Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

24

của từng cơng cụ KTQT sử dụng. Nếu DN có sử dụng thì đồng nghĩa với việc

họ sẽ xác định được chi phí và lợi ích mà cơng cụ đó đem lại.

Câu hỏi 3: Những nhân tố nào tác động đến việc vận dụng KTQT truyền

thống tại các DNVVN trên địa bàn Tây Nguyên?

Để trả lời câu hỏi này, dựa vào một số nghiên cứu đã đề cập ở phần tổng

quan, tác giả sẽ lựa chọn và đề xuất một số nhân tố thích hợp đã được chứng

minh trong các nghiên cứu trước đây. Cách thức đo lường các biến cũng dựa

vào thang đo Likert đồng thời kết hợp phân tích mơ hình hồi quy đa biến để

xác định ảnh hưởng của từng nhân tố đến việc sử dụng các công cụ KTQT.

2.1.2. Xây dựng giả thiết

Quy mô DN

Quy mô DN là một yếu tố quan trọng được xem như có ảnh hưởng đến

cả cơ cấu và các sự sắp xếp kiểm soát khác. Các DN lớn và vừa áp dụng các

công cụ KTQT nhiều hơn so với các DN nhỏ vì họ có sẵn nguồn lực dồi

dào, khả năng quản trị rủi ro cao và cơ sở hạ tầng tốt. Ngược lại, các DN

nhỏ bị thiếu nguồn lực, từ những khó khăn tài chính và từ sự khan hiếm của

các chuyên gia, điều đó có thể dẫn đến những khó khăn trong việc áp dụng

những “cái mới” (Ko và cộng sự, 2008). Chẳng hạn, Otley (1995) đưa bằng

chứng về tác động của quy mô đối với các công cụ kiểm soát trong các

nghiên cứu về vai trò của hệ thống KTQT sau sáp nhập hoặc mua lại. Hay

Haldma và Lääts (2002) lập luận rằng mức độ phức tạp của hệ thớng tính

giá và lập ngân sách có xu hướng gia tăng để phù hợp với kích thước của

một DN. Việc chuyển đổi từ công cụ đơn giản đến phức tạp hơn đòi hỏi

phải có nguồn lực và chuyên gia - những điều kiện chỉ có ở các DN lớn và

vừa. Do đó, giả thuyết sau đây được đưa ra:

H1: Mức độ vận dụng công cụ KTQT truyền thống trong các

DN nhỏ thấp hơn so với các DN vừa.



25

Thời gian hoạt động

Việc vận dụng hệ thống KTQT ở các DN hoạt động lâu năm thường

nhiều hơn ở các DN mới thành lập hay mới đi vào hoạt động. Điều này là

do sự khác biệt trong các công việc hành chính, môi trường kinh doanh,

chiến lược và cơ cấu tổ chức giữa các DN trong từng thời kỳ khác nhau.

Thứ nhất, như là một kết quả của một môi trường kinh doanh phức tạp hơn,

khó khăn hơn và cạnh tranh hơn, các công việc hành chính của các DN

trưởng thành và lâu năm là phức tạp hơn so với các DN mới thành lập. Điều

này tạo ra nhu cầu sử dụng các công cụ KTQT phức tạp hơn để đề ra các

quyết định khó khăn hơn. Thứ hai, các DN trong giai đoạn mới hoạt động

chú trọng vào sự phát triển và mở rộng thị phần, trong khi DN trong giai

đoạn hoạt động lâu năm đặt trọng tâm rõ ràng hơn vào việc giảm thiểu chi

phí sản xuất. Điều này là do cạnh tranh gia tăng làm giảm lợi nhuận của các

DN lâu năm. Do đó, chi phí - hiệu quả và lợi nhuận trong các DN lâu năm

là quan trọng hơn trong các DN mới đi vào hoạt động. Các DN lâu năm cần

sản xuất các sản phẩm có hiệu quả và kiếm được đủ lợi nhuận trên một thị

trường cạnh tranh hơn do đó họ sẽ chú trọng hơn vào việc sử dụng các công

cụ KTQT (Miller và Friesen, 1984). Vì vậy, ở đây đưa ra giả thiết:

H2: Mức độ vận dụng công cụ KTQT truyền thống trong các

DN mới hoạt động thấp hơn so với các DN hoạt động lâu năm..

Lĩnh vực hoạt động

KTQT xuất hiện sớm trong các DN dệt may, đường sắt và thép với việc

ghi chép đơn thuần thông tin tài chính. Cho đến khi cuộc cách mạng công

nghiệp diễn ra trong suốt thế kỷ 18 và 19, hoạt động kinh doanh ngày càng trở

nên phức tạp đã tạo ra thách thức mới cho KTQT. Lúc này, các hoạt động sản

xuất ngày càng đa dạng nên KTQT đã được sử dụng với mục đích cung cấp

thông tin để kiểm soát chi phí và định giá sản phẩm sản xuất (Johnson và



26

Kaplan, 1987). Các nghiên cứu trên thế giới cũng cho thấy một điều là các

DN sản x́t có mức đợ sử dụng cơng cụ KTQT cao hơn so với các DN

khác vì trong DN sản x́t có nhiều hoạt đợng phức tạp cũng như nhiều

nghiệp vụ hơn so với các DN hoạt động trong lĩnh vực thương mại.

Phadoongsitthi (2003) trong nghiên cứu của mình cũng thấy rằng tỉ lệ áp

dụng KTQT trong các DN sản xuất cao hơn so với các DN phi sản xuất.

Theo kết quả này, giả thiết H3 được đưa ra:

H3: Mức độ vận dụng công cụ KTQT truyền thống trong DN

thương mại và dịch vụ thấp hơn so với các DN hoạt động

trong lĩnh vực sản xuất.

Cạnh tranh

Luther và Longden (2001) trong nghiên cứu của mình chỉ ra rằng cạnh

tranh và biến động của môi trường gây ra sự thay đổi KTQT ở Nam Phi.

Tương tự như vậy, Haldma và Laats (2002), xem xét các công cụ KTQT của

các DN sản xuất Estonian, lập luận rằng sự không chắc chắn về mơi trường

có tác đợng đến cơ cấu tổ chức, đánh giá thành quả, thực hiện dự toán và

kiểm soát dự toán. Họ cũng tìm thấy rằng những thay đổi trong các cơng cụ

KTQT có liên quan đến sự thay đổi trong môi trường kinh doanh và môi

trường kế toán bên ngoài. Szychta (2002), người đã nghiên cứu áp dụng các

khái niệm và các phương pháp KTQT của các DN Ba Lan, đã kết luận rằng

một trong những động lực đằng sau việc sử dụng KTQT chính là những thay

đổi trong mơi trường kinh doanh. Vì vậy, giả thiết H4 được đưa ra:

H4: Mức độ vận dụng công cụ KTQT truyền thống có mối

quan hệ với mức độ cạnh tranh.

Công nghệ

Công nghệ có ảnh hưởng rất quan trọng trong việc lựa các công cụ

KTQT trong một công ty. Ví dụ, nghiên cứu của Szychta (2002) đã cho thấy



27

rằng công nghệ đã có mợt ảnh hưởng đáng kể trong việc áp dụng các kỹ

thuật KTQT hiện đại trong các công ty Ba Lan. Drury và Tayles (1994)

nghiên cứu tác động của công nghệ sản xuất tiên tiến đối với hệ thống

KTQT cũng chỉ ra rằng các cơng nghệ đã có mợt ảnh hưởng quan trọng

hoặc rất quan trọng đối với việc thay đổi hệ thống KTQT của DN trong đo

lường thành quả và kiểm soát. Hay trong một nghiên cứu về hệ thống

KTQT và kiểm soát ở Nam Phi, Waweru và cộng sự (2004), đã tìm thấy

rằng mợt trong những đợng lực chính của sự thay đổi hệ thống KTQT và

kiểm soát đó là sự thay đổi trong cơng nghệ, cụ thể là trong hệ thống thông

tin. Cho nên, giả thiết sau được đưa ra:

H5: Mức độ vận dụng công cụ KTQT truyền thống có mối

quan hệ cùng chiều với mức độ áp dụng cơng nghệ tiên tiến

trong DN.

Trình đợ đào tạo của nhà quản trị và nhân viên kế tốn

Trình đợ của nhà quản trị cấp cao/chủ DN và đội ngũ nhân viên kế toán

cũng có phần quan trọng trong sự phát triển của các công cụ KTQT.

Holmes và Nicholls (1989) cho rằng trình đợ đào tạo của chủ DN/ người

quản lý các cấp mợt DN có ảnh hưởng đáng kể khi tiếp nhận hoặc chuẩn bị

các thông tin kế toán. Lybaert (1998) - người đã phân tích những ảnh hưởng

đến việc sử dụng thông tin của các nhà quản trị cấp cao/chủ DN trong các

DNVVN ở Bỉ, phát hiện ra rằng việc sử dụng thông tin KTQT nhiều hơn ở

các DN mà được đại diện bởi các chủ DN/ người quản lý cấp cao có nhận

thức chiến lược lớn hơn, ít nhất đã có kinh nghiệm làm việc trong các DN

khác trước khi đến vị trí hiện tại và có một mong muốn lớn hơn cho sự

thăng tiến.

Nghiên cứu của các DNNVV đã nêu bật tầm quan trọng của nhân viên

kế toán có trình đợ và trình đợ của chủ sở hữu/người quản lý là những ́u



28

tớ có thể tác động kết hợp đến việc áp dụng và phát triển các công cụ

KTQT. Collis và Jarvis (2002) nghiên cứu mối liên hệ giữa việc sử dụng

các thông tin tài chính và quản trị của các DNVVN kết luận rằng trình độ

của kế toán viên, cùng với thế hệ kế toán thường xun được giáo dục và

đào tạo, có thể hỡ trợ cho việc phân tích thông tin tài chính. Collis và Jarvis

(2002) cũng tìm thấy mợt mới quan hệ tích cực giữa doanh thu của DN với

việc nhận được lời khuyên hoặc đề nghị từ kế toán bên ngoài. Sự xuất hiện

thường xuyên của thông tin dự toán và sử dụng các công cụ phức tạp cho

việc lập kế hoạch tài chính và kiểm soát được tìm thấy là phụ tḥc vào sự

sẵn có của các chun gia tài chính chuyên nghiệp trong DN. Do đó, giả

thiết sau được đưa ra:

H6: Mức độ vận dụng công cụ KTQT truyền thống có mối

quan hệ cùng chiều với trình độ đào tạo của nhà quản trị và

nhân viên kế tốn

Thái đợ của nhà quản trị

Thái độ của nhà quản trị các cấp (đặc biệt là nhà quản trị cấp cao/chủ

DN) trong việc xây dựng và phát triển hệ thống KTQT trong DN cũng là một

vấn đề cần xem xét. Ở nhiều DN mặc dù đợi ngũ quản lý có trình đợ, am hiểu

về KTQT nhưng nếu họ không mấy “mặn mà” hay không quan tâm với hệ

thống kế toán này cũng là một trở lực cho việc vận dụng các công cụ KTQT.

Trong nghiên cứu của Sulaiman và cộng sự (2004) tại các nước đang phát

triển cho thấy các yếu tố như sự né tránh rủi ro, sự bảo thủ và việc sợ chi phí

tốn kém bởi hầu hết các nhà quản lý là những nguyên nhân tại sao tỷ lệ sử

dụng các công cụ KTQT mới ở Ấn Độ cũng như Malaysia lại thấp. Tương tự

như vậy, ở các nước đang phát triển khác, Sulaiman và cộng sự (2004) kết

luận rằng sự thiếu chuyên môn, nhận thức và hỗ trợ từ các nhà quản lý làm

DN khó thay đổi việc thực hành kế toán của họ. Do vậy, có giả thiết sau:



29

H7: Mức độ vận dụng công cụ KTQT truyền thống có mối

quan hệ cùng chiều với thái độ của nhà quản trị trong việc xây

dựng và phát triển hệ thống KTQT của DN.

Phân cấp quản lý

Phân cấp quản lý thể hiện mức độ tự chủ của nhà quản trị các cấp. Một

khi được phân quyền, các nhà quản trị sẽ có ý thức trách nhiệm cao hơn cho

các hoạt đợng lập kế hoạch và kiểm soát. Do đó, họ sẽ cần nhiều hơn các

cơng cụ KTQT để có thể giúp họ có được thơng tin hữu ích hơn cho việc

cải thiện hệ thống quản lý DN. Theo Baines và Langfield-Smith (2003), vai

trò của KTQT trong tổ chức phân quyền không chỉ đơn giản là để cung cấp

các dữ liệu chi phí mà còn để cung cấp một dịch vụ cho phép nhân viên đưa

ra quyết định tốt hơn. Ngoài ra, khi một trách nhiệm lớn hơn về việc ra

quyết định được chuyển đến cấp dưới, đã có sự gia tăng thơng tin cần thiết

có liên quan đến nhà quản lý cấp cao. Nghiên cứu của Williams và Seaman

(2001) cũng nhận thấy rằng có quan hệ tỷ lệ nghịch giữa quản lý tập trung và

sự thay đổi hệ thống KTQT. Do đó, giả thiết sau được đưa ra:

H8: Mức đợ vận dụng công cụ KTQT tryền thống có mối

quan hệ cùng chiều với mức độ phân cấp quản lý trong DN.

2.2. ĐO LƯỜNG CÁC NHÂN TỐ

Dựa vào các nghiên cứu trước đây của các tác giả (Đoàn Ngọc Phi

Anh, 2012 và Kamilah Ahmad, 2012) với các giả thiết được đưa ra ở trên,

trong nghiên cứu này, tác giả cũng sử dụng các nhân tố như Quy mô DN,

Thời gian hoạt động, Lĩnh vực hoạt đợng, Cạnh tranh, Cơng nghệ, Trình đợ

đào tạo của nhà quản trị và kế toán, Phân cấp quản lý và Thái độ của nhà

quản trị để đo lường mức độ ảnh hưởng của chúng đến việc áp dụng các

cơng cụ KTQT trùn thớng trong DN. Trong đó, nhân tố Sự vận dụng công



30

cụ KTQT là biến phụ thuộc, các biến còn lại là biến độc lập trong mơ hình

nghiên cứu. Cụ thể như sau:



Sự vận dụng cơng cụ KTQT

Nhân tố Sự vận dụng công cụ KTQT được đo lường tương tự như

nghiên cứu của Chenhall và Langfield-Smith (1998), Luther và Longden

(2001), El-Ebaishi và cộng sự (2003); Wu và cộng sự. (2007), Đoàn Ngọc

Phi Anh (2012), Kamilah Ahmad (2012). Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ

đánh giá mức độ áp dụng các công cụ KTQT truyền thống phù hợp với các

DNVVN, trong điều kiện ngữ cảnh khu vực Tây Nguyên. Các công cụ

KTQT được phân loại theo chức năng thành 4 nhóm: dự toán, tính giá, hỡ

trợ ra qút định, đánh giá thành quả. Thang đo Likert (từ 1 đến 5) được sử

dụng để đánh giá mức độ sử dụng của từng cơng cụ KTQT, trong đó 1 –

Mức sử dụng rất thấp và 5 – Mức sử dụng rất cao.

Qui mơ DN

Qui mơ của DN có thể được đo lường thông qua tổng doanh thu, tổng

tài sản (nguồn vốn) hoặc số lượng nhân viên. Căn cứ vào cách phân loại về

DNVVN ở Việt Nam (Theo nghị định số 56/2009/NĐ-CP – Phụ lục 1), nên

ở đây, tác giả sử dụng chỉ tiêu nguồn vốn để đo lường qui mô DN (theo lĩnh

vực kinh doanh) cho phù hợp. Các DN được phân loại theo qui mơ được

chia thành 2 nhóm: nhỏ (dưới 10 tỷ đối với DN TM và DV, dưới 20 tỷ đối

với DN thuộc các lĩnh vực nông lâm công nghiệp và thủy sản; công nghiệp

và xây dựng); vừa (từ 10 đến 50 tỷ đối với DN TM và DV; từ 50 đến 100 tỷ

đối với DN thuộc các lĩnh vực nông lâm công nghiệp và thủy sản; công

nghiệp và xây dựng).

Thời gian hoạt động của DN



31

Thời gian hoạt động của DN được xác định từ khi DN được thành lập

đến thời điểm nghiên cứu. Các DN được phân loại thành 2 nhóm: Các DN

mới (DN được thành lập dưới 10 năm) và các DN lâu năm (từ 10 năm trở

lên). Sở dĩ tác giả phân chia thành hai khoảng thời gian như vậy là vì các

DN trên 10 năm được thành lập trước năm 2006 và dưới 10 năm là từ năm

2006 trở đi. Đây là mốc thời gian quan trọng vì năm này luật DN Việt Nam

ra đời cũng là năm đánh dấu Việt Nam gia nhập WTO. Với một môi trường

kinh doanh mới và cơ chế mới như vậy, đòi hỏi các DN cũng phải có sự

thay đổi để áp dụng toàn diện hơn và sâu sắc hơn những quy định trong luật

mới đưa ra cũng như trong đời sống kinh tế và sản xuất nhằm tuân thủ các

điều kiện của tổ chức thương mại thế giới.

Lĩnh vực hoạt động

Trong nghiên cứu này, các DN được chia theo lĩnh vực hoạt động gồm

3 lĩnh vực là SX, TM và DV và DN khác (hoạt động tổng hợp như SX - TM

hoặc SX – TM - DV). Tuy nhiên, để tiện cho việc kiểm định các giả thiết, ở

đây nghiên cứu chỉ trọng tâm so sánh mức độ sử dụng công cụ KTQT ở DN

SX với DN TM và DV, còn kết quả khảo sát ở DN khác chủ yếu phục vụ

cho phần phân tích nhân tố ảnh hưởng.

Cạnh tranh

Cạnh tranh được đo lường dựa trên thang đo được đề xuất bởi

Khandwalla (1972) và thang đo này đã được sử dụng phổ biến trong các

nghiên cứu trước đây (xem Libby và Waterhouse, 1996; Williams và

Seaman, 2001). Mức độ cạnh tranh của một DN được đo lường dựa trên 7

khía cạnh là cạnh tranh về nguyên liệu, về nhân sự, bán hàng và phân phối,

chất lượng sản phẩm, sự đa dạng các sản phẩm, giá cả, và các khía cạnh

khác. Tương tự như các nghiên cứu trước đây, nghiên cứu này sử dụng

thang đo Likert với 1 (cạnh tranh rất thấp) đến 5 (cạnh tranh rất cao).



32

Công nghệ

Nhân tố công nghệ được đánh giá theo thang đo do Kamilah Ahmad

(2012) xây dựng. Theo đó, cơng nghệ được đánh giá dựa trên 3 khía cạnh

khác nhau gồm: công nghệ sản x́t linh hoạt; máy móc cơng nghệ sớ và

các loại cơng nghệ khác nói chung. Người tham gia khảo sát được yêu cầu

trả lời cho mỗi khía cạnh dựa trên thang đo Likert với 1 (mức sử dụng rất

thấp) đến 5 (mức sử dụng rất cao).

Trình đợ đào tạo của nhà quản trị và nhân viên kế toán

Nhân tớ giới hạn về trình đợ của nhà quản trị và nhân viên kế toán được

đánh giá trên cơ sở phát triển thang đo do Kamilah Ahmad (2012) xây dựng.

Theo đó, giới hạn về trình đợ được đánh giá cũng dựa trên 3 khía cạnh khác

nhau gồm: trình đợ đào tạo của nhà quản trị cấp cao (người sử dụng thơng

tin các báo cáo KTQT); trình đợ đào tạo của kế toán trưởng (người lập, tổng

hợp hoặc kiểm tra các báo cáo KTQT) và trình đợ đào tạo của nhân viên

cấp dưới (người lập các báo cáo). Người tham gia khảo sát được yêu cầu trả

lời cho mỗi khía cạnh dựa trên thang đo Likert với 1 (trình đợ nghiệp vụ)

đến 5 (trình đợ sau đại học).

Thái đợ của nhà quản trị (trong việc xây dựng và vận dụng các

công cụ KTQT)

Đây là biến được đề xuất dựa trên cơ sở kết hợp từ một nhân tố ảnh

hưởng (Sự tham gia của nhà quản trị) trong mơ hình nghiên cứu của tác giả

Kamilah Ahmad (2012) và một số kết luận đưa ra trong nghiên cứu của

Sulaiman và cộng sự (2004) về thái độ của nhà quản trị trong việc xây dựng

và vận dụng cơng cụ KTQT. Theo đó biến này được đo lường dựa trên 3

biến quan sát: Thái độ của nhà quản trị cấp cao/chủ DN, thái độ của nhà

quản trị cấp trung gian và thái độ của nhà quản trị cơ sở với các mức độ

trong thang đo Likert ( từ 1- Rất ít tham gia, đến 5 – Tham gia hoàn toàn).



33

Phân cấp quản lý

Mức độ phân cấp quản lý trong nghiên cứu này được đánh giá theo

thang đo do Gordon và Narayanan (1984) xây dựng. Theo đó, phân cấp

quản lý được đánh giá dựa trên 5 khía cạnh khác nhau gồm: phát triển sản

phẩm và dịch vụ mới; thuê và sa thải nhân viên; mua thiết bị; định giá; và

phân phối các sản phẩm, dịch vụ. Người tham gia khảo sát được yêu cầu trả

lời cho mỗi khía cạnh dựa trên thang đo Likert với 1 (phân cấp quản lý rất

thấp) đến 5 (phân cấp quản lý rất cao).

Bảng 2.1. Thống kê số lượng DN được khảo sát theo các đặc tính

Đặc tính phân loại

DN Nhỏ

Quy mô DN

DN Vừa

Tổng

Dưới 10 năm

Thời gian hoạt động

Trên 10 năm

Tổng

Sản xuất

TM & DV

Lĩnh vực hoạt động

Khác

Tổng



Số lượng (đơn vị)

48

52

100

77

23

100

50

27

23

100



Tỷ lệ (%)

48

52

100

77

23

100

50

27

23

100



Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả



2.3. THU THẬP DỮ LIỆU

Trong nghiên cứu này, dữ liệu chủ yếu được thu thập thông qua phiếu

điều tra (khảo sát), phương pháp phỏng vấn chỉ sử dụng để kiểm tra tính chắc

chắn của một số thông tin. Đối tượng trả lời là các kế toán trưởng, phó phòng

kế toán hoặc kế toán tổng hợp. Mặc dù số lượng DNVVN khu vực này tương

đới lớn nhưng để đảm bảo việc thu thập có kết quả về mặt thống kê, nghiên

cứu này chỉ tập trung vào những DN có quy mơ tương đới phù hợp. Các DN

siêu nhỏ, DN tư nhân tác giả không khảo sát. Số lượng phiếu khảo sát gởi đi

135, thu về lại 122 và trong quá trình tổng hợp, làm sạch sớ liệu thì sớ phiếu

còn hợp lệ 100. Do đó, sớ lượng mẫu ći cùng được chọn để phân tích cũng



34

khá khiêm tốn (100 mẫu), chủ yếu tập trung vào các nhóm ngành hoạt đợng

chủ đạo ở khu vực Tây Nguyên.

2.3.1. Thiết kế bảng câu hỏi

Bảng câu hỏi được thiết kế dựa vào các nghiên cứu trước của Chenhall

và Langfield-Smith (1998), Joshi (2001), O'Conner và cộng sự (2004), Luther

và Longden (2001), Waweru và cộng sự (2005), Al-Omiri và Drury (2007) và

Wu và cộng sự (2007), Đoàn Ngọc Phi Anh (2012) và Kamilah Ahmad

(2012), được sửa đổi về các công cụ sử dụng và nhân tố ảnh hưởng cho phù

hợp với các DNVVN. Trong đó, gồm có 4 phần:

a) Phần thứ nhất: Thơng tin chung về DN như hình thức sở hữu, thời

gian hoạt động, quy mô DN (được đo lường theo nguồn vốn hoạt động),

lĩnh vực hoạt động.

b) Phần thứ hai: Thông tin liên quan đến công cụ và lợi ích của việc sử

dụng các công cụ. Các công cụ đã được nhóm lại thành bớn phần chính như

sau:

1. Nhóm cơng cụ tính giá: Bao gồm tính giá theo phương pháp toàn bộ

và tính giá theo phương pháp trực tiếp.

2. Nhóm cơng cụ dự toán: Dự toán doanh thu, dự toán sản xuất, dự

toán cho việc kiểm soát chi phí, dự toán lợi nhuận, dự toán tiền, dự toán báo

cáo tài chính.

3. Nhóm cơng cụ đo lường thành quả: Bao gồm phân tích chênh lệch

so với dự toán, chi phí định mức và lợi nhuận bợ phận.

4. Nhóm cơng cụ hỗ trợ ra quyết định: Bao gồm phân tích quan hệ chi

phí – sản lượng – lợi nhuận, phân tích lợi nhuận sản phẩm.

Các câu hỏi được thiết kế theo kiểu thang đo Likert để đánh giá mức

độ của từng biến quan sát (từ 0 - “không sử dụng” cho đến 5 - “sử dụng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x