Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CẤU TRÚC TÀI CHÍNH ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH XÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CẤU TRÚC TÀI CHÍNH ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH XÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

31

chức xây dựng ở phía Nam, tăng cường năng lực các tổ chức xây dựng ở phía

Bắc để thực hiện nhiệm vụ khôi phục nền kinh tế - xã hội, đồng thời tập trung

thi cơng các cơng trình trọng điểm của Nhà nước. Hàng loạt cơng trình quan

trọng đã được khởi cơng xây dựng như Thuỷ điện Hòa Bình, Trị An, Xi măng

Hồng Thạch, Bỉm Sơn..., các cơng trình khai thác và sàng tuyển than, tuyển

quặng Apatít Lào Cai.

Giai đoạn 5 năm 1981 – 1985: Trong lĩnh vực xây dựng công nghiệp,

dân dụng đã tập trung cao độ phấn đấu hồn thành các cơng trình trọng điểm

như: 2 tổ máy nhiệt điện Phả Lại; mở rộng Nhà máy Super phốt phát Lâm

Thao; hoàn thành các nhà máy Xi măng Bỉm Sơn, Hoàng Thạch, chế biến gỗ,

kéo sợi, giấy Bãi Bằng, chế biến nơng sản. thực phẩm,... Các cơng trình lớn

được xây dựng như Thuỷ điện Hồ Bình, Thuỷ điện Trị An, Apatít Lào Cai,

Nhà máy kính Đáp Cầu, Giấy Tân Mai, Xi măng Hà Tiên. cơng trình dầu khí

Vũng Tàu... đã phát huy hiệu quả của các cơng trình then chốt trong nền kinh

tế quốc dân vào kỳ kế hoạch 5 năm sau 1986 - 1990. Tốc độ tăng giá trị xây

lắp trong giai đoạn này bình quân trên 25%: Năm 1982 tăng 20% so năm

1981, năm 1983 tăng 21% so năm 1982, năm 1984 tăng 28% so năm 1983, và

năm 1985 tăng 36% so năm 1984. Các đơn vị xây lắp thuộc Bộ Xây dựng

đảm nhận nhiều cơng trình trọng điểm quốc gia, tỉ trọng giá trị xây lắp các

cơng trình trọng điểm chiếm 79,7% tổng giá trị xây lắp của Bộ.

Giai đoạn 5 năm 1986 – 1990: Trong lĩnh vực xây dựng công nghiệp,

dân dụng bước đầu thực hiện theo phương thức đấu thầu, mặc dù đang còn sơ

khai. Tuy vậy đã có tác dụng tích cực thúc đẩy các đơn vị chú ý sắp xếp lại

lực lượng lao động, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kĩ thuật, máy móc thi

cơng để nâng cao chất lượng cơng trình và hiệu quả xây lắp.



32

Giai đoạn 5 năm 1991-1995: Quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn

quốc lần thứ VII về chiến lược ổn định phát triển kinh tế - xã hội đến năm

2000 và các mục tiêu đề ra trong kế hoạch 5 năm 1991 - 1995, ngành Xây

dựng đã có nhiều nỗ lực, tạo được bước ngoặt quan trọng và đúng hướng

trong nhiệm vụ phát triển ngành, góp phân tích cực thực hiện nhiệm vụ phát

triển kinh tế-xã hội của cả nước.

Giai đoạn 5 năm 1996 – 2000: Sau 10 năm đổi mới, ngành Xây dựng

đã tạo được thế và lực để bước vào thời kì thực hiện cơng nghiệp hố, hiện

đại hố theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII đề ra. Đây là giai đoạn có

nhiều chuyển biến về chất trong sự phát triển của ngành. Nhiều cơ chế chính

sách được Bộ tập trung xây dựng trong giai đoạn này đã tạo nên khung pháp lí

khá đồng bộ. Việc triển khai mạnh mẽ công tác quy hoạch, chiến lược, định

hướng phát triển đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lí ngành ở cấp vĩ mô.

Lực lượng sản xuất đã được sắp xếp lại. Các tổng công ty, công ty mạnh đã

được thành lập và củng cố, tiếp tục đầu tư chiều sâu để đổi mới công nghệ,

tăng năng lực sản xuất, khả năng cạnh tranh của các sản phẩm thuộc ngành,

chuẩn bị những tiền đề tiến tới hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế ở giai

đoạn sau.

Giai đoạn từ năm 2000 đến nay: Ngành Xây dựng đã có những bước

tiến đáng kể theo hướng hiện đại, cả trong lĩnh vực xây dựng cơng trình, vật

liệu xây dựng, kiến trúc và quy hoạch xây dựng, phát triển đô thị và nhà ở;

năng lực xây dựng cơng trình có nhiều tiến bộ, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu

cầu về xây dựng, kể cả những cơng trình quy mơ lớn, đòi hỏi chất lượng cao,

cơng nghệ hiện đại ở trong và ngồi nước.

Nhiều doanh nghiệp đã tiếp cận nhanh với công nghệ xây dựng mới,

trang bị thêm nhiều thiết bị hiện đại, từng bước đáp ứng được yêu cầu của



33

công tác quản lý, tư vấn, thi cơng xây dựng những cơng trình quy mô lớn,

hiện đại. Lực lượng thi công cầu đường, cơng trình ngầm của các doanh

nghiệp xây dựng đã có sự phát triển vượt bậc về trình độ cơng nghệ tiên tiến,

hiện đại và năng suất lao động. Đến nay, các doanh nghiệp xây dựng Việt

Nam đã làm chủ công nghệ thiết kế, thi cơng các cơng trình cao tầng, cơng

trình nhịp lớn, cơng trình ngầm, cơng trình trên nền địa chất phức tạp. Tốc độ

tăng trưởng bình quân của các doanh nghiệp thuộc Bộ Xây dựng luôn đạt ở

mức cao, bình quân 16,5%/năm, dẫn đầu cả nước về các lĩnh vực sản xuất xi

măng, vật liệu xây dựng, công trình hạ tầng kỹ thuật, xây dựng khu đơ thị

mới, khu cơng nghiệp, thủy điện vừa và nhỏ. Điển hình như Tổng Công ty

Sông Đà về đầu tư và xây dựng thủy điện và hầm giao thông đường bộ; Tổng

Công ty Lắp máy Việt Nam về gia công chế tạo, lắp máy các cơng trình cơng

nghiệp trong cả nước; TCty Vinaconex, TCty Xây dựng số 1 về đa dạng hóa

sản xuất kinh doanh, ứng dụng công nghệ mới trong xây dựng; TCty Xây

dựng Hà Nội về các cơng trình dân dụng trọng điểm, quan trọng của quốc gia;

TCty đầu tư phát triển nhà và đô thị về đầu tư xây dựng và quản lý khu đô thị

mới; TCty đầu tư phát triển đô thị và khu công nghiệp về đầu tư, thu hút và

quản lý khu công nghiệp hiệu quả cao; TCty Viglacera, TCty vật liệu xây

dựng số 1 về đi tắt, đón đầu trong đầu tư cơng nghệ hiện đại phát triển

VLXD; TCty xây dựng và phát triển hạ tầng về xây dựng hạ tầng và cơng

trình giao thơng ...

Qua 55 năm liên tục phát triển, ngành Xây dựng đã góp phần to lớn vào

việc hồn thành các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của đất nước, từng bước đổi

mới, phát triển và hội nhập khu vực và quốc tế. Những thành tựu đạt được đã

khẳng định vai trò của Ngành Xây dựng trong sự nghiệp cơng nghiệp hóa,

hiện đại hóa đất nước, mang lại niềm tự hào cho các thế hệ tiếp nối trong

ngành Xây dựng Việt Nam.



34

2.1.2. Giới thiệu các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị

trường chứng khoán Việt Nam

Theo thống kê hiện này, hiện trên hai Sàn giao dịch chứng khoán

TP.HCM và Hà Nội thì có khoảng 119 DN niêm yết thuộc nhóm ngành xây

dựng, chiếm 19% tổng số cơng ty niêm yết. Các chuyên gia của VPBs phân

loại các công ty xây dựng niêm yết được chia thành hai nhóm chính: nhóm

các Doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ xây dựng quản lý như họ Licogi,

Cienco, Sông Đà, Vinaconex, Lilama, Idico, các cơng ty xây dựng thuộc tập

đồn kinh tế nhà nước như PVN, EVN, Becamex (xây dựng các cơng trình hạ

tầng, cơng nghiệp); và nhóm các doanh nghiệp tư nhân (bao gồm cả các

doanh nghiệp mà tỷ lệ sở hữu của nhà nước dưới 20%) như CTD, HBC,

SC5… (chủ yếu xây dựng cơng trình dân dụng).

Mặc dù theo đăng ký kinh doanh, các công ty cổ phần ngành xây dựng

niêm yết có thể triển khai nhiều hoạt động khác nhau theo xu hướng đa

ngành, đa lĩnh vực. Tuy nhiên, ba hoạt động chính sử dụng nhiều nguồn lực,

đem lại lợi nhuận và gắn liền với quá trình phát triển của mỗi cơng ty là Xây

dựng và lắp đặt các cơng trình công nghiệp/ dân dụng/ kỹ thuật và giao thông

(100% doanh nghiệp); Đầu tư, kinh doanh bất động sản (14.16% doanh

nghiệp) và Sản xuất vật liệu (17.70%). Do đó, phần lớn tài sản trong doanh

nghiệp được đầu tư và khai thác theo yêu cầu của các hoạt động kể trên.

Đa số các doanh nghiệp ngành xây dựng đang niêm yết có quy mơ nhỏ

nên mức vốn hóa của ngành trên thị trường chứng khốn Việt Nam khơng

đáng kể. Về quy mơ vốn hóa, giá trị ngành xây dựng chỉ đạt 39,5 nghìn tỷ

đồng, chiếm 3% giá trị của tồn thị trường, trong đó Top 20 cơng ty lớn nhất

đã chiếm gần 79% giá trị của ngành, cho thấy, đa phần các công ty xây dựng

niêm yết hiện nay chỉ là các công ty nhỏ, lẻ.



35

2.1.3. Khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp

ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khốn Việt Nam

a. Tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành Xây

dựng niêm yết trên TTCK VN

Theo báo cáo của Bộ Xây dựng về tình hình thực hiện nhiệm vụ năm

2014 của ngành Xây dựng, giá trị sản xuất ngành Xây dựng năm 2014 theo

giá hiện hành ước đạt 849,000 tỷ đồng. Trong năm qua, các doanh nghiệp

ngành Xây dựng tập trung đẩy mạnh tái cơ cấu, duy trì việc làm và thu nhập

cho người lao động. Nhiều doanh nghiệp bất động sản đã tích cực đầu tư phát

triển nhà ở xã hội, xác định đây là giải pháp đúng đắn và phù hợp, vừa mang

lại lợi ích cho doanh nghiệp và người lao động. Các doanh nghiệp vật liệu xây

dựng đã đẩy mạnh việc tìm kiếm thị trường xuất khẩu.

Theo Bộ Xây dựng, tại thời điểm 01/01/2014, tổng số doanh nghiệp hoạt

động trong các lĩnh vực của ngành Xây dựng (bao gồm: xây dựng, sản xuất

vật liệu xây dựng, tư vấn xây dựng và kinh doanh bất động sản) là 75,998

doanh nghiệp (tăng 3,770 doanh nghiệp so với thời điểm 01/01/2013).

Theo đó, giá trị sản xuất ngành Xây dựng năm 2014 theo giá hiện hành

ước đạt 849,000 tỷ đồng bao gồm: khu vực Nhà nước đạt 84.3 nghìn tỷ đồng

(giảm 9% so với 2013), chiếm 10%; khu vực ngoài Nhà nước đạt 709.9 nghìn

tỷ đồng (tăng 10% so với 2013), chiếm 84%; khu vực có vốn đầu tư nước

ngồi đạt 54.8 nghìn tỷ đồng (tăng 62% so với 2013), chiếm 6.5%.

Nếu tính giá trị sản xuất ngành Xây dựng năm 2014 theo giá so sánh

2010 thì ước tính đạt 676 nghìn tỷ đồng, tăng 7.6% so với năm 2013, trong

đó: khu vực Nhà nước đạt 69.2 nghìn tỷ đồng, giảm 11%; khu vực ngồi Nhà

nước đạt 563.1 nghìn tỷ đồng, tăng 7,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngồi

đạt 43.8 nghìn tỷ đồng, tăng 58%.



36

Giá trị tăng thêm của ngành Xây dựng năm 2014 là 161.9 nghìn tỷ đồng,

tăng 7% so với năm 2013, chiếm tỷ trọng 6% GDP cả nước. Lĩnh vực kinh

doanh bất động sản và xây dựng là 02 lĩnh vực thu hút mạnh vốn đầu tư FDI.

Trong năm, Bộ đã hồn thành cổ phần hóa thêm 4 Tổng công ty

(Viglacera, Viwaseen, Xây dựng Hà Nội, Xây dựng Bạch Đằng), đưa tổng số

Tổng cơng ty đã hồn thành cổ phần là 06/15 Tổng công ty, hiện đang tiến

hành cổ phần hóa tiếp 09 Tổng cơng ty còn lại, dự kiến hồn thành trong năm

2015. Các Tổng cơng ty đã và đang tiến hành thoái vốn tại 54 danh mục thoái

vốn với giá trị 2,377 tỷ đồng, đạt 47% kế hoạch thối vốn.

Ngành xây dựng Việt Nam có P/E trung vị khoảng 7,7x và trung bình

theo vốn hóa là khoảng 9,6x, thấp nhất so với các nước trong khu vực.

Điều này phản ánh một phần tiềm năng tăng trưởng của ngành. Tuy nhiên,

P/E thấp cũng thể hiện một số rủi ro như hiệu quả kinh doanh không ổn định,

vay nợ cao, dẫn đến rủi ro hoạt động cao.

Mặt khác, chỉ số ngành xây dựng Việt Nam có mức sinh lợi cao hơn VNIndex và MSCI của thị trường cận biên châu Á kể từ đầu năm 2014 tới nay.

Do đặc điểm của ngành có biên lợi nhuận tương đối thấp hơn so với các

ngành khác, nên khi so sánh hiệu quả hoạt động của ngành xây dựng, FPTS

khuyến nghị nhà đầu tư trước hết nên xét về quy mô doanh thu.

Dẫn số liệu từ Bloomberg, VPBS cho hay trong 12 tháng gần đây, cổ

phiếu ngành xây dựng có mức giao dịch trung bình 100.000 cổ

phiếu/phiên. Chỉ số giá cổ phiếu của ngành này theo phương pháp trọng số

đều đã tăng 87,3% trong khi VN-Index, HNX-Index và ngành bất động sản

tăng lần lượt là 33,5%; 43% và 76,8%. Chỉ số giá cổ phiếu ngành xây dựng

thường biến động cùng chiều với cổ phiếu ngành bất động sản do 2 ngành này

có quan hệ mật thiết với nhau.



37

Theo thống kê của báo cáo này, trong năm 2013, có 60% doanh nghiệp

xây dựng ghi nhận tăng trưởng doanh thu so với năm 2012, thể hiện một sự

cải thiện trong tình hình kinh doanh. Tuy nhiên biên lợi nhuận gộp ở hầu hết

các công ty đều giảm so với năm 2012 do giá thầu khơng tăng nhưng chi phí

ngun liệu, nhân cơng đều tăng.

Đặc thù của doanh nghiệp ngành xây dựng là tỷ lệ đòn bẩy tài chính có

ảnh hưởng đáng kể đến kết quả kinh doanh. “Những cơng ty có tình hình tài

chính tốt và cải thiện hơn sẽ nhận được nhiều gói thầu hơn trong khi các

doanh nghiệp có nợ vay cao gặp khó khăn đẩy nhanh tiến độ dự án mới. Nhìn

chung trong 2 năm trở lại đây, hầu hết các cơng ty trong ngành đều có xu

hướng giảm tỷ lệ nợ vay/ vốn chủ sở hữu.” – báo cáo nhận xét.

b. Hiệu quả hoạt động kinh doanh của các DN ngành XD niêm yết

trên TTCK VN

Trong 6 tháng đầu năm 2015, các doanh nghiệp xây dựng cho thấy sự

tăng trưởng về lợi nhuận (chủ yếu là do chi phí lãi vay giảm mạnh, đồng thời

chi phí bán hàng và chi phí quản lý cũng được kiểm sốt chặt chẽ hơn). Tuy

nhiên phần lớn các doanh nghiệp đều sụt giảm về doanh thu (chủ yếu thuộc

phân khúc xây dựng cơ sở hạ tầng do giảm đầu tư công).

Bảng 2.1. Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh của các DN ngành xây

dựng niêm yết trên TTCK VN

Năm

Chỉ tiêu

ROA (%)

ROE (%)



Năm



Năm



Năm



Năm



Năm



Năm



2009



2010



2011



2012



2013



2014



4

18



5

21



2

10



0

-2



-1

-4



2

9



38

Từ số liệu bảng trên, giai đoạn năm 2009 – 2014, mức sinh lời ROA và

ROE của các doanh nghiệp ngành Xây dựng niêm yết trên thị trường chứng

khoán Việt Nam có xu hướng giảm dần. Thậm chí năm 2013 con số này âm

chứng tỏ hiệu quả kinh doanh nói chung của các doanh nghiệp khơng tốt. Tuy

nhiên, tình trạng sụt giảm này do sự bất ổn của thị trường trong giai đoạn

khủng hoảng.

Qua phân tích thực trạng tình hình hoạt động kinh doanh của các DN

trong ngành xây dựng, có thể nhận thấy rằng hoạt động kinh doanh của các

DN ngành xây dựng có một số đặc thù riêng như sau:

- Nhạy cảm với chu kỳ kinh doanh của nền kinh tế vĩ mô.

Khi nền kinh tế tăng trưởng, doanh số và lợi nhuận của DN trong ngành

sẽ tăng cao. Ngược lại, tình hình kinh doanh sẽ tồi tệ khi nền kinh tế suy

thối, các cơng trình xây dựng sẽ bị trì trệ vì người dân khơng còn bỏ nhiều

tiền ra để xây dựng nhà cửa, chính phủ khơng mở rộng đầu tư vào các cơng

trình cơ sở hạ tầng như cầu cống, sân bay, bến cảng, trường học, bệnh viện …

điều này làm cho doanh số, lợi nhuận của các DN trong ngành xây dựng sụt

giảm nhanh chóng.

- Là ngành kinh tế thâm dụng vốn

Trong hoạt động xây dựng, thời gian thi cơng của các cơng trình thường

kéo dài, việc nghiệm thu, bàn giao được thực hiện từng phần. Hiện nay, việc

giải ngân vốn thường chậm, q trình hồn tất hồ sơ thi công cũng như thống

nhất phê duyệt quyết toán giữa chủ đầu tư và nhà thầu thường mất nhiều thời

gian, dẫn tới tình trạng chủ đầu tư chậm thanh tốn cho các DN xây dựng, từ

đó cơng nợ của các DN xây dựng rất cao. Ngoài ra, các DN trong ngành xây

dựng tăng lợi nhuận chủ yếu dựa vào tăng doanh số. Chính vì vậy mà các DN

xây dựng thường sử dụng đòn bẩy tài chính để giải quyết vấn đề về xoay xở

đồng vốn và tăng doanh số. Các DN xây dựng Việt Nam hiện nay lệ thuộc q



39

sâu vào hệ thống ngân hàng. Khơng có tín dụng từ ngân hàng, các DN xây

dựng khơng thể trụ lâu được, hoặc nếu có trụ lâu được thì cũng khó tăng

trưởng được. Trong thời gian gần đây, nhà nước với chính sách thắt chặt tiền

tệ, các ngân hàng siết chặt tín dụng, áp dụng l.i suất ở mức cao dẫn tới chi phí

đầu vào của các DN xây dựng bị ảnh hưởng rất nặng bởi chi phí lãi vay của tỷ

lệ nợ cao.

- Trình độ cơng nghệ quyết định lợi thế cạnh tranh.

Đứng trên giác độ của người sử dụng khi có nhu cầu xây dựng một cơng

trình thì đa số họ có tâm lý quan tâm nhiều đến chất lượng cơng trình. Bởi lẽ,

chất lượng cơng trình quyết định mức độ an toàn của người sử dụng. Còn

đứng trên giác độ của chủ đầu tư, khi tham gia gọi thầu từ các DN xây dựng

th. bên cạnh chất lượng, họ quan tâm nhiều đến giá cả.

Đối với các cơng trình có khối lượng thi cơng lớn, một sự biến đổi nhỏ

về giá cả có thể làm cho chi phí của cơng trình thay đổi đáng kể. Để giải

quyết bài tốn nâng cao chất lượng cơng trình, hạ giá thành sản phẩm thì cơng

nghệ là yếu tố đóng vai trò then chốt để tạo nên thế mạnh kinh tế của công ty.

Đầu tư vào công nghệ, năng lực máy móc thiết bị hay nói cách khác chính là

đầu tư vào danh mục tài sản cố định của DN sẽ làm giảm giá thành sản phẩm,

từ đó hạ giá bán và tăng tính cạnh tranh về giá.

2.2. CÁC BIẾN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG

Trong phương pháp đo lường các biến nghiên cứu, phần lớn tác giả tham

khảo cách đo lường của các lý thuyết chương 1. Tuy nhiên, tác giả cũng có

một số điều chỉnh để phù hợp với nguồn dữ liệu ở Việt Nam, cũng như thuận

tiện trong công việc nghiên cứu của tác giả. Tác giả chọn biến phụ thuộc là tỷ

suất sinh lời vốn chủ sở hữu, biến độc lập là Cấu trúc tài chính, và các biến

còn lại gồm Quy mơ hoạt động, Cấu trúc tài sản, Khả năng thanh toán, Tốc độ



40

tăng trưởng, Rủi ro tài chính được xem như là những biến kiểm sốt. Việc

xem các biến còn lại như biến kiểm sốt nhằm thực tế hóa mơ hình khi vừa

xem xét chỉ tiêu hiệu quả tài chính sẽ bị tác động bởi nhiều yếu tố, đồng thời

vừa phù hợp với mục tiêu chính của tác giả là tập trung nghiên cứu tác động

của cấu trúc tài chính đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp.

2.2.1. Biến phụ tḥc

Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu ROE

Nghiên cứu của Hu & Izumida (2008); Le & Buck (2011); Wang & Xiao

(2011), Shah, Butt & Saeed (2011); Thomsen & Pedersen (2000) và một số

nghiên cứu khác đều sử dụng chỉ tiêu ROE để đo lường hiệu quả tài chính. Họ

chỉ ra rằng phân tích hiệu quả tài chính nhằm đánh giá sự tăng trưởng của tài

sản so với tổng số vốn mà doanh nghiệp thực có, đó chính là tỷ suất sinh lời

vốn chủ sở hữu, đồng thời mối quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp nhà đầu

tư hay đối tác... vẫn là lợi nhuận của doanh nghiệp như thế nào. Từ cơ sở trên,

tác giả lựa chọn đại diện cho hiệu quả tài chính trong doanh nghiệp là tỷ suất

sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE). Điều này hoàn toàn đúng với các quan điểm

về tỷ số đo lường hiệu quả hoạt động trước đây của các nghiên cứu thực

nghiệm cả trong và ngoài nước. Cho nên biến phụ thuộc được đo lường bằng

chỉ tiêu ROE.

Biến ROE là tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu trong năm t, được đo lường

bằng cách sử dụng chỉ tiêu Lợi nhuận sau thuế trên báo cáo tài chính được lập

theo hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam chia cho chỉ tiêu tổng vốn chủ sở

hữu bình quân của doanh nghiệp trong cùng thời kì:



2.2.2. Biến đợc lập



41

Tỷ suất nợ (Hd)

Các lý thuyết về cấu trúc vốn cho rằng khi một DN bắt đầu vay nợ, DN

sẽ có lợi thế về lá chắn thuế. Chi phí nợ thấp kết hợp với lợi thế về lá chắn

thuế sẽ khiến chi phí vốn bình qn gia quyền (WACC) giảm khi nợ tăng. Tuy

nhiên, khi tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu tăng, tác động của tỷ lệ nợ buộc các

chủ sở hữu tăng lợi tức yêu cầu của họ, nghĩa là chi phí vốn chủ sở hữu tăng.

Ở mức tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu cao, chi phí nợ cũng tăng bởi vì khả năng

DN không trả được nợ là cao hơn (nguy cơ phá sản cao hơn).

Biến Hd là tỉ suất nợ trong năm t, được đo lường bằng cách sử dụng chỉ

tiêu nợ phải trả trên báo cáo tài chính được lập theo hệ thống chuẩn mực kế

toán Việt Nam chia cho chỉ tiêu tổng nguồn vốn của doanh nghiệp trong cùng

thời kì:



Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy: tỷ lệ nợ có tác động đến hiệu quả

kinh doanh, nhưng ở các mức tỷ lệ nợ khác nhau có thể tác động cùng chiều

hoặc ngược chiều đến hiệu quả kinh doanh (Zeitun & Tian - 2007, Onaolapo

& Kajola - 2010, Margaritis & Psillaki - 2007, Weixu - 2005).

Vì vậy tác giả đưa ra giả thuyết về mối quan hệ giữa hiệu quả tài chính

và tỷ lệ nợ như sau: Cấu trúc tài chính có tác động âm (-) hoặc dương (+)

đến hiệu quả tài chính.

2.2.3. Biến kiểm sốt

a. Quy mơ hoạt động

Được đo lường bằng chỉ tiêu Tổng tài sản cuối kỳ. Phân tích thực trạng

hoạt động kinh doanh của các DN xây dựng cho thấy các DN có quy mơ lớn

sẽ có nhiều lợi thế hơn các DN có quy mơ nhỏ. Bởi lẽ, ngành xây dựng có đặc

thù là người mua chọn người bán thông qua đấu thầu cạnh tranh hoặc chỉ định



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CẤU TRÚC TÀI CHÍNH ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH XÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×