Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH VÀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH VÀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

6

Các chỉ tiêu sử dụng phổ biến nhất trong các nghiên cứu về cấu trúc tài chính,

đó là chỉ tiêu tỷ lệ nợ và tỷ lệ trên vốn chủ sở hữu.

- Hệ số nợ

Công thức :

Nợ phải trả

Tổng nguồn vốn

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp

Hệ số nợ =



hiện có được hình thành từ nợ bao nhiêu phần trăm. Tỷ suất nợ cao là dấu

hiệu cho thấy doanh nghiệp đang mất dần tính tự chủ về mặt tài chính.

- Hệ số tự tài trợ

Công thức:

Vốn chủ sở hữu

Tổng nguồn vốn

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp

Hệ số tự tài trợ =



hiện có được hình thành từ VCSH là bao nhiêu phần trăm. Tỷ suất tự tài trợ

thể hiện khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp. Tỷ suất này càng cao

chứng tỏ doanh nghiệp có tính độc lập cao về tài chính và ít bị sức ép bởi các

chủ nợ.

- Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu

Công thức:

Nợ phải trả

Vốn chủ sở hữu

Ý nghĩa: Chỉ tiêu thể hiện mức độ đảm bảo nợ bởi vốn chủ sở hữu. Chỉ

Hệ số nợ trên VCSH =



tiêu này càng cao chứng tỏ nợ nhiều hơn VCSH, tính tự chủ của doanh nghiệp

sẽ bị giảm.

Chúng ta có thể xem sơ đồ biểu diễn cấu trúc tài chính của doanh nghiệp

như sau:



7



Nợ phải trả

Vốn chủ sở hữu



Nợ ngắn hạn

Nợ trung và dài hạn

Vốn chủ sở hữu



Theo sơ đồ trên thì cấu trúc tài chính gồm hai bộ phận, có mối quan hệ

hữu cơ với nhau trong q trình huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp,

đó là nguồn vốn chủ sở hữu và nợ.

- Nguồn vốn chủ sở hữu là nguồn vốn do chủ sở hữu đóng góp vào

hoặc lợi nhuận thuộc về chủ sở hữu nhưng chưa được phân chia mà giữ lại

cho mục đích tái đầu tư. Tùy theo loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu có

tên gọi khác nhau. Trong cơng ty cổ phần vốn chủ sở hữu chính là vốn cổ

đơng, do cổ đơng góp vào dưới hình thức cổ phần thường gọi là vốn cổ phần,

và lợi nhuận thuộc về cổ đông nhưng được công ty giữ lại tái đầu tư. Vốn cổ

phần còn được chia thành vốn cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường hay vốn

cổ phần phổ thông.

- Nợ phải trả bao gồm:

+ Phản ánh những khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh tốn

trong vòng một năm hay một chu kì kinh doanh (nhỏ hơn 1 năm). Nguồn vốn

từ việc vay nợ ngắn hạn có chi phí sử dụng vốn thấp hơn thường tạo ra một áp

lực thanh toán đối với doanh nghiệp.

+ Nợ trung và dài hạn: Phản ánh những khoản nợ mà doanh nghiệp có

trách nhiệm thanh tốn vốn gốc và chi phí sử dụng vốn sau một thời hạn nhất

định hay được chia ra theo nhiều kì nhất định, bao gồm các khoản vốn trung

và dài hạn từ các tổ chức tín dụng bên ngồi như ngân hàng, cơng ty cho th

tài chính, từ việc phát hành trái phiếu vay nợ của dân chúng hay từ quỹ hỗ trợ

phát triển…Về nguyên tắc vốn vay dài hạn có chi phí sử dụng cao hơn vốn

vay ngắn hạn nhưng doanh nghiệp ít chịu áp lực thanh toán trong ngắn hạn.

1.1.2. Các lý thuyết cấu trúc tài chính



8

a. Lý thuyết của Modigliani và Miller

Giải thiết: Giả định thị trường vốn là hồn hảo, vì vậy sẽ khơng có các

chi phí giao dịch và tỷ lệ vay giống như tỷ lệ cho vay và bằng với tỷ lệ vay

miễn phí; Việc đánh thuế được bỏ qua và nguy cơ được tính hồn tồn bằng

tính khơng ổn định của các luồng tiền.

Mặc dù những giả định về thị trường vốn hòan hảo là khơng có thực, tuy

nhiên, có 2 giả thiết cần được nhấn mạnh và chúng có tác động đáng kể đến

kết quả:

1. Giả định là khơng có việc đánh thuế: Đây là vấn đề quan trọng và một

trong những thuận lợi then chốt của nợ là việc giảm nhẹ thuế cho những chi

tiêu tiền lãi.

2. Nguy cơ trong lý thuyết MM được tính tốn hồn tồn bởi tính biến

đổi của các luồng tiền. Họ bỏ qua khả năng các luồng tiền có thể dừng vì vỡ

nợ. Đây là vấn đề đáng kể khác với lý thuyết này nếu nợ cao.

Đưa ra giả định này có nghĩa chỉ có một thuận lợi của viêc vay tiền ( nợ

rẻ hơn và ít rủi ro cho nhà đầu tư) và một bất lợi (chi phí VCSH tăng cùng với

nợ vì tỷ lệ vốn vay so với tổng vốn)

Modigliani và Miller chỉ ra là những tác động này cân bằng một cách

chính xác. Việc sử dụng nợ mang đến cho chủ sở hữu tỷ suất lợi tức cao hơn,

nhưng lợi tức cao hơn này chính xác là những gì họ bù đắp cho nguy cơ tăng

lên từ tỷ lệ vốn vay so với tổng vốn. Với các giả thiết trên, dẫn đến các

phương trình cho lý thuyết M&M

Vg = Vu

Tổng giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ = Tổng giá trị doanh nghiệp

không sử dụng nợ



9

Năm 1963, Modigliani và Miller đưa ra một nghiên cứu tiếp theo với

việc loại bỏ giả thiết về thuế thu nhập doanh nghiệp. Theo M&M, với thuế

TNDN, việc sử dụng nợ sẽ làm tăng giá trị của doanh nghiệp. Vì chi phí lãi

vay là chi phí hợp lý được khấu trừ khi tính thuế TNDN, do đó mà một phần

thu nhập của doanh nghiệp có sử dụng nợ được chuyển cho các nhà đầu tư

theo phương trình :

Vg =Vu + T.D

Giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ = Giá trị của doanh nghiệp không

sử dụng nợ + khoản lợi từ việc sử dụng nợ.

Trong đó:

D: Tổng số nợ sử dụng.

T : Thuế suất thuế TNDN.

TD: Khoản lợi từ việc sử dụng nợ.

Như vây theo mơ hình thuế M&M ( 1963) cấu trúc tài chính có liên quan

đến giá trị của doanh nghiệp, tức là liên quan tới hiệu quả tài chính. Sử dụng

nợ càng cao thì giá trị của doanh nghiệp hay hiệu quả tài chính càng tăng và

giá tăng đến tối đa khi doanh nghiệp được tài trợ 100% nợ.

Tóm lại, theo lý thuyết của M&M thì khơng tồn tại một cấu trúc vốn tối

ưu cho mỗi doanh nghiệp; thuế và rủi ro tài chính có tác động đến cấu trúc

vốn vì làm tăng giá trị của doanh nghiệp. Tuy nhiên, kết luận của M&M là

chưa mang tính thực tế do chưa tính đến những vấn đề nảy sinh mâu thuẫn đại

diện bên trong các doanh nghiệp và các nhân tố khác có ảnh hưởng đáng kể

đến việc quyết định cấu trúc vốn công ty.

b. Lý thuyết cân đối (Trade-off Theory-TOT)



10

Tại thị trường hoàn hảo và hiệu quả, Modigliani và Miler (1958) chứng

minh rằng cấu trúc vốn là khơng thích hợp. Nhưng theo mơ hình M&M

(1963), việc đánh thuế cao hơn vào lợi tức cho thấy nợ nhiều hơn. Còn De

Angelo và Masulis (1980) thì cho rằng bảo trợ thuế cao hơn cho thấy nợ ít

hơn.

Mơ hình MM giả định tiền lãi mong đợi hàng năm không đổi nên giá trị

DN là như nhau bất chấp cấu trúc vốn. Nếu thực tế tiền lãi mong đợi đang ở

chiều hướng đi xuống thì việc sử dụng nợ sẽ có tác động ngược lại và có thể

dẫn DN đến chỗ phá sản. Trong q trình phá sản sẽ phát sinh các khoản chi

phí như chi phí pháp lý và chi phí hành chính, và các khoản thiệt hại của DN

do thiếu sự vỡ nợ nên nợ lớn buộc các nhà quản lý bỏ qua các các cơ hội đầu

tư có lời (Myers, 1977). Chi phí đó gọi là chi phí khánh tận tài chính. Các chi

phí khánh tận tài chính cao hơn cho thấy nhiều vốn cổ phần hơn trong cấu

trúc vốn

Thuyết chi phí trung gian thì cho thấy các vấn đề trung gian có thể là

ngun nhân cho nhiều hay ít nợ hơn. Q nhiều vốn cổ phần có thể dẫn đến

dòng tiền mặt tự do và mâu thuẫn về lãi, lợi ích giữa các nhà quản lý và cổ

đông (Jensen, 1986). Nợ quá nhiều có thể dẫn đến ký quỹ tài sản và mâu

thuẫn về lãi, lợi ích giữa các nhà quản lý và trái chủ (Fama và Miller, 1972;

Jensen và Meckling, 1976). Đối với mâu thuẫn giữa nhà quản lý và cổ đông,

mâu thuẫn phát sinh người quản lý sở hữu ít hơn 100% VCSH. Khi đó, họ

khơng được hưởng toàn bộ lợi nhuận từ hoạt động đầu tư mà họ lại phải gánh

chịu tồn bộ chi phí từ hoạt động đầu tư đó. Vì vậy, đã phát sinh các chi phí

trung gian để giám sát hoạt động và hạn chế các hành vi không mong muốn.

Đối với mâu thuẫn giữa nhà quản lý và trái chủ phát sinh khi các trái chủ lo sợ

các khoản vốn cho vay của mình khơng thể thu hồi khi kết quả đầu tư không

hiệu quả do trách nhiệm hữu hạn của các khoản đầu tư.



11

Vì vậy, phát sinh các khoản chi phí trung gian của nhà quản lý dưới hình

thức chi phí nợ vay cao nhằm giám sát các DN phải tuân thủ các điều khoản

trong hợp đồng vay. Ngoài ra, các điều khoản trong hợp đồng vay cũng hạn

chế nhiều lợi ích của doanh nghiệp.

Thuyết cân bằng xác định kết cấu vốn tối ưu bằng cách cộng thêm vào

mơ hình Modigliani và Miler (1958) các yếu tố phi hoàn hảo khác nhau, bao

gồm thuế, chi phí khánh tận tài chính và chi phí trung gian, song vẫn khơng

mất đi các giả định tính hiệu quả của thị trường và thơng tin cân bằng. Như

vậy, tác động tổng hợp 3 yếu tố: thuế, chi phí khánh tận tài chính và chi phí

trung gian khi sử dụng nợ với những tác động ngược chiều nhau hình thành lý

thuyết cấu trúc tài chính tối ưu.

Nhìn chung, việc đưa chi phí khánh tận tài chính và chi phí trung gian

vào mơ hình MM và mơ hình Modigliani và Miler (1958) dẫn đến lý thuyết

cân bằng về cấu trúc vốn. Những mơ hình này đều thừa nhận một cấu trúc vốn

tối ưu.

c. Lý thuyết trật tự phân hạng ( Pecking Order Theory-POT)

Lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking Order Theory-POT) được phát triển

bởi Myers (1984) là một lý thuyết cấu trúc vốn có nhiều khả năng lựa chọn

nguồn tài trợ dựa trên vấn đề bất cân xứng thông tin giữa các đối tượng tham

gia hoạt động kinh doanh trên thị trường.

Myers đưa ra định nghĩa về POT như sau: Một công ty được gọi là tuân

theo một trật tự phân hạng nếu cơng ty đó thích sử dụng tài trợ nội bộ hơn là

tài trợ từ bên ngồi và thích sử dụng nợ hơn là sử dụng vốn cổ phần khi phát

hành chứng khoán ra thị trường.

Myers và Majluf (1984) cho rằng sự bất cân xứng thông tin tồn tại giữa

các nhà quản lý của một công ty và thị trường đòi hỏi cần phải có một trật tự



12

phân hạng khi lựa chọn các nguồn vốn tài trợ sẵn có. Theo POT, sử dụng

nguồn vốn nội bộ để tài trợ cho các quyết định đầu tư mang tính chiến lược là

sự lựa chọn hàng đầu của đa số các công ty.

Giả thuyết cho rằng, ban quản trị cho biết về hoạt động tương lai của

doanh nghiệp nhiều hơn các nhà đầu tư bên ngồi (thơng tin khơng cân xứng)

và việc quyết định tài chính có lẽ cho biết mức độ kiến thức của nhà quản lý

và sự không chắc chắn về lưu lượng tiền mặt tương lai.

Khi ban quản trị tin tưởng cổ phiếu được đánh giá cao hơn là đánh giá

thấp, họ có thể phát hành chứng khốn (nguồn tài chính bên ngồi). Vì thế,

khi doanh nghiệp đi theo thị trường vốn bên ngoài, những thị trường này chấp

nhận cổ phiếu được đánh giá cao hơn là đánh giá thấp, và vì vậy, hoạt động

này sẽ chuyển tải thông tin không thuận lợi cho các nhà đầu tư. Kết quả là ban

quản trị sẽ nỗ lực để tránh đi theo các thị trường vốn (nguồn tài chính bên

ngồi). Nếu ban quản trị đi theo những thị trường vốn này, có khả năng họ

phát sinh nợ nhiều hơn nếu như họ tin là cổ phiếu của họ được đánh giá thấp

và sẽ sinh ra vốn cổ phần nếu như họ cho rằng cổ phiếu của họ được đánh giá

cao.

Vì vậy, sự phát hành vốn cổ phần từ việc bán cổ phiếu sẽ chuyển tải

nhiều thông tin không thuận lợi hơn là sự phát hành tiền cho vay. Điều này

khiến các nhà quản trị quan tâm đến tiền cho vay hơn là vốn cổ phần từ việc

bán cổ phiếu.

Những quyết định về kết cấu vốn không dựa trên tỷ lệ Nợ/Tài sản tối ưu

mà được quyết định từ việc phân hạng thị trường. Trước hết, các nhà quản trị

sẽ dự định sử dụng nguồn tài chính nội bộ, tiếp đến có thể phát hành tiền cho

vay, và cuối cùng là phát hành vốn cổ phần.

Tiêu điểm của thuyết này không tập trung vào kết cấu vốn tối ưu nhưng

tập trung vào sự quyết định tài chính hiện hành sắp tới.



13

Tỷ lệ Nợ/ Tài sản = f {hoạt động kinh doanh, nhu cầu đầu tư}

Như vậy, Myers và Majluf cho rằng sẽ khơng có một cấu trúc vốn tối ưu

với các doanh nghiệp. Sự kết hợp tối ưu giữa nợ và vốn chủ sở hữu là điều

không thể xảy ra. Như vậy, Dnaldson (1961) và Myers đã tìm ra một trật tự

phân hạng cho các công ty muốn thiết lập nguồn tài trợ dài hạn như sau :

Trước tiền nên sử dụng lợi nhuận giữ lại, sau đó đến nợ vay, phát hành trái

phiếu và cuối cùng mới là vốn cổ phần mới.

d. Lý thuyết tín hiệu

Stephen Ross (1977) trình bày một lý thuyết cấu trúc vốn dựa trên nền

tảng thông tin bất cân xứng. Theo ông, khi doanh nghiệp phát hành chứng

khốn mới, sự kiện này có thể được coi là cung cấp một tín hiệu cho thị

trường tài chính về viễn cảnh tương lai của doanh nghiệp. Các nhà đầu tư sẽ “

diễn giải” cấu trúc vốn khác nhau như là những tín hiệu về chất lượng thu

nhập (quality of cash flows) của doanh nghiệp ở tương lai.

Ross lập luận rằng, những tín hiệu do các thay đổi cấu trúc vốn là đáng

tin cậy, vì nếu dòng tiền tương lai không xảy ra, doanh nghiệp sẽ phải đối mặt

với chi phí phá sản. Nói chung, các hành động làm tăng đòn bẩy tài chính

thường gắn với thu nhập cổ phần dương và các hành động làm giảm đòn bẩy

tài chính thường gắn với thu nhập cổ phần âm.

1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính

Trên cơ sở lý thuyết về cấu trúc tài chính và các nghiên cứu thực nghiệm

ở trên thế giới và Việt Nam cho thấy, có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến cấu

trúc tài chính của doanh nghiệp. Trong đó các nhân tố có ảnh hưởng lớn như

quy mơ hoạt động, cấu trúc tài sản, hiệu quả tài chính và rủi ro tài chính.

a. Quy mơ hoạt động

Theo lý thuyết thơng tin bất cân xứng (Myer & Majluf 1984) thì quy mơ

của cơng ty có mối quan hệ tỷ lệ thuận với nợ vay, bởi vì cơng ty lớn thường



14

có rủi ro phá sản thấp và có chi phí phá sản thấp. Ngồi ra, các cơng ty lớn có

chi phí vấn đề người đại diện của nợ vay (agency costs of debt) thấp, chi phí

kiểm sốt thấp, ít chênh lệch thông tin hơn so với các công ty nhỏ hơn, dòng

tiền ít biến động, dễ dàng tiếp cận thị trường tín dụng, và sử dụng nhiều nợ

vay hơn để có lợi nhiều hơn từ tấm chắn thuế.

b. Cấu trúc tài sản

Theo mơ hình cân bằng tĩnh nếu một doanh nghiệp có tỷ lệ TSCĐ hữu

hình cao sẽ sử dụng nợ nhiều hơn so với một doanh nghiệp có tỷ lệ TSCĐ vơ

hình cao, vì DN có tỷ lệ TSCĐ hữu hình cao sẽ có chi phí phá sản thấp hơn

trong trường hợp bị phá sản.

Lý thuyết đánh đổi cho rằng, bởi vì các tài sản cố định hữu hình hữu ích

trong việc thế chấp để vay nợ, vậy nên các doanh nghiệp có lượng tài sản cố

định hữu hình lớn thương có nhiều cơ hội để dụng nợ hơn. Theo Williamson

(1988), giá trị tài sản hưu hình nhiều hơn cũng đồng nghĩa với giá trị thanh

khoản của doanh nghiệp càng cao, do vậy làm an lòng các chủ nợ. Lý thuyết

về thơng tin bất cân xứng cũng giải thích được mối tương quan (+) giữa đòn

bẩy tài chính và tài sản cố định Theo Jensen và Meckling (1976); Myers

(1984) sử dụng nợ bảo đảm còn giảm mâu thuẩn giữa chủ DN và chủ nợ, do

đó sẽ làm giảm chi phí đại diện.

c. Hiệu quả tài chính

Các nghiên cứu thực nghiệm của Pendey (2001), Huang and Song

(2002), Braduri (2002) ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi cho thấy hiệu

quả tài chính có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với tỉ suất nợ. Ở Việt Nam, nghiên

cứu của TS. Trần Đình Khơi Ngun (2006) trên các doanh nghiệp vừa và

nhỏ cũng chỉ ra rằng hiệu quả tài chính có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với tỉ suất

nợ nhưng không có ý nghĩa thống kê. Ở các nước đang phát triển, nhất là các

nước có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, vấn đề bất cân xứng về thông



15

tin càng trầm trọng, vì thế các nhà quản lý có xu hướng giữ lại lợi nhuận để

tài trợ cho tài sản của mình.

d. Rủi ro kinh doanh

DN hoạt động trong mơi trường cạnh tranh, khó có thể dự kiến được

những biến động của mơi trường kinh doanh có tác động xấu đến hoạt động

DN, điều tất yếu là những DN có rủi ro kinh doanh càng lớn thì càng phải ít

sử dụng đòn bẩy tài chính.Nếu ngành kinh doanh trong thời kỳ non trẻ, tỷ lệ

thất bại sẽ cao. Mức độ rủi ro kinh doanh cao nhất trong giai đoạn này. Từ

mức độ rủi ro kinh doanh cao, thì rủi ro tài chính đi kèm theo phải được giữ ở

mức càng thấp càng tốt.Do vậy, nguồn vốn chủ yếu trong giai đoạn này chủ

yếu là vốn mạo hiểm thường đạt được qua dịch vụ của các DN chuyên tìm

kiếm những nhà đầu tư sẵn lòng đảm nhiệm một vụ kinh doanh mang tính đầu

cơ. Trong giai đoạn tăng trưởng ,rủi ro kinh doanh đã giảm bớt so với giai

đoạn khởi sự nhưng vẫn còn cao nên nhu cầu vốn với rủi ro tài chính thấp vẫn

là nguồn vốn cổ phần. Trong giai đoạn này, DN phải tìm kiếm những nhà đầu

tư chiến lược thực sự, DN cần thực hiện việc huy động vốn cổ phần bằng việc

phát hành rộng rãi chứng khốn. Giai đoạn bão hòa,rủi ro kinh doanh giảm.

Tài trợ nợ sẽ được khai thác sử dụng là thực tế vì DN có thể tạo ra những

dòng tiền thuần dương một cách đáng kể, cho phép chi trả cả lãi và nợ gốc đối

với các khoản vay. Dòng tiền dương và việc sử dụng tài trợ bằng nợ vay sẽ

giúp DN hưởng lợi ích từ tấm chắn thuế, sẽ làm gia tăng tỷ suất lợi nhuận trên

vốn CSH. Giai đoạn suy thoái, rủi ro kinh doanh đi kèm tiếp tục giảm, do vậy

nguồn tài trợ trong giai đoạn này vẫn cho phép DN duy trì một nguồn vốn tài

chính có rủi ro cao. DN có thể đạt được điều này bằng một kết hợp chính sách

chi trả cổ tức cao với việc sử dụng tài trợ nợ.

1.2. TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP

1.2.1. Khái niệm về hiệu quả và hiệu quả tài chính doanh nghiệp



16

Hiệu quả hoạt động kinh doanh (HQKD) là một phạm trù kinh tế phản

ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp (DN) nhằm đạt

kết quả cao nhất trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) với

chi phí thấp nhất. HQKD của DN biểu hiện mối tương quan giữa kết quả nhận

được ở đầu ra của một quá trinh và chi phí đầu vào. Nếu gọi H là HQKD thì

H được thể hiện theo cơng thức toán học như sau:

H = Kết quả đầu ra - Chi phí đầu vào

H = Kết quả đầu ra / Chi phí đầu vào

Hiệu quả tài chính là giá trị thu được khi bỏ vốn đầu tư. Hiệu quả tài

chính thường được các nhà đầu tư quan tâm, một doanh nghiệp có hiệu quả

tài chính cao thì doanh nghiệp có nhiều điều kiện để tăng trưởng. Doanh

nghiệp muốn phát triển cần phải đầu tư và sự đầu tư luôn cần các nguồn vốn.

Vấn đề này đòi hỏi các doanh nghiệp nên gia tăng vốn chủ sở hữu hay huy

động vốn vay. Việc huy động vốn vay sẽ dễ dàng hơn nếu doanh nghiệp

chứng tỏ được khả năng tạo ra các khoản lãi cao. Hơn nữa nếu tỷ lệ này cao,

người chủ sở hữu dễ dàng chấp nhận để lại phần lớn lợi nhuận vào việc đầu tư

và như vậy doanh nghiệp sẽ có thêm cơ hội để bổ sung các phương tiện kinh

doanh. Do vậy hiệu quả tài chính là mục tiêu chủ yếu của các nhà quản trị,

các nhà lãnh đạo. Nghiên cứu hiệu quả tài chính là nghiên cứu khả năng sinh

lời của vốn chủ sở hữu.

Như vậy hiệu quả tài chính (HQTC) của DN ngành xây dựng biểu hiện

mối tương quan giữa kết quả đầu ra là thu nhập của DN và chi phí đầu vào cụ

thể như sau:

Thu nhập của Doanh nghiệp xây dựng: là toàn bộ khoản tiền thu được từ

các hoạt động SXKD của DN. Các khoản thu nhập của DN xây dựng bao

gồm:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH VÀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x