Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÂN BẰNG TÀI CHÍNH DÀI HẠN CỦA

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÂN BẰNG TÀI CHÍNH DÀI HẠN CỦA

Tải bản đầy đủ - 0trang

12

tình trạng cân bằng tài chính dài hạn của doanh nghiệp. Vốn lưu động ròng

được xác định như sau:

Vốn lưu động ròng = Nguồn vốn thường xuyên – Tài sản dài hạn

= Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn – Nợ ngắn hạn

1.1.2. Tầm quan trọng của cân bằng tài chính dài hạn

Một doanh nghiệp khi thành lập, chủ doanh nghiệp ln kỳ vọng doanh

nghiệp mình tồn tại, từng bước bù đắp chi phí ban đầu, kinh doanh có lợi

nhuận và gia tăng hơn nữa giá trị của doanh nghiệp. Nhằm đảm bảo thực hiện

được những mục tiêu trên, người lãnh đạo doanh nghiệp không thể không coi

trọng tình hình tài chính của chính doanh nghiệp mình. Mỗi quyết định của

nhà lãnh đạo đều phải cân nhắc, xem xét xem tình hình tài chính hiện tại có

khả năng đáp ứng được hay khơng. Nếu bỏ qua q trình này, doanh nghiệp

có thể rơi vào trạng thái mất cân bằng tài chính. Lúc này nguồn vốn thường

xun khơng đủ để tài trợ cho tài sản dài hạn, tức là một phần nguồn vốn

ngắn hạn đang tài trợ cho tài sản dài hạn, lúc này vốn lưu động ròng của công

ty rơi vào trạng thái âm. Mặt khác, tài sản dài hạn là tài sản có thời gian thu

hồi vốn cao, khơng dễ dàng cho việc chuyển hóa tài sản dài hạn thành tiền do

đó doanh nghiệp rất có thể sẽ gặp khó khăn với áp lực thanh tốn khi nguồn

vốn ngắn hạn đến hạn phải thanh toán. Một khi doanh nghiệp khơng có khả

năng thanh tốn cho các khoản thanh tốn đến hạn, uy tín của doanh nghiệp

đối với ngân hàng, uy tín của doanh nghiệp đối với nhà cung cấp cũng như

khách hàng sẽ bị ảnh hưởng đáng kể. Q trình cải thiện tình hình cân bằng

tài chính trong doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn hơn nếu ngân hàng trở nên khắc

khe hơn với điều kiện cho vay, các nhà cung cấp siết chặc hơn với chính sách

tín dụng và khách hàng mất lòng tin vào doanh nghiệp trong việc đảm bảo

nguồn hàng cung cấp cũng như chính sách bán hàng. Vì vậy, đảm bảo cân

bằng tài chính dài hạn là một trong những mục tiêu sống còn của doanh



13

nghiệp và nhà quản lý luôn đặt dấu chấm hỏi làm thế nào để đảm bảo tình

trạng cân bằng tài chính dài hạn trong doanh nghiệp.

1.2.



CÁC LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC VỐN - NỀN TẢNG LÝ



THUYẾT CỦA CÂN BẰNG TÀI CHÍNH DÀI DẠN

Theo lý thuyết, cân bằng tài chính dài hạn đạt được là nhờ vào sự điều

hòa hợp lý giữa cấu trúc vốn và cấu trúc tài sản. Vì vậy, theo tác giả lý thuyết

nền tảng của cân bằng tài chính dài hạn chính là lý thuyết cấu trúc vốn. Cấu

trúc vốn đề cập đến cách thức doanh nghiệp tìm kiếm nguồn tài chính, nguồn

vốn để doanh nghiệp có thể sử dụng trong việc đầu tư mua máy móc thiết bị,

phương tiện vận tải,...(tài sản dài hạn) và sử dụng trong việc đầu tư mua

nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ,…(tài sản lưu động) để phục vụ cho hoạt

động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. Tài sản dài hạn và tài sản lưu

động có thời gian chuyển hóa thành tiền khác nhau, tài sản lưu động thường

nhanh chóng và thuận tiện hơn trong q trình chuyển hóa thành tiền so với

tài sản dài hạn. Nguồn vốn, nguồn tài chính trong doanh nghiệp được huy

động từ nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn lưu động, hai nguồn vốn này

cũng có thời gian hồn trả khơng giống nhau. Nguồn vốn thường xuyên

(nguồn vốn dài hạn) trong doanh nghiệp bao gồm nợ dài hạn và nguồn vốn

chủ sở hữu. Trong trường hợp nguồn vốn thường xuyên đủ để tài trợ cho tài

sản dài hạn thì tình hình tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm đó đang

nằm ở ngưỡng cân bằng, nằm trong trạng thái an toàn. Và trong trường hợp

nguồn vốn thường xuyên này sau khi tài trợ cho tài sản dài hạn vẫn còn một

phần đáng kể hợp lý đủ để nguồn vốn thường xuyên tài trợ cho tài sản lưu

động, đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường trong doanh

nghiệp cho dù có những biến động bất lợi cho doanh nghiệp, lúc này tình hình

tài chính của doanh nghiệp sẽ an tồn hơn, bền vững hơn. Và ngược lại,

nguồn vốn thường xuyên không đủ tài trợ cho tài sản dài hạn, tức là doanh



14

nghiệp đang sử dụng một phần nguồn vốn lưu động để tài trợ cho tài sản dài

hạn, doanh nghiệp đang trong tình trạng mất ổn định về tài chính. Lãnh đạo

doanh nghiệp không nên bỏ quan những nội dung này trong quá trình xem

xét, cân nhắc ra quyết định.

Nói một các khác, mỗi một quyết định của doanh nghiệp về cấu trúc vốn

cũng chính là mỗi quyết định liên quan đến nguồn hình thành nên tài sản

trong doanh nghiệp và mỗi một quyết định về cấu trúc vốn sẽ xác lập trạng

thái về tình hình tài chính trong doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp có đạt

trạng thái cân bằng tài chính dài hạn hay khơng, nguồn vốn thường xun của

doanh nghiệp có đủ để tài trợ cho tài sản dài hạn hay khơng và doanh nghiệp

có rơi vào tính trạng mất cân bằng tài chính dài hạn khi các khoản nợ ngắn

hạn đến hạn thanh tốn hay khơng, điều này chịu ảnh hưởng bởi quyết định về

cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Một số lý thuyết nền tảng về cấu trúc vốn làm

nền tảng cho cân bằng tài chính dài hạn của doanh nghiệp được tác giả trình

bày như sau:

1.2.1. Lý thuyết Modigliani và Miller về cấu trúc vốn

Lý thuyết cơ bản nhất về cấu trúc vốn có thể kể đến là lý thuyết của

Modigliani và Miller (M&M) trong các nghiên cứu năm 1958 và năm 1963.

Lý thuyết (M&M) về cấu trúc vốn lý giải được quan hệ giữa giá trị công ty,

chi phí sử dụng và mức độ sử dụng nợ của công ty. Trong nghiên cứu năm

1958, trường hợp giả định rằng, khơng có thuế thu nhập doanh nghiệp, thị

trường vốn là cạnh tranh hồn hảo, khơng có chi phí giao dịch cũng như

khơng có chi phí phá sản, quan điểm của lý thuyết M&M cho rằng cấu trúc

vốn không có ảnh hưởng gì đến giá trị của cơng ty hoặc cơng ty khơng có

cách nào để gia tăng giá trị bằng cách thay đổi cấu trúc vốn. Có thể phát biểu

theo cách khác, trong điều kiện giả định nói trên, giá trị cơng ty có vay nợ và

khơng vay nợ là như nhau. Nếu giá trị của công ty khơng có vay nợ (VU) và



15

giá trị cơng ty có vay nợ (VL) thì trong trường hợp này VU = VL.

Giá trị cơng ty



VU = VL



Giá trị nợ D

Hình 1.1. Minh họa lý thuyết M&M trong môi trường giả định trên



Năm 1963, bằng việc đưa thuế thu nhập doanh nghiệp vào mơ hình

nghiên cứu, lý thuyết M&M 1963 đã kết luận: Trong điều kiện có thuế thu

nhập doanh nghiệp, giá trị của cơng ty có vay nợ bằng giá trị của cơng ty

khơng có vay nợ cộng với hiện giá của “lá chắn thuế”. Trong điều kiện này,

cho dù công ty có vay nợ hay khơng, cơng ty vẫn phải nộp thuế thu nhập

doanh nghiệp với thuế suất là TC. Nếu giá trị của cơng ty khi khơng có vay nợ

được tài trợ bằng 100% vốn chủ sở hữu là (VU) và giá trị của cơng ty khi có

vay nợ (VL), cơng ty có khoản vay nợ (D) bằng cách phát hành trái phiếu thì

trong trường hợp có sự xuất hiện của lá chắn thuế có thể diễn tả bằng công

thức như sau:

VL = VU + TCD



Giá trị công ty



16



VL

VL1

VU



D*t



VU



Giá trị nợ (D)

Hình 1.2. Minh họa lý thuyết M&M trong mơi trường có lá chắn thuế



Trong trường hợp có sự xuất hiện của lá chắn thuế giá trị của doanh

nghiệp tăng lên khi sử dụng nợ vay, khi đó doanh nghiệp vay nợ sẽ tiết kiệm

được phần thuế do lợi ích tấm chắn thuế từ lãi vay. Đây cũng là lý do mà nhà

quản lý doanh nghiệp thường sử dụng vay nợ trong cấu trúc vốn của mình.

Tuy nhiên, việc sử dụng nợ vay sẽ kéo theo những rủi ro đối với doanh

nghiệp, doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng mất cân bằng tài chính dài hạn

khi q trình chuyển đổi thành tiền của tài sản không đáp ứng kịp thời để

thanh toán cho các khoản vay đến hạn. Vay ngắn hạn là khoản vay mang tính

thuận tiện, nhanh chóng hơn, chi phí lãi vay trong ngắn hạn thấp hơn, doanh

nghiệp dễ tiếp cận với nguồn vốn vay này hơn so với vay dài hạn, nhưng

ngược lại áp lực thanh toán của nợ vay ngắn hạn lại lớn hơn so với vay dài

hạn. Với lợi ích từ việc sử dụng nợ vay, nhà lãnh đạo cần phải thận trọng

trong việc đưa ra quyết định sử dụng bao nhiêu nợ vay trong đó bao nhiêu là

nợ vay ngắn hạn và bao nhiêu là nợ vay dài hạn để đảm bảo sự tài trợ hợp lý

cho cấu trúc tài sản, đảm bảo tình hình cân bằng tài chính dài hạn trong doanh



17

nghiệp.

1.2.2. Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn

Được phát triển bởi Kraus& Litzenberger (1973) cho rằng nhà quản

trị của doanh nghiệp có thể xác định được một cấu trúc vốn tối ưu nhằm tối

đa hóa giá trị cơng ty dựa trên sự đánh đổi giữa lợi ích và chi phí của việc sử

dụng nợ. Lợi ích từ nợ đó là lợi ích từ lá chắn thuế nhờ lãi vay. Còn chi phí

tiềm tàng từ việc sử dụng nợ là chi phí kiệt quệ tài chính bao gồm các chi phí

như chi phí trả cho luật sư giải quyết phá sản, chi phí trả cho kế tốn và nhân

viên quản trị cơng ty trong q trình chờ phá sản, chi phí do mất khách hàng

và nhà cung cấp hay chi phí đại diện…Theo như Wald (1999), giá trị hiện tại

của phần thuế tiết kiệm do việc gia tăng vay nợ sẽ bị triệt tiêu bằng sự gia

tăng của giá trị hiện tại trong chi phí phá sản. Điều này có nghĩa là, tại thời kỳ

ban đầu, có những lợi ích từ việc chi trả thuế được gọi là lá chắn thuế, doanh

nghiệp sẽ trả ít thuế hơn lượng họ phải trả bằng việc vay thêm nhiều nợ. Vào

thời kỳ tiếp theo, khi có quá nhiều nợ, doanh nghiệp sẽ đối mặt với rủi ro về

việc hoàn trả trong tương lai và một khi khơng có khả năng chi trả, doanh

nghiệp có thể rơi vào tình trạng phá sản. Cấu trúc vốn tối ưu tại điểm mà tại

đó với mỗi lượng nợ tăng thêm thì hiện giá của tấm chắn thuế bằng với hiện

giá của chi phí kiệt quệ tài chính. Do đó, doanh nghiệp ln tìm mọi cách để

tối đa hóa tổng giá trị của mình trên nguyên tắc tận dụng lợi ích từ lá chắn

thuế để xác định trong cấu trúc vốn của mình bao nhiêu là nợ, bao nhiêu là

vốn cổ phần.

Ngoài ra, lý thuyết cũng cho thấy được sự khác biệt trong cấu trúc vốn

giữa nhiều ngành có mức sử dụng tài sản cố định hữu hình khác nhau. Do đó,

nhà quản trị doanh nghiệp cần phải xem xét đặt điểm riêng của ngành nghề

kinh doanh mình để đưa quyết định về cấu trúc vốn phù hợp cho chính doanh

nghiệp mình.



18

Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn đã giải thích được mặt hạn chế của lý

thuyết M&M về chi phí kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp vay nợ.

Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn đã chỉ ra rằng có sự đánh đổi giữa lợi

ích và chi phí của việc sử dụng nợ, doanh nghiệp phải lựa chọn sử dụng nợ

vay ở mức độ nào là hợp lý để vừa tăng giá trị của doanh nghiệp vừa kiểm

soát được chi phí kiệt quệ tài chính ở mức cho phép. Mặt khác, doanh nghiệp

cần phải xem xét việc sử dụng nợ trong cấu trúc vốn cần phải tương ứng với

cấu trúc tài sản của doanh nghiệp, đảm bảo tình hình cân bằng tài chính dài

hạn trong doanh nghiệp. Điều này đã phần nào làm rõ nội dung cấu trúc vốn

chính là nền tảng của cân bằng tài chính dài hạn.

1.2.3. Lý thuyết trật tự phân hạng

Lý thuyết trật tự phân hạng được phát triển bởi Stewart Myers và

Nicolas Majluf (1984) lý giải các quyết định đầu tư và tài trợ của doanh

nghiệp dựa trên cơ sở thông tin bất cân xứng. Thực tế đã chứng minh rằng

các nhà quản lý doanh nghiệp sẽ ln có đầy đủ thơng tin về doanh nghiệp

của mình hơn các nhà đầu tư bên ngoài và bất kỳ hành động nào của họ

cũng sẽ ảnh hưởng tới tình hình chung của doanh nghiệp. Ví dụ như, việc

phát hành thêm cổ phần bởi các nhà quản lý sẽ có thể làm cho giá trị thị

trường của cổ phiếu giảm xuống bởi vì nhà đầu tư sẽ suy đốn rằng nhà quản

trị đang tính tốn giá trị công ty đang được định giá cao hơn thực tế. Dựa

vào lý thuyết này, nguồn tài chính được phân hạng như sau: đầu tiên là việc

sử dụng các nguồn vốn hiện có bên trong doanh nghiệp, tiếp sau đó là các

khoản vay nợ, cuối cùng là huy động vốn chủ sở hữu mới. So sánh với lý

thuyết cân bằng, vay nợ được xếp ở ưu tiên thứ hai và huy động vốn chủ sở

hữu mới (phát hành thêm cổ phiếu) là lựa chọn cuối cùng. Về phía doanh

nghiệp, doanh nghiệp luôn ưu tiên sử dụng nguồn vốn bên trong để tài trợ

hơn là nguồn vốn bên ngoài để tránh trường hợp bán chứng khoán dưới mệnh



19

giá. Ngược lại với các nhà đầu tư thì vốn cổ phần và nợ đều mang rủi ro và

rủi ro về vốn cổ phần sẽ cao hơn nên các nhà đầu tư luôn yêu cầu một tỷ suất

sinh lời cao hơn nợ. Vì vậy, có sự khác nhau về chi phí tương đối sử dụng

nguồn lực tài trợ trong doanh nghiệp.

Ngoài ra, lý thuyết trật tự phân hạng cũng giải thích tại sao các doanh

nghiệp có khả năng sinh lợi cao thường vay ít hơn, khơng phải vì doanh

nghiệp có tỷ lệ đòn bẩy mục tiêu thấp hơn mà vì doanh nghiệp khơng cần

nguồn tài trợ từ bên ngoài, nguồn vốn tài trợ bên trong doanh nghiệp đã đáp

ứng đủ nhu cầu của doanh nghiệp. Ngược lại, các doanh nghiệp có khả năng

sinh lợi thấp hơn thì thường phát hành nợ vì nguồn vốn nội bộ khơng đủ cho

đầu tư vốn và vì tài trợ bằng nợ đứng đầu trong trật tự phân hạng nguồn tài trợ

từ bên ngoài.

Lý thuyết trật tự phân hạng đã chỉ rõ doanh nghiệp luôn ưu tiên sử

dụng nguồn vốn bên trong doanh nghiệp, và khi doanh nghiệp có nguồn vốn

bên trong lớn đủ để tài trợ cho tài sản dài hạn và đảm bảo một phần đáng kể

phù hợp tài trợ cho tài sản lưu động phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh

doanh ở mức bình thường thì lúc đó tình hình tài chính của doanh nghiệp

đang nằm trong trạng thái an toàn. Trường hợp nguồn vốn bên trong doanh

nghiệp không đủ để tài trợ, doanh nghiệp sẽ xem xét đến việc sử dụng nợ.

Quyết định sử dụng nợ như thế nào, bao nhiêu là ngắn hạn, bao nhiêu là dài

hạn, hay việc có nên phát hành thêm cổ phiếu hay không cần được nhà quản

trị xem xét dựa trên mối quan hệ tài trợ của cấu trúc vốn tương ứng đối với

cấu trúc tài sản. Thêm vào đó, tùy từng đặc điểm của doanh nghiệp, tùy từng

trường hợp cụ thể mà nhà quản trị sẽ có những quyết định khác nhau để gia

tăng nguồn vốn cho doanh nghiệp với mục tiêu giảm thiểu rủi ro và đảm bảo

tình hình cân bằng tài chính dài hạn cho doanh nghiệp.



20

1.2.4. Lý thuyết chi phí đại diện

Chi phí đại diện là loại chi phí phát sinh khi một tổ chức gặp phải vấn đề

về sự thiếu đồng thuận giữa mục đích của người quản trị và người sở hữu và về

vấn đề thông tin bất cân xứng. Người đại diện (người quản trị) là người làm

việc thay mặt cho người sở hữu công ty. Người quản trị là người được thuê để

quản lý và điều hành công ty và người quản trị ln có xu hướng tối đa hóa

lợi ích của bản thân trước tiên và tiếp theo mới xem xét đến lợi ích của người

sở hữu. Mâu thuẫn giữa người chủ sở hữu và người đại diện về lợi ích là điều

khơng thể tránh khỏi. Trong khi đó, người sở hữu của cơng ty khơng hoặc có rất

ít điều kiện giám sát thường xuyên từng hành động của người quản trị. Lúc này

sẽ phát sinh chi phí đại diệm, chi phí để người chủ sở hữu kiểm sốt các hoạt

động của nhà quản lý như là chi phí cho hệ thống kiểm sốt nội bộ, chi phí

cho kiểm toán…nhằm giảm đi vấn đề rủi ro đạo đức và lựa chọn đối nghịch.

Bên cạnh đó, theo như Jensen (1986), phân phối nợ trong cấu trúc vốn là một

cách giảm thiểu chi phí trung gian. Cụ thể hơn, điều này sẽ cung cấp cho

những bên cho vay công ty quyền nhận một phần vốn của họ nếu như công

ty không có khả năng chi trả lãi và số vốn vay ban đầu, cũng đồng nghĩa với

việc người quản trị có khả năng phải đối mặt với rủi ro mất việc làm và danh

dự. Lúc này đây, mâu thuẫn giữa chủ sở hữu và nhà quản lý gần như khơng

còn được quan tâm.

Theo Jenshen và Meckling (1967) mâu thuẫn về chi phí đại diện còn

được thể hiện qua mâu thuẫn giữa người chủ sở hữu với chủ nợ, mâu thuẫn

này xuất hiện trong các hợp đồng vay nợ cho các dự án đầu tư. Thơng thường

các khoản đầu tư sẽ có thu nhập cao hơn giá trị của các khoản đầu tư và người

chủ sở hữu sẽ là người hưởng toàn bộ phần chênh lệch này sau khi trừ đi chi

vay nợ và nợ vay. Nhưng trong trường hợp dự án khơng đạt thành cơng như

mong đợi thì người chủ sở hữu doanh nghiệp sẽ gánh chịu thua lỗ ở một mức



21

độ nhất định do trách nhiệm hữu hạn của khoản đầu tư và thiệt thòi về lợi ích

về phía nhà đầu tư. Do đó, để bảo vệ mình nhà đầu tư thường xây dựng các

điều khoản hạn chế trong các hợp đồng vay, các điều khoản này sẽ hạn chế

doanh nghiệp ở một hoặc một vài khía cạnh nào đó. Để giảm thiểu rủi ro, chủ

nợ có thể yêu cầu được trực tiếp tham gia giám sát tiến trình thực hiện của dự

án, đây là một trong những những chi phí đại diện mà người chủ sở hữu phải

trả để được sử dụng các khoản vay của chủ nợ. Chi phí đại diện mà người chủ

sở hữu phải chịu phải được thỏa thuận trước giữa các bên, người chủ sỡ hữu

phải cân nhắc tính tốn giữa chi phí đại diện và lợi ích từ việc sử dụng nợ.

Thực hiện quá trình này sẽ giúp doanh nghiệp đưa ra quyết định hợp lý về cấu

trúc vốn. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần xem xét thêm mối quan hệ giữa cấu

trúc vốn và cấu trúc tài sản để đưa ra những quyết định đúng đắn cho doanh

nghiệp, đảm bảo cân bằng tài chính dài hạn cho doanh nghiệp.

1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÂN BẰNG TÀI CHÍNH DÀI

HẠN CỦA DOANH NGHIỆP

Các yếu tố ảnh hưởng đến cân bằng tài chính dài hạn của doanh nghiệp

đã được nhiều học giả trên thế giới cũng như trong nước quan tâm. Các kết

quả nghiên cứu thực nghiệm trước đây cho thấy rằng vẫn còn tồn tại những ý

kiến trái chiều nhau về chiều hướng tác động và mức độ ảnh hưởng của các

yếu tố. Điều này có thể được lý giải là do có sự không đồng nhất của điều

kiện bên trong cũng như bên ngồi của mỗi quốc gia, mỗi nhóm ngành cũng

như mỗi một doanh nghiệp. Căn cứ vào đặc điểm riêng của ngóm ngành sản

xuất thực phẩm đồ uống và điều kiện chung của nền kinh tế thị trường tại Việt

Nam, phần viết sau đây tác giả liệt kê một số yếu tố mà tác giả cho là chủ đạo

ảnh hưởng đến vốn lưu động ròng, ảnh hưởng đến tình hình cân bằng tài

chính dài hạn của doanh nghiệp, bao gồm: cấu trúc tài chính, cấu trúc tài sản,

hiệu quả hoạt động kinh doanh, tốc độ tăng trưởng doanh thu, chu kì tiền mặt,



22

dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, khả năng thanh tốn, số năm hoạt động,

quy mơ doanh nghiệp, và vốn lưu động ròng năm trước. Trong đó, yếu tố số

năm hoạt động đã được các nghiên cứu trong nước và ngồi nước chứng minh

có ảnh hưởng đến đòn bẩy tài chính, mức độ cơng bố thơng tin, cấu trúc tài

chính, tuy nhiên yếu tố số năm hoạt động chưa được các nghiên cứu thực

nghiệm trong nước cũng như ngoài nước nghiên cứu trong mối quan hệ đến

cân bằng tài chính dài hạn, trong nghiên cứu của mình tác giả đi sâu tìm hiểu

về mối quan hệ này.

1.3.1. Cấu trúc tài chính

Cấu trúc tài chính của một doanh nghiệp là sự kết hợp giữa việc sử

dụng vốn nợ và vốn chủ sở hữu theo một tỷ lệ nhất định để tài trợ cho hoạt

động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để đánh giá và đo lường cấu

trúc tài chính của DN, các nghiên cứu trước đây thường căn cứ vào các thước

đo đòn bẩy tài chính của DN, hệ số thường được sử dụng là tổng nợ phải trả

trên tổng nguồn vốn. Nghiên cứu của Wasiuzzaman (2012) đã cho thấy rằng:

Có mối quan hệ tỉ lệ nghịch giữa vốn lưu động ròng và đòn bẩy tài chính [16].

Theo lý thuyết trật tự phân hạng, nguồn vốn từ nội bộ là nguồn vốn ưu tiên sử

dụng đầu tiên, tiếp theo là nguồn vốn từ nợ, và sau cùng là nguồn vốn từ mở

rộng vốn chủ sở hữu. Một công ty sử dụng nợ nhiều tức là nguồn vốn nội bộ

tại doanh nghiệp không đáp ứng được nhu cầu hiện tại của doanh nghiệp,

nguồn vốn thường xuyên không đủ lớn cần thiết để tài trợ cho tài sản lưu

động trong doanh nghiệp, do đó doanh nghiệp có khả năng rơi vào trạng thái

mất cân bằng tài chính dài hạn. Nghiên cứu của Đinh Thị Thu Thủy (2015) về

các nhân tố ảnh hưởng đến cân bằng tài chính dài hạn của các doanh nghiệp

sản xuất hàng tiêu dùng trên thị trường chứng khoán Việt Nam đã khẳng định

rằng cấu trúc tài chính có quan hệ nghịch chiều với cân bằng tài chính dài hạn

[5].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÂN BẰNG TÀI CHÍNH DÀI HẠN CỦA

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x