Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẬP DỰ TOÁN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LẬP DỰ TOÁN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẬP DỰ TOÁN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LẬP DỰ TOÁN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

10

tài chính và phi tài chính cho ban quản trị để lập kế hoạch, theo dõi việc thực

hiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp, đảm bảo việc sử dụng có

hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này. Những người bên

trong doanh nghiệp rất đa dạng, gọi chung là các nhà quản lý, nhưng nhu cầu

thông tin của họ phản ánh một mục đích chung là phục vụ q trình ra quyết

định nhằm tối đa hóa lợi nhuận.

Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về hệ thống kế toán quản trị, tuy

nhiên các định nghĩa này đều có điểm chung là hệ thống kế tốn quản trị tạo

ra thơng tin trợ giúp nhà quản trị trong việc lập dự toán, phối hợp hoạt động

giám sát và đánh giá thành quart hoạt động của từng bộ phận cũng như của

toàn đơn vị. (MacDolnald, 1999).

1.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của kế toán quản trị

Để đảm nhận được vai trò cung cấp thơng tin cho nhà quản trị , kế tốn

quản trị có các chức năng sau:

a) Phân tích cách ứng xử của chi phí

Phân tích cách ứng xử chi phí là một nội dung cơ bản của quản trị chi

phí. Khơng thể dự toán, hoạch định, cũng như kiểm tra kiểm soát mà không

biết rõ đặc điểm và phân loại một cách cụ thể các loại chi phí. Trong phân tích

chi phí cần phải xem xét nội dung, bản chất của từng loại chi phí cũng như

các hình thức biểu hiện của chi phí thơng qua nhiều tiêu thức sắp xếp khác

nhau.

b) Lập dự tốn và truyền đạt thơng tin

Để sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp có thể tiến hành một cách

thường xuyên, liên tục, các Doanh nghiệp phải thiết lập các kế hoạch. Mọi

hoạt động của DN đều được tiến hành theo kế hoạch ngắn hạn, trung hạn, dài

hạn đã xây dựng.



11

Để thực hiện chức năng này, KTQT phải tổ chức việc thu thập các thông

tin cần thiết để lập dự tốn bao gồm thơng tin về tổ chức, về định mức, chi phí

tiêu chuẩn, các thơng tin kế tốn tài chính, thống kê cũng như các kỹ thuật

tính tốn, ước tính phục vụ cho việc lập dự tốn của DN.

Qua các dự tốn này, nhà quản trị dự tính được những gì sẽ xảy ra trong

tương lai, kể cả những điều bất lợi, thuận lợi, cho Doanh nghiệp trong quá

trình thực hiện dự tốn. Các dự tốn này đóng vai trò hạt nhân quan trọng

trong việc thực hiện các chức năng hoạch định, kiểm tra, kiểm soát của quản

trị. Thực hiện mục tiêu này, KTQT phải đảm bảo truyền đạt các thơng tin dự

tốn và thơng tin khác cho bộ phận liên quan trong nội bộ doanh nghiệp. Dự

toán này phải được lập một cách toàn diện, đầy đủ tất cả các bộ phận, bao

gồm cả dự toán tổng thể và dự toán đầu tư.

c) Kiểm tra, đánh giá, cổ động

KTQT có nhiệm vụ thực hiện việc kiểm tra kiểm soát hoạt động kinh

doanh từ trước, trong và sau quá trình hoạt động kinh doanh của đơn vị.

Thơng qua kết quả so sánh cho thấy sự khác nhau giữa thực hiện với dự tốn

đã lập, tìm ra các ngun nhân ảnh hưởng để có thể điều chỉnh q trình thực

hiện, cũng như đánh giá kết quả, thành tích của cá nhân, bộ phận. Trên cơ sở

đó, nhà lãnh đạo mới có thể có các chính sách hỗ trợ, cổ động đến các nhân

viên, các bộ phận trong Doanh nghiệp.

d) Hỗ trợ ra quyết định

Ra quyết định là một công việc thường xuyên, ảnh hưởng đến mọi hoạt

động của Doanh nghiệp. Q trình này rất cần các thơng tin cụ thể từ nhiều

nguồn thơng tin, trong đó chủ yếu là thơng tin của kế toán quản trị; để các nhà

quản trị xem xét, cân nhắc lựa chọn từ các phương án khác nhau rồi tìm ra

phương án tối ưu với hiệu quả cao nhất mà rủi ro thấp nhất cho DN.

1.1.3. KTQT và lý thuyết ngữ cảnh (contingent theory)



12

Lý thuyết ngữ cảnh về KTQT cho rằng “khơng có một hệ thống kế tốn

thống nhất nào có thể áp dụng cho tất cả các DN trong mọi ngữ cảnh” (Otley,

1980). Hay nói cách khác, một hệ thống KTQT thích hợp với DN lệ thuộc vào

đặc điểm của DN đó, cũng như ngữ cảnh mà DN đó hoạt động.

Các nghiên cứu dựa trên lý thuyết ngữ cảnh xem xét các công cụ KTQT

vừa là biến độc lập, vừa là biến phụ thuộc. Khi xem KTQT là biến phụ thuộc,

một vài nghiên cứu sử dụng lý thuyết này để kiểm chứng mối quan hệ giữa

việc sử dụng các công cụ KTQT và các nhân tố ngữ cảnh ảnh hưởng đến DN.

Những nhân tố này bao gồm: môi trường hoạt động, cấu trúc DN, công nghệ,

quy mô DN và chiến lược. Khi xem KTQT là biến độc lập, một số nghiên cứu

đã kiểm chứng mối quan hệ giữa việc sử dụng KTQT với thành quả của việc

sử dụng KTQT.

Lý thuyết ngữ cảnh sẽ được sử dụng trong nghiên cứu này để giải thích

các nhân tố ảnh hưởng đến việc lập dự trong ngữ cảnh của DN trên địa bàn

thành phố Đà Nẵng.

1.2. TỔNG QUAN VỀ DỰ TOÁN TỔNG THỂ TRONG DOANH

NGHIỆP

1.2.1. Khái niệm về dự toán

Theo Horngeren (2006, tr. 181) dự toán là biểu hiện định lượng của một

kế hoạch trong một thời gian nhất định và xác định những yếu tố cần thiết để

phối hợp thực hiện kế hoạch đó. Blumentritt (2006, tr.73) thì cho rằng dự

tốn là q trình phân bổ nguồn lực tài chính của một tổ chức cho các đơn vị

và các hoạt động đầu tư khác của tổ chức đó.

Các tổ chức lập dự tốn cho các mục đích khác nhau. Trong số các lợi

ích của việc lập dự tốn đáng chú ý đó là dự báo về tương lai, đánh giá thành

quả, đo lường thành tích, thúc đẩy động viên người lao động, kiểm soát và

định giá. (Joshi và Com, 1997).



13

Theo Anthony (2001), các tổ chức thường lập ra trước các kế hoạch. Một

tổ chức không thể phát triển nếu họ không nghĩ đến các mục tiêu ở tương lai

và cái cách mà họ đạt tới. Một nhóm người mà khơng hoạt động theo bất kỳ

kế hoạch nào thì họ chỉ đơn thuần là một đám đông rời rạc, khơng có định

hướng, và như vậy khơng được coi là một tổ chức.

Theo Zdanowicz ( 2004), thì dự tốn là một kế hoạch tài chính cho hoạt

động kinh doanh dựa trên vốn chủ sở hữu, các chi tiết xây dựng kế hoạch này

có thể khác nhau ở các cơng ty tùy theo nhu cầu của họ, nhưng về bản chất thì

tương tự nhau. Tác giả chỉ ra rằng: dự tốn là một cơng cụ để mơ tả một hoạt

động nói chung, một kế hoạch về việc sử dụng vốn định hướng theo các mục

tiêu đã đặt ra trong một khoảng thời gian nhất định.

Trong các chức năng của quản trị, hoạch định là chức năng quan trọng

không thể thiếu đối với mọi doanh nghiệp. Kế hoạch là xây dựng mục tiêu

của doanh nghiệp và vạch ra các bước thực hiện để đạt được mục tiêu đã đặt

ra. Dự toán là việc hiện thực hóa kế hoạch trên phương diện tài chính nhằm

liên kết các mục tiêu cụ thể, chỉ rõ các tài nguyên phải sử dụng, đồng thời dự

tính kết quả thực hiện trên cơ sở các kỹ thuật dự báo (Võ Thị Thùy Linh,

2011).

Các mục tiêu của việc lập dự tốn khơng chỉ là dự đốn những gì sẽ xảy

ra và hoạt động kiểm sốt sau này của mình, mà nó là q trình thiết lập và

phối hợp các mục tiêu cho tất cả các lĩnh vực của công ty, trong một cách mà

tất cả mọi người cùng hợp tác làm việc để thực hiện kế hoạch lợi nhuận

(Padoveze, 1994).

1.2.2. Phân loại dự toán

Tùy theo nhu cầu cung cấp thơng tin của nhà quản lý cũng như mục đích

phát triển của doanh nghiệp trong tương lai, khi xây dựng dự tốn các nhà



14

quản trị có thể lựa chọn các loại dự toán khác nhau. Căn cứ vào từng tiêu thức

phân loại cụ thể, dự toán được phân loại thành:

a) Phân loại theo chức năng

Theo tiêu thức này thì dự tốn gồm 2 loại, đó là dự tốn hoạt động và dự

tốn tài chính.

Dự tốn hoạt động là dự tốn phản ánh mức thu nhập và chi phí đòi hỏi

để đạt mục tiêu lợi nhuận. Dự tốn tài chính là dự tốn phản ánh tình hình tài

chính theo dự kiến và cách thức tài trợ cần thiết cho các hoạt động đã lập dự

toán. Mỗi loại dự toán trên gồm nhiều dự toán bộ phận liên quan.

Trong một DN sản xuất, dự toán tổng thể thường bao gồm những nội

dung sau:

- Dự toán hoạt động, bao gồm:

+ Dự toán sản xuất

+ Dự tốn chi phí vật tư và cung ứng vật tư cho sản xuất

+ Dự tốn chi phí nhân cơng trực tiếp

+ Dự tốn chi phí sản xuất chung

+ Dự tốn giá vốn hàng bán

+ Dự tốn chi phí bán hàng

+ Dự tốn chi phí quản lý DN

+ Dự tốn chi phí tài chính

- Dự tốn tài chính, bao gồm:

+ Dự toán vốn (dự toán đầu tư)

+ Dự toán đầu tư

+ Báo cáo kết quả kinh doanh dự toán

+ Bảng cân đối kế toán dự toán

+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ dự toán

b) Phân loại theo mối quan hệ với mức độ hoạt động

Theo cách phân loại này thì dự tốn gồm hai loại: dự tốn tĩnh và dự toán

linh hoạt.

- Dự toán tĩnh: là dự toán được lập theo một mức độ hoạt động nhất

định. Dự toán tĩnh sẽ không bị điều chỉnh hay thay đổi kể từ khi được lập ra;

bất kể có sự thay đổi về doanh thu tiêu thụ, các điều kiện kinh doanh xảy ra

trong kỳ dự toán. Nhưng trong thực tế, sự biến động của các yếu tố chủ quan



15

và khách quan thường xuyên như: sự lên xuống của giá cả thị trường, biến

động về sản lượng tiêu thụ, thay đổi các chính sách kinh tế… Do đó, dự tốn

tĩnh thường phù hợp với những DN sản xuất sản phẩm theo đơn đặt hàng, tình

hình sản xuất kinh doanh ổn định.

- Dự toán linh hoạt: là dự toán được lập với nhiều mức độ hoạt động

nhất định trong cùng một phạm vi hoạt động. Dự toán linh hoạt giúp nhà quản

trị thấy được sự biến động chi phí khi mức độ hoạt động thay đổi. Do đó, nó

có ý nghĩa trong việc đánh giá hiệu quả kiểm sốt chi phí thực tế của DN và

phù hợp với những DN sản xuất theo nhu cầu thị trường.

c) Phân loại theo thời gian

Bao gồm dự toán ngắn hạn và dự toán dài hạn:

- Dự toán ngắn hạn: là dự toán chủ đạo được lập trong một năm tài

chính hoặc dưới một năm, và được chia thành từng kỳ ngắn hơn là từng quý,

tháng, từng tuần phù hợp với kỳ kế toán của DN nhằm thuận tiện cho việc

đánh giá giữa kết quả thực hiện và kế hoạch. Dự toán ngắn hạn thường liên

quan đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của DN như: tiêu thụ, sản xuất,

bán hàng, thu, chi… Dự toán này thường được lập hàng năm trước khi kết

thúc niên độ kế toán nhằm hoạch định kế hoạch kinh doanh của DN trong

năm kế hoạch tiếp theo. Như vậy, để cung cấp thơng tin đáng tin cậy cho việc

lập dự tốn ở các kỳ tiếp theo, đòi hỏi các nhà quản lý phải ln ln đánh giá

đúng tình hình thực hiện dự tốn.

- Dự tốn dài hạn: còn được gọi là dự toán vốn, dự toán này liên quan

đến tài sản cố định. Dự toán vốn là việc sắp xếp các nguồn lực về tiền để thu

được số lợi nhuận dự kiến trong tương lai trung hoặc dài hạn. Dự toán vốn

liên quan đến việc ra quyết định đầu tư dài hạn nên cần phải có một sự phân

tích, thẩm định hiệu quả tài chính dự án đầu tư một cách khoa học.

1.2.3. Tầm quan trọng của lập dự toán tổng thể doanh nghiệp

a) Mục đích lập dự tốn



16

Mục đích cơ bản của dự toán tổng thể doanh nghiệp là phục vụ cho việc

hoạch định và kiểm tra hoạt động kinh doanh. Thơng qua đó mà người quản

lý đạt được mục tiêu của các tổ chức kinh doanh là tối đa hóa lợi nhuận.

 Hoạch định:

Dự tốn ngân sách buộc người quản lý phải dự tính những gì sẽ xảy ra

trong tương lai. Chẳng hạn như, thay vì chờ đợi việc bán hàng xảy ra, người

quản lý cần biết trước vấn đề, giải quyết vấn đề trước khi có những biến cố

xảy ra.

 Kiểm tra

Kiểm tra là quá trình so sánh kết quả thực hiện với kế hoạch và đánh giá

việc thực hiện đó. Kiểm tra phụ thuộc vào kế hoạch, khơng có kế hoạch thì

khơng có cơ sở để so sánh kết quả và đánh giá việc thực hiện. Nếu khơng

kiểm tra, dự tốn ngân sách sẽ khơng phát huy hết tác dụng vốn có của nó.

Việc đánh giá các mục tiêu đề ra được cung cấp bởi các báo cáo thực hiện.

Báo cáo thực hiện là tài liệu trình bày số liệu dự toán và kết quả thực hiện, so

sánh để thấy được sự thay đổi giữa thực hiện và dự tốn. Nếu sự thay đổi đó

lớn, vượt q mức cho phép, người quản lý sẽ điều tra nguyên nhân của sự

thay đổi, thấy được những hoạt động đúng đắn cần phải phát huy và những

hoạt động sai lầm cần loại bỏ.

Báo cáo thực hiện thông tin cho người quản lý thấy được những mặt hoạt

động không xảy ra theo kế hoạch. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, sai lầm

nằm ngay trong dự tốn, do dự tốn khơng sát thực tế.

Tóm lại, so sánh kết quả thực hiện với dự toán ngân sách được xem là kỹ

thuật kiểm soát trong quản lý. Người quản lý không chỉ biết dự tính cái gì mà

còn phải biết những dự tính đó được hoàn thành như thế nào. Nếu kết quả xảy

ra khơng theo dự tính, người quản lý phải có những biện pháp để điều chỉnh

hoạt động ngày càng tốt hơn.

b) Vai trò

Dự tốn là cơ sở định hướng và chỉ đạo mọi hoạt động kinh doanh cũng

như phối hợp các chương trình hành động ở các bộ phận, là cơ sở để kiểm tra



17

kiểm sốt các nội dung chi phí cũng như nhiệm vụ từng bộ phận. Thực hiện

chức năng này, kế toán quản trị phải tổ chức việc thu thập các thơng tin cần

thiết để lập dự tốn gồm thông tin về tổ chức, về định mức, về chi phí tiêu

chuẩn, các thơng tin kế tốn tài chính, thống kế cũng như kỹ thuật tính tốn,

ước tính phục vụ cho việc lập dự toán ở doanh nghiệp. Qua các dự tốn này,

nhà quản trị dự tính được những gì sẽ xảy ra trong tương lai, kể cả những điều

bất lợi, thuận lợi cho các doanh nghiệp trong quá trình thực hiện dự tốn. Các

dự tốn này đóng vai trò hạt nhân quan trọng trong việc thực hiện các chức

năng hoạch định, kiểm tra, kiểm soát của quản trị. Thực hiện mục tiêu này, kế

toán quản trị phải đảm bảo truyền đạt các thơng tin dự tốn và thơng tin khác

cho bộ phận liên quan trong nội bộ doanh nghiệp. Dự toán này phải được lập

một cách toán diện, đầy đủ tất cả các bộ phận bao gồm cả dự tốn tổng thể và

dự tốn đầu tư.

c) Sự hữu ích của cơng cụ lập dự tốn

Trong các nghiên cứu trước đây, sự hữu ích của cơng cụ lập dự tốn được

đo lường thông qua nhận thức của người sử dụng, tức là nó được đo dựa trên

cảm nhận của người được phỏng vấn về việc lập dự toán hỗ trợ trong hoạt

động của mình (Chenhall và Langfield – Smith, 1998). Lợi ích dựa trên nhận

thức trong những nghiên cứu này được đo lường dựa trên thang đo Likert từ

khơng có ích đến rất có ích. Kết quả các nghiên cứu này cho thấy rằng các

công cụ KTQT truyền thống được nhận thức là đem lại nhiều lợi ích hơn các

cơng cụ hiện đại ở Úc. Kết quả tương tự như vậy trong một nghiên cứu của

Joshi (2001) tại Ấn Độ,

Tuy nhiên, có một số nghiên cứu khác lại đưa ra những kết luận khác về

sự hữu ích của cơng cụ lập dự toán. Họ cho rằng việc lập dự toán có thể dẫn

đến những hành vi bất thường phục vụ cho lợi ích nhóm hoặc cá nhân, và tốn

một lượng lớn thời gian quản lý. Ngồi ra, chúng còn cản trở doanh nghiệp về



18

sự linh động và thích nghi trong mơi trường ngày càng khó lường, do đó

khơng đồng bộ với yêu cầu cạnh tranh (Hope and Fraser, 2003)

Trong một cuộc khảo sát nghiên cứu về sự ích của việc lập dự toán ở

Malaysia ( Nik Nazli Nik Ahmad và cộng sự, 2003), tác giả đã đưa ra kết luận

rằng nhiều cơng ty ở nước này sử dụng nhóm cơng cụ lập dự tốn. Nó là một

phần quan trong trong khâu lập kế hoạch và kiểm soát. Theo nghiên cứu này

thì dự tốn sẽ trở nên khơng còn ý nghĩa quan trọng nữa khi doanh nghiệp ở

trong môi trường hoạt động có sự thay đổi nhanh chóng.

1.2.4. Nội dung dự toán tổng thể DN

Dự toán tổng thể là tổ hợp của nhiều dự tốn của mọi hoạt động của DN,

có liên hệ với nhau trong một thời kỳ nào đó. Dự tốn tổng thể có thể lập cho

nhiều thời kỳ như tháng, quý, năm. Hình thức và số lượng các dự toán thuộc

dự toán tổng thể tùy thuộc vào từng loại hình DN.

Dự tốn được xây dựng dựa trên cơ sở của dự báo. Kết quả của quá trình

xây dựng dự toán là các báo cáo nội bộ và các báo cáo đó khơng thể cung cấp

cho người ngồi DN. Dự tốn tổng thể chính là kỳ vọng hoặc mong muốn của

nhà quản lý về những công việc mà DN dự tính hành động cũng như kết quả

tài chính của các hoạt động đó.

Do hoạt động của DN sản xuất thường đa dạng và phức tạp nhất nên

trình tự xây dựng dự toán tổng thể ở DNSX được xét đến nội dung này.

a) Dự toán tiêu thụ

Dự toán tiêu thụ là nền tảng của dự tốn tổng thể DN, vì dự toán này sẽ

xác lập mục tiêu của DN so với thị trường, với môi trường. Tiêu thụ được

đánh giá là khâu thể hiện chất lượng hoạt động của DN. Hơn nữa, về mặt lý

thuyết tất cả các dự toán khác của DN suy cho cùng đều dựa vào loại dự toán

tiêu thụ. Dự toán tiêu thụ chi phối đến các hoạt động khác, nếu xây dựng

không phù hợp sẽ ảnh hưởng đến chất lượng dự toán tổng thể DN. Dự toán



19

tiêu thụ được lập dựa trên dự báo tiêu thụ. Dự tốn tiêu thụ bao gồm những

thơng tin về chủng loại, số lượng, giá bán, và cơ cấu sản phẩm tiêu thụ.

Ngồi ra, dự tốn tiêu thụ còn dự báo cả mức bán hàng thu bằng tiền và

bán hàng tín dụng, cũng như các phương thức tiêu thụ. Khi lập dự toán tiêu

thụ, các nhà quản lý cần xem xét ảnh hưởng chi phí Marketing đến hoạt động

tiêu thụ tại DN. Trong DN, bộ phận kinh doanh hoặc Marketing có trách

nhiệm trực tiếp cho việc lập dự tốn tiêu thụ.

b) Dự toán sản xuất

Việc xây dựng dự toán sản xuất nhằm xác định số lượng, chủng loại sản

phẩm sản xuất trong kỳ đến. Để xây dựng dự toán sản xuất cần dựa vào:

 Số lượng sản phẩm tồn kho đầu kỳ được ước tính theo thực tế của kỳ

trước

 Số lượng sản phẩm tiêu thụ dự toán được sác định theo dự toán tiêu thụ

 Nhu cầu sản phẩm tồn kho theo mong muốn của nhà quản trị. Đây

chính là mức dự trữ tối thiểu cần thiết để phục vụ tiêu thụ cho kỳ sau thời kỳ

dự toán. Mức tồn kho cuối kỳ dựt ính nhiều hay ít thường phụ thuộc vào độ

dài chu kỳ sản xuất. Nhu cầu này được xác định theo một tỷ lệ phần trăm nhu

cầu tiêu thụ của kỳ sau.

 Khả năng sản xuất của đơn vị

c) Dự tốn chi phí sản xuất

Lập dự tốn chi phí sản xuất nhằm xác định tồn bộ chi phí để sản xuất

một khối lượng sản phẩm đã được xác định trước. Q trình sản xuất nào

cũng ln gắn với một trình độ kỹ thuật trong một thời kỳ nhất định. Do vậy,

khó có thể có một phương pháp dự tốn chung cho tất cả mọi loại hình khác

nhau. Ở phương pháp tổng quát, chi phí sản xuất sản phẩm gồm ba khoản

mục: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân cơng trực tiếp, chi phí sản

xuất chung. Dự tốn chi phí sản xuất thể hiện đầy đủ ba loại chi phí này.

Nhiệm vụ đặt ra trong phần này khơng chỉ xác định chi phí sản xuất cụ thể

cho từng loại, từng đơn vị mà còn phải chú ý đến nhiệm vụ cắt giảm chi phí

mà DN có thể thực hiện.



20

- Dự tốn chi phí ngun vật liệu trực tiếp

Dự toán này phản ánh tất cả chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cần thiết để

đáp ứng yêu cầu sản xuất đã được thể hiện trên dự toán khối lượng sản phẩm

sản xuất. Để lập dự toán nguyên liệu trực tiếp cần xác định:

+ Định mức tiêu hao nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm.

+ Đơn giá xuất nguyên vật liệu. Thông thường đơn giá xuất ít thay đổi.

Tuy nhiên để có thể phù hợp với thực tế và làm cơ sở cho việc kiểm tra, kiểm

soát khi dự toán đơn giá này phải biết doanh nghiệp sử dụng phương pháp

tính giá hàng tồn kho nào

+ Mức độ dự trữ nguyên vật liệu vào cuối kỳ dự tốn được tính tốn trên

cơ sở lý thuyết quản trị tồn kho.

- Dự toán cung cấp nguyên vật liệu

Dự toán cung cấp nguyên vật liệu được lập cho từng loại nguyên vật liệu

cần thiết để thực hiện quá trình sản xuất trên cơ sở số lượng nguyên vật liệu

dự tốn cần thiết sử dụng và chính sách dự trữ tồn kho của doanh nghiệp theo

công thức sau:

Số tiền cần thiết phải chuẩn bị để mua nguyên vật liệu được tính tốn

dựa vào việc dự báo đơn giá mua nguyên vật liệu và dự toán mua nguyên vật

liệu trực tiếp được xây dựng. Đơn giá nguyên vật liệu là giá thanh tốn với

nhà cung cấp.

- Dự tốn chi phí nhân cơng trực tiếp

Dự tốn chi phí nhân cơng trực tiếp được xây dựng từ dự toán khối lượng

sản xuất. Dự tốn này cung cấp những thơng tin quan trọng liên quan đến quy

mô của lực lượng lao động cần thiết cho kỳ dự toán. Mục tiêu cơ bản của dự

tốn này là duy trì lực lượng lao động vừa đủ để đáp ứng yêu cầu sản xuất,

tránh tình trạng lãng phí hoặc bị động trong sử dụng lao động. Dự tốn lao

động còn là cơ sở để doanh nghiệp lập dự tốn về đào tạo, tuyển dụng trong

q trình hoạt động sản xuất.

Chi phí nhân cơng trực tiếp thường là biến phí trong mối quan hệ với

khối lượng sản phẩm sản xuất. Trong một số ít các trường hợp chi phí nhân



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẬP DỰ TOÁN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LẬP DỰ TOÁN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×