cứu

Trên cơ sở lý thuyết đã trình bày ở chương I, tác giả căn cứ vào đặc

điểm riêng của ngóm ngành sản xuất thực phẩm đồ uống và điều kiện chung

của nền kinh tế thị trường tại Việt Nam, phần viết sau đây tác giả tiến hành

chọn lọc những yếu tố thật sự có ý nghĩa tại Việt Nam và đưa ra được các giả

thuyết nghiên cứu cho mơ hình bao gồm các yếu tố: cấu trúc tài chính, cấu

trúc tài sản, hiệu quả hoạt động kinh doanh, tốc độ tăng trưởng doanh thu, chu

kì tiền mặt, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, khả năng thanh toán, số năm

hoạt động, quy mô doanh nghiệp và vốn lưu động ròng năm trước. Đối với

yếu tố số năm hoạt động, nghiên cứu của các tác giả trong nước trước đây

chưa được đề cập đến. Theo quan điểm của tác giả, số năm hoạt động của

doanh nghiệp càng nhiều thì mức độ uy tín của doanh nghiệp đối với ngân

hàng và nhà cung cấp càng cao, doanh nghiệp có khả năng linh hoạt trong

việc quản lý nợ càng cao, rủi ro phá sản càng thấp. Thêm vào đó, các doanh

nghiệp lâu năm đã trải qua quá trình đối đầu với những thay đổi bên trong và

bên ngoài mà vẫn tồn tại và phát triển cho đến ngày hôm nay nên những

doanh nghiệp này là những doanh nghiệp đầy kinh nghiệm, có khả năng ứng

phó với những biến động của thị trường. Do đó theo tác giả có sự tồn tại mối

quan hệ giữa số năm hoạt động và tình hình cân bằng tài chính dài hạn của

doanh nghiệp, tác giả quyết định đưa yếu tố này vào mơ hình để làm rõ yếu tố

này. Bên cạnh đó, cho đến nay chưa có nghiên cứu nào khẳng định yếu tố giới



42

tính của lãnh đạo doanh nghiệp ảnh hưởng đến tính hình cân bằng tài chính

dài hạn trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, hiện nay yếu tố giới tính đang ngày

càng được quan tâm, các học giả đã đề cập đến ảnh hưởng của yếu tố giới tính

trong các nghiên cứu về tự nguyện công bố thông tin, năng lực lãnh đạo của

giám đốc, hiệu quả sản xuất của các doanh nghiệp. Một điều có thể dễ dàng

nhận thấy là có sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới trong việc ra quyết định,

nữ giới thường thận trọng hơn trong việc ra quyết định và có xu hướng lựa

chọn giải pháp an tồn, hạn chế rủi hơn và do đó quan tâm nhiều hơn đến vấn

đề cân bằng tài chính so với nam giới. Để làm rõ vấn đề này, tác giả đưa đưa

biến giới tính của lãnh đạo doanh nghiệp vào mơ hình. Vì vậy, tác giả đưa ra

các giả thuyết nghiên cứu sau :

 Cấu trúc tài chính

Cấu trúc tài chính của một doanh nghiệp là sự kết hợp giữa việc sử

dụng vốn nợ và vốn chủ sở hữu và được đo lường bằng thước đo đòn bẩy tài

chính (tổng nợ/tổng tài sản). Như vậy, khi tỷ suất nợ cao đồng nghĩa với

doanh nghiệp sử dụng nợ càng nhiều và ngược lại. Lý thuyết trật tự phân hạng

đã chỉ ra rằng, doanh nghiệp luôn ưu tiên sử dụng nguồn vốn nội bộ, nguồn

vốn sẵn có, tiếp theo là nguồn vốn từ nợ và sau cùng là nguồn vốn từ mở rộng

vốn chủ sở hữu. Tỷ suất nợ cao tức là doanh nghiệp đang sử dụng nợ vay

nhiều hơn, mà trong điều kiện kinh tế Việt Nam các doanh nghiệp ưu tiên sử

dụng vay ngắn hạn trước tiên vì thủ tục vay đơn giản hơn và chi phí đi vay tại

thời điểm vay thấp hơn so với dài hạn. Do đó, doanh nghiệp có khả năng sử

dụng nợ vay ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn, cân bằng tài chính dài hạn

trong doanh nghiệp bị tác động theo hướng tiêu cực. Điều này tương đồng với

kết quả của nghiên cứu của Wasiuzzaman (2012): Có mối quan hệ tỉ lệ nghịch

giữa vốn lưu động ròng và đòn bẩy tài chính [16]. Giả thuyết được tác giả đặt

ra là:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÂN BẰNG TÀI CHÍNH DÀI HẠN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT THUỘC NHÓM NGÀNH SẢN XUẤT THỰC PHẨM ĐỒ UỐNG VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x