Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ VẬN DỤNG KTQT VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC VẬN DỤNG KTQT TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ VẬN DỤNG KTQT VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC VẬN DỤNG KTQT TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

4

kiểm soát các hoạt động của một tổ chức, giúp họ đưa ra quyết định tốt hơn

(Drury, 2005).

b. KTQT truyền thống và KTQT hiện đại

Định nghĩa

Cùng với quá trình phát triển kinh tế thế giới, KTQT cũng không ngừng

phát triển và hoàn thiện. Để giúp DN thích ứng với môi trường kinh tế đầy

cạnh tranh và nhanh biến đổi, bên cạnh các công cụ KTQT đã ra đời và tồn tại

từ trước đến nay như tính giá theo phương pháp toàn bộ, tính giá theo phương

pháp trực tiếp, các công cụ dự toán hoạt động hay phân tích điểm hòa vớn thì

nhiều cơng cụ KTQT mới đã x́t hiện. Dựa vào thời gian ra đời và phát triển

cũng như mục đích vận dụng các cơng cụ KTQT trong quá trình quản lý DN,

các nhà nghiên cứu đã phân chia các cơng cụ KTQT thành hai nhóm khác

nhau là KTQT trùn thống và KTQT hiện đại nhưng cho đến thời điểm này

việc phân loại giữa 2 nhóm cơng cụ này còn mang tính tương đối. Trên cơ sở

một số kết luận từ các nghiên cứu trước đây và một số tài liệu về KTQT, có

thể xem KTQT trùn thớng và KTQT hiện đại như sau:

KTQT truyền thống được hiểu như là một hệ thống các công cụ, kỹ thuật

được thiết kế chủ yếu tập trung vào đo lường hiệu quả của các quy trình nợi

bợ về mặt tài chính thơng qua các chức năng như phân tích hành vi của chi

phí, lập dự toán và truyền thông tin, kiểm tra, đánh giá thành quả về mặt tài

chính và hỗ cho việc ra quyết định của DN (Chenhall và Langfield, 1998;

Sulaiman và cộng sự, 2004). (Xem bảng công cụ KTQT truyền thống - Phụ

lục 2).

KTQT hiện đại là việc cung cấp và phân tích dữ liệu KTQT của DN và

các đối thủ cạnh tranh của DN nhằm phát triển và điều tiết chiến lược của

DN. Có thể xem KTQT hiện đại như là phần giao giữa KTQT và chiến lược

của DN (Simmonds, 1981; Dixon và Smith, 1993).



5

Một số công cụ KTQT hiện đại thường được nhắc đến trong các nghiên

cứu trước đây cũng như đã và đang được giới thiệu, sử dụng trong các DN ở

Việt Nam như công cụ tính giá mục tiêu (Target Costing), thẻ cân bằng điểm

(Balanced scorecard), quản trị dựa trên hoạt động (Activity based

Managerment), tính giá trên chuỗi giá trị (Value chain costing), định chuẩn

(Benchmarking) ...

Tính giá mục tiêu là một phương pháp tính giá dựa trên cơ sở giá bán để

tiến tới thị phần mục tiêu và thể hiện chi phí dựa vào thị trường chứ không

phải xuất phát từ chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất sản phẩm như

phương pháp tính giá truyền thống.

Thẻ cân bằng điểm là hệ thống xây dựng kế hoạch và quản trị chiến

lược, được tổ các tổ chức kinh doanh cũng như các tổ chức khác sử dụng

nhằm định hướng hoạt đợng kinh doanh theo tầm nhìn và chiến lược của tổ

chức, nâng cao hiệu quả truyền thông nội bộ và bên ngoài, theo dõi hiệu quả

hoạt động của DN so với mục tiêu đề ra.

Benchmarking là việc phỏng theo những thực tế tốt hoặc xuất sắc của

các đơn vị kinh doanh khác trong cùng một ngành nghề hoặc thậm chí khác

ngành nghề kinh doanh để nỗ lực tạo ra những cải thiện hoạt động của đơn vị.

Hiểu được các chiến lược của các đơn vị thành công khác hoặc điều tra những

lí do mà đơn vị khác lựa chọn một chiến lược cụ thể sẽ rất hữu ích cho DN

tiếp thu và rút ra kinh nghiệm cho chính DN mình.

So sánh mợt số điểm khác nhau giữa KTQT truyền thống và KTQT

hiện đại.

Thứ nhất, đó là mới quan hệ với chiến lược của DN. Có thể hiểu rằng

KTQT truyền thống là một bộ phận của KTQT, bao gồm các công cụ, kỹ thuật

được thiết kế để tính toán, đo lường, đánh giá, phân tích và truyền đạt những

thông tin liên quan đến việc sử dụng các nguồn lực của tổ chức chủ yếu về



6

mặt tài chính ở bên trong DN và khơng có sự gắn kết với các chiến lược của

DN còn KTQT hiện đại thì đặt trọng tâm vào vấn đề chiến lược của DN và

dựa trên cả thông tin tài chính và phi tài chính, cả quá khứ và định hướng

tương lai, đồng thời những thơng tin này có được từ cả bên trong và bên ngoài

DN (Chenhall và Langfield-Smith, 1998; Sulaiman và cộng sự, 2004).

Thứ hai, nếu như KTQT truyền thống chủ yếu nhấn mạnh vai trò của

thông tin tài chính trong việc ra quyết định thì KTQT hiện đại chú trọng hơn

vào thông tin phi tài chính và hướng về các đối tượng bên ngoài DN như đối

thủ cạnh tranh, khách hàng, nhà cung cấp...

1.1.2. Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu KTQT

a. Lý thuyết khuếch tán và KTQT

“Khuếch tán là tiến trình mà cái mới (innovation) được trùn đi thơng

qua những kênh nhất định theo thời gian trong mợt nhóm người” (Rogers,

2003, p. 11).

“Cái mới” có thể là mợt ý tưởng, một công cụ hay một đối tượng được

xem là mới đới với mợt nhóm người (Rogers, 1983). Có thể ý tưởng hay công

cụ này đã được ứng dụng rồi nhưng nếu nó được ứng dụng lại trong mợt hoàn

cảnh hay trong cùng ngữ cảnh như ở thời điểm sau đó thì cũng được xem là

“cái mới” (Ax và Bjornenak, 2005). Theo đó, KTQT hoặc ngay cả KTQT

trùn thớng được xem là “cái mới” đới với các nước có nền kinh tế chuyển

đổi, trong đó có Việt Nam. Vì thế, áp dụng KTQT vào các nước chuyển đổi

được xem tương tự như việc áp dụng cái mới.

Nghiên cứu về lý thuyết này, Rogers (2003) cho rằng có 5 đặc tính chính

của cái mới đó là: sự thuận lợi (relative advantage), sự so sánh

(compatibility), sự phức tạp (complexity), sự có thể dùng thử (trialability) và

sự quan sát (observability). Cụ thể, sự thuận lợi cho người dùng biết được

“cái mới” mang lại lợi ích gì; sự so sánh cho biết “ cái mới” như thế nào với



7

cái cũ, cái hiện tại; sự phức tạp cho biết mức độ dễ sử dụng hay dễ tiếp cận;

sự dùng thư cho biết mức trở ngại khi áp dụng và sự quan sát cho biết mức đợ

được nhìn thấy bởi người khác. Theo lý thút này, các nhân tố như sự thuận

lợi, sự dễ dàng trong sử dụng, sự có thể dùng thử và sự quan sát sẽ ảnh hưởng

đến việc áp dụng các công cụ KTQT truyền thống nhiều hay ít tại các DN

(Rogers, 2003). Do đó, lý thút này được xem là mợt phần cơ sở lý luận của

nghiên cứu này.

b. Lý thuyết ngữ cảnh và KTQT

Lý thuyết ngữ cảnh đã được phát triển và được sử dụng bởi các nhà

nghiên cứu KTQT từ giữa những năm 1960. Lý thuyết ngữ cảnh có tầm quan

trọng đáng kể để nghiên cứu KTQT vì nó đã thống trị kế toán hành vi từ năm

1975 và đã được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu về KTQT (Otley,

1980).

Lý thuyết ngữ cảnh nghiên cứu KTQT DN trong mối quan hệ tương tác

với môi trường hoạt động của DN. Theo đó, mợt hệ thớng KTQT thích hợp

với DN phải phụ thuộc vào đặc điểm DN và môi trường DN đó đang hoạt

đợng. Nói cách khác, khơng thể xây dựng mợt mơ hình KTQT khn mẫu áp

dụng cho tất cả các DN mà việc vận dụng KTQT vào DN phải tùy thuộc vào

đặc thù từng ngành, từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đồng thời phải phù

hợp với cơ cấu tổ chức, quy mơ DN, trình đợ cơng nghệ sản xuất và chiến

lược tổ chức trong từng giai đoạn. Chẳng hạn như nghiên cứu của Fatma

Ayady & Habib Affes (2014) cho thấy có sự khác nhau trong việc sử dụng các

công cụ KTQT mới giữa các DN. Lý giải cho nguyên nhân này, các tác giả đã

sử dụng lý thút ngữ cảnh. Cụ thể, có các nhân tớ ngữ cảnh ảnh hưởng đến

việc sử dụng các công cụ KTQT mới như môi trường kinh doanh không chắc

chắn, chiến lược chung về chi phí thống trị, mối quan hệ về vốn với nhà cung

cấp, cấu trúc tổ chức hay quy mơ DN.... Điều này có nghĩa là việc xây dựng



8

mợt hệ thống KTQT hiệu quả phải thích hợp với từng DN, với môi trường

bên trong và bên ngoài mà DN đó đang hoạt đợng.

Lý thút ngữ cảnh được sử dụng trong nghiên cứu này để giải thích

những nhân tố ảnh hưởng đến việc vận KTQT truyền thống của các DN trên

địa bàn Tây Nguyên.

1.2. VẬN DỤNG KTQT Ở CÁC NƯỚC

1.2.1. Vận dụng KTQT ở các nước phát triển

Nghiên cứu của Chenhall và Langfield-Smith (1998) về việc áp dụng 42

công cụ KTQT (gồm cả công cụ KTQT hiện đại và công cụ KTQT truyền

thống) ở Úc, các công cụ này được chia thành 5 nhóm dựa trên chức năng gồm

dự toán tài chính, dự toán hoạt động, tính giá, đánh giá thành quả, hỗ trợ cho

việc ra quyết định. Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết các công cụ này được

sử dụng trong các công ty được khảo sát, tuy nhiên, tỉ lệ áp dụng của các công

cụ KTQT truyền thống cao hơn so với các công cụ KTQT hiện đại.

Pistoni và Zoni (2000) đã tiến hành một cuộc khảo sát của 86 tổ chức giáo

dục đại học trong số 16 quốc gia ở châu Âu. Họ phát hiện ra rằng hầu hết các

quốc gia lựa chọn các tính năng của dự toán chi phí truyền thống. Ở Ba Lan,

90% của 45 công ty áp dụng các hệ thống tính giá truyền thống toàn bộ, 8,3%

của 9 công ty áp dụng tính giá theo chi phí tiêu chuẩn, và chỉ có mợt sớ áp dụng

tính giá theo phương pháp trực tiếp (Szychta, 2002). Ngoài ra, nghiên cứu của

Angelakis và cộng sự (2010) tại Hy Lạp cũng cho thấy mức độ sử dụng các

công cụ KTQT truyền thống là cao hơn so với các công cụ KTQT mới.

Tài liệu về thực trạng vận dụng KTQT ở các nước phát triển thuộc khu

vực Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Á Thái Bình Dương được thực hiện bởi

nhiều nhà nghiên cứu. Gần như các nghiên cứu này đều cho thấy được sự vận

dụng các công cụ KTQT truyền thống. Cụ thể nghiên cứu của Bruggeman và

cộng sự (1996) ở các DN Bỉ đã cho thấy các công cụ KTQT truyền thống vẫn



9

tiếp tục được sử dụng mặc dù các DN này đã hướng đến các công cụ mới như

ABC hay chi phí mục tiêu. Một nghiên cứu khác của Pierce và O’dea (1998)

cũng cho thấy việc sử dụng các công cụ truyền thống cao hơn so với các công

cụ mới ở các DN Ai – len. Hay trong nghiên cứu của Chanhell và Langfield –

Smith (1998) cũng nhận thấy rằng các DN ở Úc vận dụng nhiều cơng cụ

KTQT, trong đó có mợt tỷ lệ tương đối cao về sử dụng KTQT truyền thống

như dự toán, lập kế hoạch và đánh giá thành quả so với các công cụ mới như

chi phí mục tiêu, phân tích chuỗi giá trị và ABC. Tương tự, trong nghiên cứu

về việc sử dụng các công cụ KTQT của các DN trong ngành chế biến thực

phẩm và nước giải khát ở Anh, Abdel-Kader và Luther (2006) đã chia các

cơng cụ KTQT thành 5 nhóm gồm tính giá, dự toán, đánh giá thành quả,

thông tin cho việc ra quyết định và phân tích chiến lược. Kết quả khảo sát từ

122 DN cho thấy các công cụ KTQT truyền thống như tính giá theo phương

pháp trực tiếp, tính giá theo phương pháp toàn bộ và dự toán được sử dụng phổ

biến hơn so với các công cụ KTQT hiện đại như ABC và BSC.

Nghiên cứu về vận dụng KTQT tại các DNVVN ở Anh của Michael

Lucas và Malcolm Prowle đã chỉ ra những công cụ KTQT không được sử

dụng ở các DNVVN đó là phân tích chi phí biến đổi tiêu chuẩn, phân tích chi

phí liên quan đến việc ra quyết định, công cụ giải quyết những vấn đề rủi ro

và không chắc chắn cũng như một số các công cụ KTQT chiến lược khác...;

đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra một số công cụ không được các DN nhỏ sử

dụng như dự toán theo mẫu, phân tích mối quan hệ chi phí – sản lượng – lợi

nhuận và kế toán trách nhiệm.

1.2.2. Vận dụng KTQT ở các nước đang phát triển

Nghiên cứu về vận dụng KTQT tại các nước đang phát triển cũng khá

phong phú với nhiều kết quả khác nhau. Tại Thái Lan, một khảo sát của

Phadoongsitthi (2003) chỉ ra rằng các DN thuộc khu vực sản xuất và dịch vụ



10

của nước này lựa chọn các công cụ dự toán, lập kế hoạch và đánh giá thành

quả hơn là sử dụng các công cụ như chi phí mục tiêu, phân tích chi phí vòng

đời sản phẩm và ZBB. Kết quả này cũng tương tự đối với một nghiên cứu của

Nimtrakoon (2009) về việc sử dụng công cụ KTQT ở Thái Lan.

Tổng kết lại việc sử dụng KTQT tại các nước đang phát triển (Trung

Quốc, Ấn Độ và Malaysia), Sulaiman và cộng sự (2004) nhận thấy rằng song

song với việc sử dụng các cơng cụ KTQT mới thì các công cụ KTQT truyền

thống vẫn còn chiếm một vị trí rất lớn trong DN, đặc biệt là công cụ dự toán

ngân sách.

Hay nghiên cứu của Hutaibat (2005) về thực trạng sử dụng các công cụ

KTQT tại các DN công nghiệp ở Jordan cũng chỉ ra rằng các DN này vẫn sử

dụng phần lớn các công cụ KTQT truyền thống hơn là các công cụ mới phát

triển. Một nghiên cứu khác của Leftesi (2008) cũng phát hiện ra hiện trạng sử

dụng các công cụ KTQT ở các DN ở Libya, mặc dù mức độ sử dụng không

cao nhưng vẫn thể hiện được tỷ lệ sử dụng công cụ KTQT truyền thống cao

hơn so với các công cụ KTQT hiện đại.

Trong nghiên cứu của Abdel Al và McLellan (2011) ở các công ty của Ai

Cập, các kết quả cho thấy rằng các cơng ty của nước này vẫn duy trì thực hiện

KTQT trùn thớng vì họ thấy chúng phù hợp với nền kinh tế không ổn định

của họ mặc dù họ vẫn thừa nhận những lợi ích của việc áp dụng các công cụ kế

toán quản trị tiên tiến. El-Ebaishi và công sự (2003) cũng nhận thấy rằng, các

DN sản xuất ở Ả Rập Saudi đánh giá cao về tầm quan trọng của các công cụ

KTQT truyền thống hơn là các công cụ như ABC và JIT.

Nghiên cứu của Kamilah Ahmad (2012) về việc sử dụng KTQT tại các

DNVVN ở Malaysia cho thấy rằng các DN này chủ yếu sử dụng các công cụ

thuộc về hệ thống tính giá, hệ thống dự toán, hệ thống đo lường thành quả

hơn là sử dụng các công cụ thuộc hệ thống hỗ trợ ra quyết định và KTQT



11

chiến lược. Điều này thể hiện là các cơng cụ KTQT trùn thớng thì được sử

dụng ở mức độ cao hơn so với các công cụ hiện đại.

Một số nghiên cứu khác cũng cho kết quả tương tự. Ví dụ như nghiên

cứu của Joshi (2001) phát hiện ra trong các DN sản xuất ở Ấn Độ, các công

cụ KTQT truyền thống như dự toán và đánh giá thành quả được vận dụng cao

hơn các công cụ khác. Frezatti (2007) trong nghiên cứu về vận dụng KTQT ở

các DN vừa và lớn hoạt động trong các lĩnh vực ở Brazin cũng cho thấy tỷ lệ

sử dụng các công cụ KTQT trùn thớng như dự toán thì cao hơn tỷ lệ sử

dụng các công cụ mới như ABC, BSC hay EVA.

1.2.3. Nghiên cứu cụ thể về các công cụ KTQT truyền thống

Tính giá

Hai phương pháp tính giá được vận dụng chính là tính giá theo phương

pháp toàn bộ và tính giá theo phương pháp trực tiếp (hay tính giá theo chi phí

biến đổi), trong đó, hệ thớng tính giá toàn bợ được ưa thích trên toàn cầu nói

chung. Drury và cộng sự (1994) quan sát thấy rằng 58% các công ty ở Anh

thường xuyên hoặc luôn luôn sử dụng phương pháp tính giá toàn bộ và

Scherrer (1996) cho thấy khoảng một nửa trong số các công ty ở Đức áp dụng

cơng cụ này.

Trong khi đó, Shields và cợng sự (1991) đã làm một so sánh giữa Nhật

Bản và Hoa Kỳ nhận thấy rằng chỉ khoảng 59 đến 67% các công ty Nhật Bản

sử dụng phương pháp tính giá toàn bộ, thấp hơn so với tỷ lệ 65 đến 75% của

các công ty Mỹ. Gần đây hơn, Szychta (2002) thấy rằng 90% các cơng ty Ba

Lan có vận dụng phương pháp này. Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ vận dụng

cũng tương tự. Ấn Độ chẳng hạn, Joshi (2001) báo cáo rằng gần 50% các

công ty Ấn Độ đã sử dụng và Firth (1996) cũng cho thấy 66% của các cơng ty

nước ngoài có trụ sở tại Trung Q́c áp dụng công cụ này.



12

Việc sử dụng phương pháp tính giá trực tiếp cũng khá là phổ biến. Lukka

và Granlund (1996) cho thấy 42% của các công ty Phần Lan áp dụng tính giá

theo chi phí biến đổi. Tương tự như vậy, Abdel-Kader và Luther (2006) cho

thấy hơn 50% của các công ty của Anh thực hiện công cụ này. Ngược lại ở

các nước đang phát triển, Firth (1996) cho thấy 76% DN Trung Q́c có trụ

sở tại địa phương đã sử dụng; tại Ấn Độ và Thái Lan, Phadoongsitthi (2003)

cho thấy hơn mợt nửa các DN được khảo sát có sử dụng cách tính giá này.

Dự toán (lập ngân sách)

Lập ngân sách được xem là một hệ thống kiểm soát quan trọng trong hầu

hết các tổ chức (Hansen và Van der Stede, 2003). Chủ để chính của lập ngân

sách là tỷ lệ sử dụng và mục đích sử dụng cơ bản của nó.

Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng mục đích chính của lập ngân sách

là lập kế hoạch thành quả trong tương lai; lập kế hoạch tài chính trong tương

lai; kế hoạch dòng tiền trong tương lai; kế hoạch hoạt động tương lai; và chi

phí kiểm soát (Lyne, 1988;. Amstrong và cộng sự, 1996; Chenhall và

Langfield-Smith, 1998; Sulaiman và cộng sự, 2004; Fruitticher và cộng sự,

2004; Abdel-Kader và Luther, 2006). Lập ngân sách cũng được sử dụng để

đánh giá thành quả; kết nới các mục tiêu và hình thành chiến lược (Guilding

và cộng sự, 1998; Hansen và Van der Stede, 2003; Sulaiman và cộng sự,

2004; Fruitticher và cộng sự, 2004); phối hợp hoạt động giữa các đơn vị kinh

doanh (Chenhall và Langfield-Smith, 1998); nhìn nhận kịp thời các vấn đề và

cải thiện ngân sách cho các kỳ kinh doanh tiếp theo (Joshi và cộng sự, 2003).

Dugdale và Lyne (2004) đã điều tra hiện trạng sử dụng ngân sách trong

40 công ty vừa và lớn của Anh. Nghiên cứu cho thấy các cơng ty này có lập

ngân sách, thường từ 4 đến 6 tháng trước khi bắt đầu năm tài chính. Khoảng

80% công ty được hỏi đồng ý rằng họ có sửa đổi thường xuyên cho ngân sách

trong quá trình lập. Szychta (2002) đã tiến hành mợt nghiên cứu tại các DN ở



13

Ba Lan, cho thấy phần lớn các DN có lập ngân sách tài chính hoạt đợng hàng

năm, chủ yếu là các DN sản xuất và dịch vụ lớn (80 % số DN được hỏi). Tuy

nhiên, ngân sách tổng thể hoàn chỉnh hoặc gần hoàn thành được lập với một

tỷ lệ nhỏ hơn nhiều (17% DN). Các DN còn lại lập ngân sách bộ phận, chủ

yếu là bán hàng, sản xuất và ngân sách chi phí. Joshi và cộng sự (2003) cho

thấy rằng hầu hết các công ty được khảo sát ở Bahrain có lập kế hoạch dài

hạn và ngân sách hoạt động.

Mặc dù được sử dụng rộng rãi nhưng qua nhiều năm, ngân sách bị chỉ

trích bởi một số lý do. Những người sử dụng cho rằng ngân sách cản trở việc

phân bổ các nguồn lực của tổ chức, khuyến khích việc ra quyết định thiển cận

và làm rối loạn các chức năng khác (Hansen và cộng sự, 2003). Ngoài ra,

Bourne (2004) đã tiến hành một khảo sát đánh giá toàn cầu về ngân sách. Các

kết quả nghiên cứu cho thấy có sự bất mãn lan rợng với quá trình lập ngân

sách. Nhiều ý kiến cho rằng quá trình này là quá mất thời gian, quá tớn kém,

quá bị bóp méo, quá tập trung vào việc kiểm soát chi phí.... Đặc biệt, ngân

sách thường gần như hoàn toàn tách rời khỏi định hướng chiến lược tổng thể

của cơng ty.

Tuy nhiên, như đã nói ở trên, mặc dù tất cả những yếu kém trong dự toán

ngân sách truyền thớng, phần lớn các nghiên cứu đã tìm thấy rằng việc sử

dụng ngân sách truyền thống vẫn còn phổ biến. Ví dụ Hansen và cộng sự

(2003) cho rằng phần lớn các cơng ty Mỹ vẫn duy trì quá trình lập ngân sách

chính thức. Tương tự như vậy, Dugdale và Lyne (2004) thấy rằng ngân sách

vẫn tồn tại và hoạt động tốt. Họ kết luận rằng việc sử dụng ngân sách truyền

thống hiện nay một khi được kết hợp với việc tăng cường sử dụng các chỉ tiêu

phi tài chính, sự sụp đổ của nó có vẻ khó xảy ra.



14

Đo lường thành quả

Emmanuel và cộng sự (1990) cho rằng đo lường thành quả là một chức

năng quan trọng của KTQT. Đánh giá thành quả cung cấp thông tin cho các

nhà quản trị để hỗ trợ việc đạt được các mục tiêu chiến lược của tổ chức

(Jusoh và Parnell, 2008). Hall (2008) lập luận rằng trong những năm gần đây,

các tổ chức đã tìm cách phát triển toàn diện hơn các hệ thống đo lường thành

quả để cung cấp cho các nhà quản trị và người lao động thông tin hỗ trợ việc

quản trị hoạt đợng của họ. Ơng nói thêm rằng hệ thống đánh giá thành quả

toàn diện bao gồm một tập hợp đa dạng hơn các biện pháp đo lường, và các

biện pháp đo lường phải liên kết đến các chiến lược của công ty. Hệ thống

biện pháp này đo lường cả thành quả tài chính và phi tài chính và do đó các

cơng cụ sử dụng khơng chỉ là những công cụ truyền thống mà cả hiện đại như

BSC hay ROI, EVA...

Hỗ trợ ra quyết định

Wu và cộng sự (2007), cho rằng việc ra quyết định hiệu quả là yếu tố

quan trọng nhất trong môi trường cạnh tranh thay đổi nhanh chóng ngày nay.

Các phân tích hỡ trợ ra quyết định có thể được chia thành ngắn hạn và dài

hạn. Abdel-Kader và Luther (2006) lập luận rằng đối với các quyết định

thường xuyên hoặc ngắn hạn, KTQT có thể sử dụng phân tích chi phí - khối

lượng - lợi nhuận (CVP), phân tích lợi nhuận sản phẩm, phân tích lợi nhuận

của khách hàng và các mơ hình kiểm soát cổ phiếu.

Một kỹ thuật khác hỗ trợ ra quyết định là phân tích điểm hòa vớn cũng

có mợt tỷ lệ sử dụng tương đối vừa phải. Ví dụ, ở Anh, tỷ lệ sử dụng là 38%

(Abdel-Kader và Luther 2006); và ở Ba Lan là 47% (Szychta, 2002). Ngược

lại, Chenhall và Langfield-Smith (1998) nhận thấy một tỷ lệ sử dụng công cụ

này ở Úc tương đối cao (86%).



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ VẬN DỤNG KTQT VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC VẬN DỤNG KTQT TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x