Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nghiên cứu cho thấy rằng các DN đã áp dụng công cụ dự toán nhận thấy lợi ích có được từ việc sử dụng các công cụ dự toán là vừa phải: với thang điểm từ 1 đến 5, nhận thức về lợi ích của việc vận dụng KTQT có điểm số trung bình là 3,46.

Nghiên cứu cho thấy rằng các DN đã áp dụng công cụ dự toán nhận thấy lợi ích có được từ việc sử dụng các công cụ dự toán là vừa phải: với thang điểm từ 1 đến 5, nhận thức về lợi ích của việc vận dụng KTQT có điểm số trung bình là 3,46.

Tải bản đầy đủ - 0trang

74

dụng nguồn lực có hiệu quả, từ đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của

mình. Nói một cách cụ thể, nếu doanh nghiệp thực hiện công tác dự toán,

doanh nghiệp sẽ chủ động, linh hoạt hơn trong hoạt động kinh doanh của

mình; đó là trên cơ sở bảng dự toán được lập, doanh nghiệp sẽ lên kế hoạch

huy động các nguồn lực phù hợp với chi phí thấp nhất, kịp thời nhất để tiến

hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Có thể nói, huy động và sử dụng nguồn

lực là bài tốn ln thách thức các nhà quản trị đi tìm lời giải tối ưu, và cơng

cụ dự toán được xem là phương pháp giúp nhà quản trị đi tìm lời giải tối ưu

cho bài tốn đó cho vấn đề cạnh tranh trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt như

hiện nay. Vì vậy, trong mơi trường có mức độ cạnh tranh càng cao thì việc

vận dụng càng nhiều cơng cụ dự tốn trong hoạt động quản trị nói chung và

hoạt động quản trị tài chính nói riêng là phù hợp với thực tế hiện nay.

b) Phân cấp quản lý

Phân cấp quản lý gắn liền trách nhiệm của từng bộ phận trong doanh

nghiệp dẫn đến hình thành các trung tâm trách nhiệm, chính điều này đã đặt ra

yêu cầu dự tốn và kiểm sốt chi phí tại từng trung tâm. Cơng việc dự tốn

được thực hiện nhằm gắn liền trách nhiệm của mỗi bộ phận, mỗi cá nhân với

mục tiêu của doanh nghiệp; và dự toán của doanh nghiệp khơng chỉ gắn với

việc tổ chức thực hiện mà còn là cơ sở để thực hiện công tác kiểm tra, kiểm

sốt sau này. Ngồi ra, q trình dự tốn còn đặt ra yêu cầu là ai làm dự toán

và ai sẽ thực hiện dự toán theo phân cấp quản lý của doanh nghiệp. Do vậy,

phân cấp quản lý được xem là tiền đề để thực hiện dự toán trong doanh

nghiệp; một doanh nghiệp có mức độ phân cấp quản lý cao thì đòi hỏi phải

vận dụng dự tốn để gắn trách nhiệm của từng bộ phận trong quá trình kinh

doanh nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của từng bộ phận trong

doanh nghiệp.

c) Trình độ của nhân viên kế tốn



75

Lập dự tốn và một cơng việc khá phức tạp với nhiều nội dung nên đòi

hỏi người lập phải có trình độ nhất định. Nhân viên kế tốn sẽ là người phụ

trách công việc này. Nếu nhân viên kế tốn trong doanh nghiệp có trình độ

cao thì việc lập dự tốn của họ sẽ khơng gặp nhiều khó khăn, do đó việc vận

dụng cơng cụ này để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ

càng nhiều. Ngược lại, nếu nhân viên kế toán trong doanh nghiệp hạn chế về

trình độ, thì việc vận dụng cơng cụ này trong doanh nghiệp sẽ ít đi.

- Ứng dụng cơng nghệ thơng tin trong việc lập dự tốn

Dự tốn là một công việc phức tạp, mất nhiều thời gian, công sức của

người lập. Ứng dụng công nghệ thông tin khi thực hiện dự toán sẽ giúp người

lập giảm bớt rất nhiều khối lượng công việc. Trước đây, khi công nghệ thông

tin chưa phát triển cũng như việc hạn chế ứng dụng cơng nghệ thơng tin trong

hoạt động kế tốn đã hạn chế rất nhiều việc vận dụng dự toán trong doanh

nghiệp. Ngày nay, khi doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thơng tin ngày càng

nhiều trong hoạt động kế tốn của mình, và với sự phát triển của cơng nghệ

thơng tin nói chung, cơng nghệ phần mềm kế tốn nói riêng thì việc vận dụng

dự tốn trong doanh nghiệp ngày càng phổ biến hơn.

4.2. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

4.2.1. Kết luận

Thứ nhất: Dự tốn đóng một vai trò quan trọng trong các DN, kể cả các

DN nhỏ và vừa. Điều này hoàn toàn trái ngược với quan điểm truyền thống

cho rằng chỉ những DN quy mô lớn mới cần áp dụng. Mặc dù, thiếu hụt trong

việc sử dụng công cụ này có thể chưa nghiêm trọng tới mức dẫn đến phá sản

hay thất bại của các DN nhưng chắc chắn kết quả hoạt động của các DN này

sẽ được cải thiện nếu cơng cụ dự tốn nói riêng và các cơng cụ KTQT nói

chung được quan tâm và sử dụng đúng mức. ở Việt Nam, trong điều kiện sức

ép cạnh tranh ngày càng tăng, kết quả này là một gợi ý quan trọng về mặt



76

chính sách hỗ trợ trong việc đào tạo cho các DNNVV. Mặt khác, luận điểm

này cũng là một gợi ý cho các nghiên cứu trong tương lai. Các nhà nghiên cứu

có thể thực hiện nghiên cứu chi tiết hơn để đánh giá về mối quan hệ giữa sử

dụng cơng cụ dự tốn nói riêng và các cơng cụ KTQT nói chung với kết quả

hoạt động của DNNVV.

Thứ hai: Thực tiễn cũng cho thấy các công cụ dự tốn đã cung cấp những

thơng tin tài chính quan trọng cho các nhà quản trị DN, nhất là đối với các

DNNVV, là yếu tố giúp cho các này tồn tại trong cuộc cạnh tranh khốc liệt.

Đối chiếu với Việt Nam, với việc mở cửa và mức độ cạnh tranh đang gia tăng

khơng ngừng, các DN nói chung và các DNNVV nói riêng đã bắt đầu phải

quan tâm tới việc xây dựng hệ thống KTQT. Mặc dù vậy, đây vẫn còn là một

điều khá mơ hồ. Do đó, các đơn vị không tránh khỏi việc lúng túng trong xây

dựng và triển khai hệ thống này. Học tập kinh nghiệm từ các nước bạn sẽ là

những gợi ý rất tốt cho việc lựa chọn mơ hình cũng như mục tiêu trọng điểm

để xây dựng hệ thống KTQT cho DNNVV trong các giai đoạn khác nhau.

Đây cũng là mục tiêu mà các trường đại học nên hướng tới khi xây dựng nội

dung giảng dạy cũng như các khóa học chuyên đề.

Thứ ba: Kết quả nghiên cứu cho thấy các DN chưa thực sự quan tâm và

cũng chưa nhận ra lợi ích của các cơng cụ dự tốn phục vụ cho việc ra quyết

định kinh tế. Tuy nhiên, để có thể đẩy mạnh việc sử dụng các cơng cụ này đòi

hỏi những nỗ lực lớn trong việc đào tạo và tuyên truyền cho các DN, đặc biệt

là các DN nhỏ và vừa. Đây cũng là một gợi ý rất quan trọng cho các nhà làm

chính sách, các hiệp hội nghề nghiệp và các nhà giáo dục trong việc hỗ trợ,

đào tạo và tiếp cận các DNNVV.

Thứ tư: Nghiên cứu đã chỉ ra một vài nhân tố tác động thuận chiều đến

việc vận dụng cơng cụ lập dự tốn bao gồm: cạnh tranh, phân cấp quản lý,

ứng dụng công nghệ thông tin trong lập dự tốn và trình độ nhân viên kế tốn.



77

Từ đó, có thể dựa trên kết quả nghiên cứu để đẩy mạnh hơn nữa việc vận

dụng công cụ lập dự tốn ở các DN.

Quy trình dự tốn trong mơi trường kinh doanh cạnh tranh toàn cầu ngày

nay cũng quan trọng như trong môi trường truyền thống trước đây. Quả thật,

quá trình dự tốn thậm chí trở nên quan trọng hơn trong môi trường hoạt động

kịp thời về quản trị chất lượng tổng thể (TQM) được cung cấp, và khi những

máy tính, thiết bị kinh doanh điện tử và lưu trữ dữ liệu đã được sử dụng nhiều

hơn. Trong môi trường kinh doanh mới những dữ liệu kinh doanh hiện tại

được làm sẵn một cách nhanh chóng, và nguồn ngân sách phải được cập nhật

một cách liên tục để phù hợp với nhu cầu của nhà quản trị trong việc đánh giá

hiệu suất hoạt động. Những nguyên tắc của quá trình dự tốn khơng thay đổi

trong mơi trường mới, mà nó được cung cấp chỉ với tốc độ và sự sắp đặt hợp

lý về khía cạnh thời gian.

4.2.2. Hàm ý chính sách

Cần quan tâm nhiều hơn đến mảng nghiên cứu này.

Nên thực hiện nghiên cứu khám phá trước để đánh giá về thực trang nhu

cầu thơng tin dự tốn và những nhân tố tác động tới việc sử dụng thông tin. Các

nghiên cứu khảo sát hoặc định lượng trên diện rộng chưa thật phù hợp bởi lẽ

mức độ sử dụng công cụ KTQT trong các DNNVV hiện tại là rất thấp và cũng

chưa có nhiều cơ sở để xây dựng các giả thuyết nghiên cứu cần kiểm định.

Nhân tố con người trong việc lập dự toán rất quan trọng. Nhà quản trị sử

dụng các kỹ thuật để lập dự toán ngân sách nhưng cũng không thể không quan

tâm đến nhân tố con người, bởi vì dự tốn có vai trò động viên và tạo sự phối

hợp giữa các bộ phận trong DN nhằm hướng đến mục tiêu chung.

Sự thành công của dự toán phụ thuộc vào mức độ chấp nhận của các nhà

quản trị về dự toán và cách sử dụng dự tốn. Một dự tốn thành cơng phải được

sự chấp thuận và ủng hộ của các nhà quản trị các cấp, đặc biệt là các nhà quản trị



78

cấp cao. Nếu các nhà quản trị cấp cao thiếu quan tâm đến dự tốn hoặc xem dự

toan chỉ mang tính hình thức, các nhà quản trị cấp thấp hơn cũng sẽ tỏ thái độ

thiếu nhiệt tình trong việc xây dựng và thực hiện dự tốn ngân sách.

Trong q trình xây dựng và thực hiện dự tốn, nhà quản trị khơng nên gây

áp lực căng thẳng đối với nhân viên. Nếu dự toán được xây dựng khơng hợp lý,

có thể dẫn tới tình trạng căng thẳng, hồi nghi hay chống đối từ phía các nhân

viên, thay vì cùng nhau hợp tác để đạt được các mục tiêu chung của DN. Trên

thực tế ở nhiều DN, dự toán được sử dụng để gây áp lực đến nhân viên buộc họ

phải đạt được mục tiêu mà dự toán đề ra bằng mọi giá. Tuy nhiên, điều này sẽ

nảy sinh những tiêu cực khi nhân viên tìm mọi cách, kể cả gian dối để đạt được

mục tiêu của dự tốn. Ví dụ, nếu tiền thưởng của giám đốc phụ trách bán hàng

được tính dựa trên việc đạt được chỉ tiêu doanh thu trên các dự toán tiêu thụ sản

phẩm hàng năm, họ có thể tìm mọi cách để biện hộ rằng mục tiêu dự toán là quá

cao so với điều kiện kinh doanh trên thực tế. Trong trường hợp nhà quản trị đã

đạt được mục tiêu về doanh thu bán hàng trong kỳ, họ có thể trì hỗn việc bán

hàng sang kỳ sau, thậm chí có động cơ bóp méo sổ sách kế tốn để chuyển phần

doanh thu bán hàng vượt dự toán sang kỳ sau.

Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng mục tiêu trên dự tốn ngân sách phải

mang tính vừa sức. Điều này nhằm tạo động lực cho nhân viên thực hiện mục

tiêu dự toán đề ra. Nếu mục tiêu là từ dự toán ngân sách là quá cao, nhân viên sẽ

buông xuôi khi biết rằng mục tiêu khó đạt được. Ngược lại, nếu mục tiêu q

thấp, nhân viên sẽ khơng có động cơ phấn đấu.

Những phân tích trên cho thấy, nhà quản trị khi xây dựng và thực hiện dự

tốn khơng nên chỉ q tập trung và kỹ thuật tính tốn mà còn phải xét đến

nhân tố con người trong DN. Nếu được xây dựng tốt, dự tốn ngân sách sẽ là

cơng cụ đắc lực của các nhà quản trị trong việc hoạch định, đánh giá kết quả

thực hiện và kiểm soát trchs nhiệm của các nhà quản lý trong DN.



79

4.3. ĐÓNG GÓP CỦA NGHIÊN CỨU, HẠN CHẾ VÀ PHƯƠNG

HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐỀ TÀI

4.3.1. Đóng góp của nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu đã xây dựng các giả thiết và mơ hình nghiên cứu các

nhân tố ảnh hưởng đến lập dự toán ở các DN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

Nghiên cứu sẽ cung cấp bằng chứng thực nghiệm mới về việc sử dụng

các cơng cụ lập dự tốn trong DN. Đồng thời nghiên cứu này sẽ đóng góp vào

việc bổ sung những nhân tố ảnh hưởng đến lập dự toán ở DN trên địa bàn

thành phố Đà Nẵng trong bối cảnh hiện nay.

Các nhà quản lý trong DN sẽ nhận thức được tầm quan trọng của nhóm

cơng cụ lập dự tốn như là phương tiện để cải thiện thành quả hoạt động và

duy trì khả năng cạnh tranh trên thị trường.

4.3.2. Hạn chế và phương hướng phát triển đề tài

Những hạn chế của đề tài: đề tài đã nghiên cứu các nhân tố tác động đến

việc lập dự toán của một vùng, tuy nhiên trong một vùng thì các DN có ngành

nghề hoạt động ở các lĩnh vực khác nhau, nên khi đánh tác động của các nhân tố

trến đến việc lập dự toán ở các DN này sẽ khác nhau. Trong giới hạn thời gian

cho phép, tác giả thu thập được số lượng mẫu nghiên cứu ở 126 DN, mẫu còn

tương đối nhỏ.

Phương hướng phát triển của đề tài: nghiên cứu về các cơng cụ KTQT ở

DNNVV, trong đó đánh giá sự tác động của riêng cơng cụ dự tốn ở các DN

NVV hoặc ở một lĩnh vực ngành nghề cụ thể đang là khoảng trống nghiên cứu.



TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

[1]



http://hoiketoankiemtoan.vn/tabid/452/newsid/3543/Ke-toan-quan-tritrong-doanh-nghiep-nho-va-vua-tai-Canada-va-nhung-kinh-nghiemcho-Viet-Nam.aspx



[2] TS. Đoàn Ngọc Phi Anh (2012), “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến

việc vận dụng kế toán quản trị chiến lược trong các Doanh nghiệp Việt

Nam”, Tạp chí Phát Triển Kinh Tế, Số: 246, trang 9-15.

[3] Lê Thị Lệ Chi (2012), “Hồn thiện cơng tác lập kế hoạch ngân sách tại

Tổng Cơng ty cổ phần dệt may Hòa Thọ”, Luận văn thạc sĩ kinh doanh,

Đại học Đà Nẵng.

[4] Nguyễn Thị Cúc (2011), Hồn thiện cơng tác lập dự tốn tại viễn thơng

Quảng Nam, Đại học Đà Nẵng.

[5] Võ Thị Thùy Linh (2011), “Hồn thiện cơng tác lập dự tốn hoạt động tại

Cơng ty cổ phần cơng nghệ phẩm Đà Nẵng”, Đại học Đà Nẵng.

[6] Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005), Phân tích dữ liệu nghiên

cứu với SPSS, NXB Thống Kê.

[7] PGS.TS Đào Văn Tài và cộng sự (2003), Giáo trình Kế tốn quản trị áp

dụng cho các Doanh nghiệp Việt Nam, NXB Tài Chính.

[8] GS.TS. Trương Bá Thanh, TS. Trần Đình Khơi Ngun, ThS. Lê Văn

Nam (2008), Giáo trình Kế tốn quản trị, NXB Giáo Dục.

[9] PGS.TS. Phạm Văn Dược, TS. Huỳnh Lợi (2009), Giáo trình Mơ hình và

cơ chế vận hành Kế tốn quản trị, NXB Tài Chính.

[10] TS. Huỳnh Lợi (2012), Giáo trình Kế tốn quản trị, NXB Phương Đơng.

[11] TS. Đồn Ngọc Quế, TS. Lê Đình Trực (2013), Giáo trình Kế tốn quản

trị, NXB kinh tế TP. Hồ Chí Minh.

[12] TS. Phan Quốc Dũng (2009), Giáo trình Kế tốn quản trị, NXB thống

kê.



[13] Vũ Văn Thuật (2014), “Hoạch định ngân sách tại Công ty cổ phần thủy

điện Đăk Rơ Sa”, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, Đại học Đà

Nẵng

Tiếng Anh

[14]Abdel-Kader, M., and Luther, R. (2008). The impact of firm

characteristics on management accounting practices: a UK-based

empirical analysis. The British Accounting Review, 40(1): 2-27.

[15] Ahmad (2012). “The use of management accounting practices in

Malaysian SMES”. Doctor of Philosophy in Accountancy

[16] Ahmad,Sulaiman (2003). “Are budgets useful? A survey of Malaysian

company”. Managerial Auditing Journal, 18(9): 717-724

[17] Ali Uyar, Necdet Bilgin (2011). “Budgeting practices in the Turkish

hospitality industry: an exploratory survey in the Antalya region”.

International Journal of Hospitality Management 30: 398-408

[18] Anthony, R., and Govindarajan, V. (2001). Management control systems.

Auflage, New York.

[19] Cardos, Pete Stefan et el (2013). Traditional budgeting versus beyond

budgeting: a literature review in Romania. Management accounting

research: 573-580.

[20] Chenhall, R. H., and Morris, D. (1986). The impact of structure,

environment, and interdependence on the perceived usefulness of

management accounting systems. The Accounting Review, LXI(1): 1635.

[21] Chenhall, R. H., and Langfield-Smith, K. (2007). Multiple perspectives

of performance measures. European Management Journal, 25(4), 266282.

[22] Chenhall, R. H. (2003). Management control systems design within its

organizational context: findings from contingency-based research and

directions for the future. Accounting, Organizations and Society, 28(23): 127–168.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nghiên cứu cho thấy rằng các DN đã áp dụng công cụ dự toán nhận thấy lợi ích có được từ việc sử dụng các công cụ dự toán là vừa phải: với thang điểm từ 1 đến 5, nhận thức về lợi ích của việc vận dụng KTQT có điểm số trung bình là 3,46.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×