Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Qua nghiên cứu cho thấy, mặc dù bước đầu các DNVVN khu vực Tây Nguyên đã sử dụng các công cụ KTQT truyền thống, tuy nhiên việc sử dụng này giống như “cưỡi ngựa xem hoa” với mức độ sử dụng và tỷ lệ sử dụng khá khiêm tốn so

Qua nghiên cứu cho thấy, mặc dù bước đầu các DNVVN khu vực Tây Nguyên đã sử dụng các công cụ KTQT truyền thống, tuy nhiên việc sử dụng này giống như “cưỡi ngựa xem hoa” với mức độ sử dụng và tỷ lệ sử dụng khá khiêm tốn so

Tải bản đầy đủ - 0trang

79

tẻ, bợc phát (phi chính thớng), chưa có hệ thớng và thiếu tính liên tục nên khó

đo lường được chi phí cũng như lợi ích của việc sử dụng mang lại. Hơn nữa

việc đo lường lại dựa trên sự cảm nhận chủ quan nên mức độ chính xác cũng

không cao.

4.1.3. Những nhân tố nào tác động đến việc vận dụng và mức độ vận

dụng các công cụ KTQT?

Nghiên cứu này xem xét ảnh hưởng của các yếu tố ngữ cảnh đến việc

vận dụng KTQT trong các DNVVN. Kết quả xử lý số liệu điều tra đã cho thấy

rằng tỷ lệ và mức độ sử dụng một số công cụ KTQT trùn thớng có sự khác

nhau tùy tḥc vào ngữ cảnh nói chung và đặc tính của DN nói riêng. Với

mẫu nghiên cứu còn hạn chế nên một số giả thiết chưa đủ cơ sở để khẳng định

hoàn toàn. Tuy nhiên, dựa trên những kết quả có được từ giá trị Mean và P value của thống kê mô tả và giá trị Sig của các phương pháp hồi quy, tác giả

nhận thấy có mợt sớ nhân tớ ảnh hưởng đến việc vận dụng các công cụ KTQT

truyền thống như sau:

Nhân tố Quy mô DN

Kết quả nghiên cứu cho thấy, DN vừa có mức đợ sử dụng tương đới cao

hơn so với các DN nhỏ ở các công cụ như tính giá theo phương pháp trực

tiếp, dự toán lợi nhuận, dự toán vốn bằng tiền và dự toán báo cáo tài chính,

các công cụ đánh giá thành quả và phân tích lợi nhuận sản phẩm (giá trị kiểm

định P<0,05 đã cho thấy ý nghĩa của sự khác biệt này).

Nhân tố Lĩnh vực hoạt động

Tương tự như vậy, các công cụ tính giá toàn bộ, công cụ dự toán sản xuất

và dự toán cho việc kiểm soát chi phí thì mức đợ sử dụng ở DN SX cao hơn

so với DN TM & DV và sự khác biệt này cũng được chứng minh với P<0,05.

Nhân tố Thời gian hoạt động

Công cụ dự toán như dự toán doanh thu, dự toán lợi nhuận, dự toán vốn



80

bằng tiền và dự toán báo cáo tài chính, công cụ phân tích chênh lệch so với dự

toán và phân tích lợi nhuận sản phẩm được sử dụng với mức độ cao hơn ở các

DN lâu năm so với các DN mới thành lập. Kiểm định Independent t test <0,05

cho thấy được sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê.

Nhân tố Cạnh tranh

Với việc sử dụng mô hình hồi quy logistic để phân tích, kết quả nghiên

cứu bước đầu đã cho thấy nhân tố Cạnh tranh và khả năng vận dụng KTQT có

quan hệ cùng chiều và có ý nghĩa thớng kê nên giả thiết H 4 được chấp nhận.

Cụ thể, cạnh tranh tác động cùng chiều và có ý nghĩa thớng kê đới với cơng

cụ tính giá, đánh giá thành quả và hỗ trợ ra quyết định (các hệ số hồi quy đều

lớn hơn 0). Bên cạnh đó, nhân tớ cạnh tranh cũng có ảnh hưởng đến mức độ

sử dụng tất các công cụ KTQT truyền thớng trong DN (giá trị Sig<0,05). Điều

này có thể kết luận rằng các DN trong điều kiện cạnh tranh mạnh mẽ cần

nhiều thông tin liên quan đến sản phẩm, kênh phân phối, dịch vụ khách hàng,

giá cả và chất lượng sản phẩm, để cạnh tranh với các đối thủ cạnh tranh của

họ. Và thông tin KTQT là một trong những nguồn thơng tin quan trọng mà

nhà quản trị DN có thể nhận được mợt cách nhanh chóng và hữu ích.

Nhân tố Phân cấp quản lý

Kết quả nghiên cứu này bằng hồi quy logistic chưa cho thấy được ý

nghĩa của nhân tố phân cấp quản lý đối với việc vận dụng công cụ KTQT

truyền thống (các giá trị hồi quy lớn hơn 0). Tuy nhiên, nghiên cứu đã cho

thấy nhân tố phân cấp quản lý có ảnh hưởng cùng chiều đới với mức độ sử

dụng các công cụ KTQT truyền thống nên giả thiết H 8 được chấp nhận. Có

nghĩa là khi môi trường cạnh tranh của các DN càng cao thì mức đợ sử dụng

các cơng cụ trên càng nhiều (các giá trị Sig<0,05). Điều này cho thấy rằng khi

các nhà quản trị trong DN được phân cấp trong việc ra quyết định, họ cần

nhiều thông tin để phục vụ cho các quyết định đó và cũng phải chịu trách



81

nhiệm đới với các qút định của họ. Do đó, họ sẽ sử dụng các công cụ

KTQT như là một phương thức để có được thơng tin cần thiết liên quan đến

việc lập kế hoạch, kiểm soát, tổ chức, đánh giá và ra qút định.

Nhân tố Trình đợ đào tạo

Nghiên cứu cho thấy sự giới hạn về trình đợ đào tạo của nhà quản trị các

cấp và kế toán DN chỉ ảnh hưởng đến việc vận dụng công cụ hỗ trợ ra quyết

định chứ chưa thấy ảnh hưởng đến các công cụ khác. Bên cạnh đó, nhân tớ

này chỉ có ảnh hưởng đến mức độ sử dụng các công cụ tính giá (các hệ số hồi

quy đều <0,5 và các giá trị sig<0,05). Như vậy, trong phạm vi nghiên cứu này,

chưa có đủ cơ sở để khẳng định giả thiết H 8 hay chưa đủ điều kiện để kết luận

rằng trình độ đào tạo của nhà quản trị và nhân viên kế toán càng cao thì mức

đợ vận dụng cơng cụ KTQT truyền thống càng nhiều. Điều này là hợp lý vì

nghiên cứu này tập trung vào các cơng cụ KTQT truyền thống – những công

cụ vốn không đòi hỏi người thực hiện các báo cáo KTQT này phải có trình đợ

quá cao mới làm được. Do đó, sự giới hạn về trình đợ chưa phải là vấn đề tác

đợng thực sự đến mức độ vận dụng các công cụ KTQT trùn thớng.

Nhân tố Cơng nghệ

Nhân tớ cơng nghệ có ảnh hưởng đến việc vận dụng và mức độ vận dụng

các công cụ KTQT truyền thống trong DNVVN (các hệ số hồi quy >1 và các

giá trị Sig<0,05), do đó giả thiết H 5 cũng được chấp nhận hay nói cách khác

khi DN sử dụng công nghệ càng tiên tiến, hiện đại thì mức đợ sử dụng các

cơng cụ KTQT càng cao. Điều này là hợp lý vì việc sử dụng KTQT vớn x́t

phát đầu tiên ở những DN lớn, có hệ thống sản xuất phức tạp hoặc điều kiện

về công nghệ thông tin tốt để hỗ trợ cho việc lập các báo cáo KTQT được

thuận lợi. Đây cũng là một trong những giả thiết đã được kiểm nghiệm qua

các nghiên cứu trước đây trên thế giới.

Trong số các nhân tố ảnh hưởng trên, có thể thấy rằng 2 nhân tớ có ảnh



82

hưởng nhiều nhất đến mức đợ vận dụng các công cụ KTQT truyền thống

trong các DNVVN ở khu vực Tây Nguyên đó là Cạnh tranh và Phân cấp quản

lý (ảnh hưởng đến tất cả các công cụ).

4.2. HÀM Ý CHÍNH SÁCH

4.2.1. Kết luận

Với những kết quả nghiên cứu ban đầu như trên, có thể thấy rằng mặc dù

KTQT đã có mặt ở Việt Nam tương đới lâu nhưng hiện nay việc sử dụng công

cụ KTQT ở các DNVVN còn rất hạn chế. Tỷ lệ sử dụng một số công cụ ở các

DN khá cao nhưng mức độ sử dụng thì còn ở điểm tương đới thấp. Việc sử

dụng thật sự chỉ mới ở dạng khởi điểm và tự phát. Các DN dường như chưa

nhận thấy được giá trị lợi ích từ việc sử dụng các công cụ KTQT mang lại.

Điều này có thể do nhiều nguyên nhân nhưng chung quy lại xuất phát từ hai

nhóm nguyên nhân chính sau:

Những nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, nước ta vừa thoát ra khỏi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và

đang chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, do đó các DN chưa đủ thời gian

để có thể chuyển mình theo hệ thống kinh tế mới. Phần lớn các DN đã cổ

phần nhưng vẫn chỉ là hình thức vì gần như bợ máy quản lý vẫn chưa thay đổi

do đó kinh nghiệm quản lý vẫn còn mang “hơi thở” của nền kinh tế cũ. Bên

cạnh đó, ít nhiều các DN vẫn còn nằm trong sự “bảo bọc” của Nhà nước do

đó mơi trường kinh doanh chưa thực sự cạnh tranh. Đặc biệt với khu vực Tây

Nguyên, đa số các DN hoạt động ở các ngành nghề được sự khuyến khích của

Nhà nước nên thiếu đi sự cạnh tranh giữa các DN.

Thứ hai, mặc dù hệ thống kế toán Việt Nam hiện nay cơng nhận cả hai

hình thức kế toán tài chính và KTQT áp dụng trong DN nhưng lại không bắt

buộc các DN phải thực hiện KTQT. Điều này dẫn đến việc các nguồn tài liệu

được đưa vào giảng dạy ở các trường cao đẳng đại học còn rất hạn chế và chủ



83

yếu là các công cụ KTQT truyền thống. Vì vậy, những lớp sinh viên kinh tế

nói chung và sinh viên kế toán nói riêng khi học đã “thiếu” về kiến thức

chuyên môn đến khi đi làm lại “yếu” về kiến thức thực tế (do các DN chưa

thực sự chú trọng đến KTQT). Do đó, dù nhân viên có trình đợ bằng cấp

nhưng khơng được tiếp xúc thường xun với KTQT thì lâu dần kiến thức

cũng bị mài mòn. Đây chính là cái “vòng lẩn quẩn” dẫn đến sự thiếu nhân lực

và chuyên môn về KTQT trong các DN hiện nay.

Những nguyên nhân chủ quan

Thứ nhất, quy mô của DN ở khu vực Tây nguyên chủ yếu là nhỏ. Đa số

nhà quản trị DN cũng đồng thời là chủ DN nên gần như vấn đề phân quyền

nhiệm vụ trong DN còn hạn chế. Hầu hết những quyết định quan trọng là do

người đứng đầu DN đưa ra nên vai trò của cấp trung gian và cấp cơ sở chưa

được chú trọng.

Thứ hai, trình đợ quản lý nói chung và quản trị các mặt theo các chức

năng của đội ngũ nhân sự còn hạn chế. Đa số các chủ DNVVN cũng như đội

ngũ nhân viên kế toán chưa được đào tạo cơ bản, đặc biệt những kiến thức về

kinh tế thị trường, về quản trị kinh doanh, họ quản lý bằng kinh nghiệm và

thực tiễn là chủ yếu. Bên cạnh đó, phần lớn các chủ DN/nhà quản trị cấp cao

của DN chưa thấy được vai trò thực sự của KTQT trong việc cung cấp thông

tin nên cũng còn thờ ơ với công tác KTQT, thậm chí là không quan tâm đến

sự tồn tại của hệ thống kế toán này trong DN.

Thứ ba, các DNVVN Việt Nam hiện nay nhìn chung đa phần bị giới hạn

về nguồn vốn, đặc biệt nguồn vớn tự có cũng như bổ sung để thực hiện quá

trình tích tụ, tập trung nhằm duy trì hoặc mở rộng quy mô sản xuất kinh

doanh.

Thứ tư, do quy mô của các DNVVN khu vực Tây Nguyên còn nhỏ bé

nên dẫn đến cơ sở vật chất kỹ thuật, trình đợ công nghệ kỹ thuật thường yếu



84

kém, lạc hậu, nhà xưởng, nơi làm việc trực tiếp và trụ sở giao dịch, quản lý

của đa phần các DN rất chật hẹp và thiếu thớn...các DN TM & DV thì chủ ́u

là tư nhân và hợ gia đình nên còn nhiều vấn đề bất cập trong quản lý.

4.2.2. Khuyến nghị chính sách

Thông qua thực trạng về việc vận dụng các công cụ KTQT truyền thống

tại các DNVVN địa bàn Tây Nguyên, theo tác giả để đẩy mạnh việc sử dụng

các công cụ KTQT trùn thớng nói riêng và cơng cụ KTQT nói chung cho

cách DNVVN khu vực Tây Nguyên cũng như DNVVN cả nước, nên có mợt

sớ khún nghị cụ thể như sau:

Thứ nhất, các tổ chức ban hành chính sách, các tổ chức nghề nghiệp cũng

như các tổ chức hướng nghiệp cần ban hành những văn bản, quy định cũng

như có những chương trình, hành đợng hướng dẫn, hỡ trợ cụ thể nhằm giúp

các DN nhìn thấy rõ hơn vai trò và lợi ích của việc xây dựng hệ thống KTQT

trong DN. Bên cạnh đó, các tổ chức giáo dục cũng nên khuyến khích sinh

viên, học viên thực hiện nhiều đề tài và nghiên cứu khoa học về giá trị lợi ích

do KTQT mang lại cho các DN đã và đang sử dụng để nâng cao nhận thức

của người học về KTQT, giúp họ “chú tâm hơn” đối với môn học này và có

nhiều kỹ năng hơn khi đi làm. Điều này cũng chính là giúp cho DN xây dựng

từ đầu đội ngũ nhân sự có trình đợ chun mơn sau này.

Thứ hai, các cơ quan quản lý nhà nước cần thường xuyên tiến hành đánh

giá mức độ cạnh tranh của các ngành, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch nâng

cao khả năng cạnh tranh cho những ngành có lợi thế cạnh tranh và định hướng

điều chỉnh sản xuất kinh doanh cho các ngành, DN khơng có khả năng cạnh

tranh, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh cho tất cả các DN. Không nên

quản lý theo kiểu “o bế”, “xin cho” làm mất đi tính công bằng, tính tự chủ và

khả năng cạnh tranh của các DN.

Thứ ba, không ngừng bồi dưỡng, đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn



85

nhân lực cho DN, đặc biệt coi trọng năng lực của các nhà quản trị và đội ngũ

kế toán; tăng cường nâng cao nhận thức, kiến thức và chuyên môn cho họ về

vai trò và lợi ích của hệ thống KTQT đối với DN trong môi trường kinh

doanh hội nhập đầy cạnh tranh và biến động ngày nay.

Thứ tư, là các DNVVN phải tự thực hiện đổi mới chính mình để bảo vệ

mình. Trước hết là đổi mới về cách thức quản lý, về phân quyền quản lý trong

DN. Qua rồi cái kiểu “trăm dâu đổ đầu tằm” – việc lớn việc nhỏ đều nằm

trong quyền “sinh sát” của chủ DN/nhà quản trị cấp cao nhất. Cần phải có sự

phân cấp quản lý trong DN. Có phân cấp thì trách nhiệm mới rõ ràng và hiệu

quả công việc mới cao, mới tận dụng được những điểm mạnh của các cấp, đặc

biệt là điểm mạnh về quản lý và chuyên môn. Kế đến, các DNVVN cũng cần

có cái nhìn và cách nghĩ mới về KTQT. Một trong những yếu tố mang đến

hiệu quả cho DN trên thế giới là họ thường có được nguồn thơng tin mợt cách

nhanh chóng và đáng tin cậy do bộ phận KTQT mang lại. Điều này cũng giải

thích tại sao DN các nước lại khá nhạy bén trong môi trường kinh doanh đầy

cạnh tranh và biến động ngày nay. Các DNVVN Việt Nam cần phải thấy được

vai trò của KTQT trong DN để áp dụng nó mợt cách chính thớng và có hệ

thớng. Mợt khi sử dụng có hệ thớng thì KTQT mới có thể phát huy được thế

mạnh của nó đới với DN. Việc sử dụng KTQT theo kiểu manh mún, tự phát

chỉ làm cho DN cảm thấy tốn kém, mất thời gian và không hiệu quả mà thôi.

4.3. NHỮNG ƯU ĐIỂM, HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA

ĐỀ TÀI

4.3.1. Ưu điểm

Mặc dù đã có cơ sở lý thuyết giải thích về việc vận dụng các công cụ

KTQT nhưng cơ sở này lại chủ yếu đề cập đến các DN vừa và lớn, hoặc là nó

giải thích cho sự vận dụng ở các đất nước khác chứ chưa có nghiên cứu cụ thể

về vấn đề này trước đây ở Việt Nam. Nghiên cứu này có sự khác biệt vì khơng



86

chỉ tìm hiểu về thực trạng sử dụng KTQT truyền thống mà còn xác định các

nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT truyền thống tại các DNVVN

khu vực Tây Nguyên.

Bên cạnh đó nghiên cứu này còn đề cập đến nhiều công cụ KTQT truyền

thống chứ không chỉ tập trung vào một công cụ cụ thể nào. Do đó thơng tin

cung cấp sẽ giúp cho người xem có mợt cái nhìn toàn diện hơn về việc sử

dụng cũng như mức độ sử dụng KTQT truyền thống ở các DNVVN.

Nghiên cứu này sử dụng lý thuyết ngữ cảnh làm nền tảng để giải thích

cho việc vận dụng cũng như xác định những tác động đến việc vận dụng các

công cụ KTQT truyền thống ở khu vực Tây Nguyên. Kết quả ban đầu đã cho

thấy được yếu tố ngữ cảnh (bên trong và bên ngoài DN) có thể ảnh hưởng đến

việc vận dụng cũng như mức độ vận dụng các cơng cụ KTQT. Điều này góp

phần giải thích cũng như đồng tình về ý nghĩa của lý thuyết này.

4.3.2. Hạn chế và hướng phát triển

Nghiên cứu này dựa trên kết quả khảo sát thực tiễn nên có mợt sớ hạn

chế nhất định như sau:

Thứ nhất, hạn chế về bảng câu hỏi. Mặc dù bảng câu hỏi này được kế

thừa từ các kết quả nghiên cứu trước đây, nhưng để phù hợp với các giả thiết

cũng như thực tế DNVVN khu vực Tây Nguyên cũng như tránh sự dài dòng

gây khó chịu cho người trả lời, tác giả đã tóm lược bớt một số nội dung và

công cụ không cần thiết. Điều này sẽ dẫn đến việc thu thập thông tin về DN

và việc sử dụng các cơng cụ có thể chưa đảm bảo. Bên cạnh đó, mợt sớ thuật

ngữ chưa được giải thích trực tiếp với người trả lời nên vẫn còn gây hiểu

nhầm. Điều này có thể dẫn đến việc trả lời không chính xác.

Thứ hai, hạn chế về mẫu điều tra. Mặc dù các DNNVV có sớ lượng tương

đối lớn, nhưng trong khả năng tiếp cận cho phép và thời gian hạn chế nên tác

giả không thể khảo sát với mẫu lớn hơn. Ngoài ra, khu vực Tây Ngun có khá



87

nhiều DN có quy mơ quá nhỏ, đội ngũ nhân viên kế toán chưa qua đào tạo đại

học, hoạt động lại ở nhiều ngành nghề kết hợp nên với cảm nhận chủ quan của

mình, tác giả đã bỏ qua khảo sát ở các DN này.

Thứ ba, với mẫu khá nhỏ nên chỉ thích hợp với sử dụng mơ hình hồi quy

để phân tích nhân tớ ảnh hưởng, trong khi đó có nhiều mơ hình khác cho kết

quả đánh giá chính xác hơn khó áp dụng với mẫu này. Do đó, kết quả đạt

được cũng chưa thể đánh giá một cách tổng quan về việc sử dụng công cụ

KTQT ở các DNVVN.

Thứ tư, nghiên cứu này chỉ mới dừng lại ở việc nghiên cứu bên ngoài, trên

phương diện mức độ sử dụng và nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng, chứ chưa

đi sâu vào mối quan hệ giữa việc sử dụng này với thành quả mà DN có được từ

việc sử dụng. DN chỉ mới cảm nhận về chi phí và lợi ích của việc sử dụng chứ

nghiên cứu chưa có cơng cụ có thể đo lường được hiệu quả của DN.

Thứ năm, nghiên cứu này khảo sát ở nhiều loại hình DN khác nhau nên

dẫn đến việc so sánh tỷ lệ sử dụng và mức độ sử dụng một số công cụ KTQT

giữa các DN SX với DN TM và DV còn chưa hợp lý vì hai nhóm DN này có

những sự khác biệt về mặt bản chất trong hoạt động.

Cuối cùng, nghiên cứu này chỉ mới thực hiện ở khu vực Tây Nguyên nên

chưa có đủ cơ sở để kết luận cho các DNVVN nói chung ở cả nước.

Tất cả những hạn chế này hy vọng sẽ được xem xét và khắc phục trong

các nghiên cứu tiếp theo.



89



KẾT LUẬN CHUNG

Qua kết quả tìm hiểu tổng quan tài liệu về việc vận dụng KTQT từ nhiều

nghiên cứu trước đây cũng như qua khảo sát và phân tích kết quả điều tra thực

tế về tình hình vận dụng các công cụ KTQT truyền thống tại các DN trên địa

bàn Tây Ngun, nghiên cứu này có mợt sớ kết luận như sau:

Thứ nhất, có thể thấy rằng, KTQT ngày càng khẳng định được vai trò

của mình đới với quá trình hoạt đợng kinh doanh của DN. Bên cạnh sự xuất

hiện của những công cụ, kỹ thuật KTQT hiện đại thì KTQT trùn thớng vẫn

duy trì và phát huy được những thế mạnh vớn có của mình. Việc vận dụng

KTQT đã không còn là vấn đề xa lạ với các DN và điều này đã được chứng tỏ

qua nhiều nghiên cứu, khơng chỉ ở các nước có nền kinh tế phát triển mà ngay

cả ở những nước có nền kinh tế đang phát triển hay chuyển đổi; không chỉ có

các DN lớn, vừa mới áp dụng mà ngay cả các DN nhỏ cũng đã coi trọng hệ

thống này.

Thứ hai, có thể kết luận rằng việc vận dụng và mức độ vận dụng KTQT

trong các DN bị tác động bởi nhiều nhân tố. Lý thuyết ngữ cảnh đã chứng

minh được ở các điều kiện ngữ cảnh khác nhau thì việc vận dụng KTQT của

các DN cũng không giống nhau. Điều này giải thích tại sao có những cơng cụ

KTQT được sử dụng rất cao ở nhóm DN này nhưng lại ít được chú ý ở nhóm

DN khác.

Thứ ba, có thể thấy rằng các DNVVN khu vực Tây Nguyên chưa thực sự

chú trọng hay nhận thấy được vai trò hữu ích của KTQT trong DN. Điều này

thể hiện qua việc các DNVVN có sử dụng các cơng cụ KTQT trùn thớng

nhưng mức độ sử dụng còn rất thấp, việc sử dụng còn manh mún, lẻ tẻ và

chưa theo hệ thống. Ngược lại, chính sự vận dụng như vậy nên dẫn đến thiếu

cơ sở để đánh giá về chi phí và lợi ích mà KTQT đem lại.



Thứ tư, với những hạn chế nhất định về mẫu nghiên cứu, thời gian và

phương pháp cũng như một số hạn chế khác nên việc trả lời các câu hỏi

nghiên cứu chưa cho kết quả khả quan. Bên cạnh đó, nhiều giả thiết nêu ra

còn thiếu cơ sở để khẳng định.

Cuối cùng, trên cơ sở những kết quả có được từ phân tích sớ liệu điều tra

cùng với những cảm nhận cá nhân, tác giả hi vọng mợt sớ khún nghị của

mình sẽ được các tổ chức giáo dục đại học, các cơ quan ban ngành xem xét để

có những chương trình, hành đợng thiết thực. Những việc làm này sẽ giúp cho

các DNVVN nhận thấy rõ hơn vai trò và những lợi ích do KTQT mang lại, từ

đó các DNVVN có thể vận dụng tớt hơn KTQT cũng như giúp họ có được

những cơng cụ hữu hiệu hơn trong quá trình quản lý và tổ hoạt đợng kinh

doanh, góp phần đẩy mạnh khả năng cạnh tranh cho các DNVVN trên thị

trường kinh tế đầy bất ổn ngày nay.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Qua nghiên cứu cho thấy, mặc dù bước đầu các DNVVN khu vực Tây Nguyên đã sử dụng các công cụ KTQT truyền thống, tuy nhiên việc sử dụng này giống như “cưỡi ngựa xem hoa” với mức độ sử dụng và tỷ lệ sử dụng khá khiêm tốn so

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x