Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍNH THANH KHOẢN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍNH THANH KHOẢN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

10



có khả năng đổi thành tiền mặt dễ dàng, thuận tiện cho việc thanh toán hay

chi tiêu. Các cách gọi thay thế cho tính thanh khoản là: tính lỏng, tính lưu

động.

Một tài sản gọi là thanh khoản khi mà thị trường của tài sản đó có nhiều

người mua và người bán. Tài sản có tính thanh khoản càng cao thì mức độ rủi

ro càng thấp. Như vậy, tiền mặt có tính thanh khoản cao nhất, ln ln dùng

được trực tiếp để thanh tốn, lưu động, tích trữ. Do vậy, tính thanh

khoản cũng là một trong những chức năng của tiền tệ. Còn hàng tồn kho có

tính thanh khoản thấp nhất vì phải trải qua giai đoạn phân phối và tiêu thụ

chuyển thành khoản phải thu, rồi từ khoản phải thu sau một thời gian mới

chuyển thành tiền mặt.

Chứng khốn có tính thanh khoản là những chứng khốn có sẵn thị

trường cho việc bán lại dễ dàng, giá cả tương đối ổn định theo thời gian và

khả năng cao để phục hồi nguồn vốn đã đầu tư nguyên thủy. Nhờ có thị

trường chứng khốn các nhà đầu tư có thể chuyển đổi chứng khoán họ sở hữu

thành tiền mặt khi họ muốn và khả năng thanh khoản chính là một trong

những đặc tính hấp dẫn của chứng khốn với các nhà đầu tư. Tính lỏng cho

thấy sự linh hoạt và an toàn của vốn đầu tư, thị trường hoạt động càng năng

động và có hiệu quả thì tính lỏng của chứng khoán giao dịch càng cao.

Khi lựa chọn chứng khoán để đầu tư, các nhà đầu tư nên xem xét đến

khả năng bán lại trước khi chúng đáo hạn để tái tạo nguồn vốn đầu tư ban đầu.

Nếu khả năng tái tạo kém, nghĩa là khó tìm được người mua hoặc phải bán

mất giá, nhà đầu tư sẽ gánh chịu những tổn thất tài chính lớn. Điều này gọi là

rủi ro thanh khoản trong đầu tư chứng khoán.

Nhà kinh tế học Keynes (1936) [17] đã chỉ ra rằng tính năng kinh tế đặc

biệt của tiền đó chính là “tính thanh khoản”. Tính thanh khoản của DN thể

hiện thơng qua tính thanh khoản của các loại tài sản và dễ dàng nhận thấy



11



rằng tiền là tài sản có tính thanh khoản cao nhất. Chính nhờ tính thanh

khoản này, DN tránh được những tác động tiêu cực và những “cú sốc” về

dòng tiền khơng mong đợi.

1.1.2. Lý thuyết khn mẫu ưa thích tính thanh khoản

Khn mẫu ưa thích tính thanh khoản là một trong những lý luận liên

quan đến nhu cầu tiền tệ mà John Maynard Keynes đã nêu ra trong các tác

phẩm nổi tiếng “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” (tên gốc

tiếng Anh: The General Theory of Employment, Interest and Money) và trở

thành một trong những lý luận quan trọng của kinh tế học Keynes.

Nội dung của lý luận này được diễn đạt như sau: Nhu cầu về tiền mặt

của mọi người gồm hai bộ phận:

•Một là, nhu cầu tiền mặt cho giao dịch. Lượng cầu tiền mặt này là hàm

số thuận của thu nhập. Con người kinh tế điển hình hễ có thu nhập nhiều hơn

thì tiêu dùng nhiều hơn.

•Hai là, nhu cầu tiền mặt cho mục đích đầu cơ. Lượng cầu tiền mặt thứ

hai này là hàm số nghịch của lãi suất. Lãi suất càng hấp dẫn thì người ta càng

ít giữ tiền mặt. Lãi suất kém hấp dẫn thì có xu hướng giữ tiền mặt nhiều hơn.

Nói cách khác, lãi suất chính là cái giá để người ta hy sinh sự ưa chuộng tính

thanh khoản của tiền mặt (quyết định xu hướng giữ tiền).

Các giả thiết của Keynes đưa ra trong khuôn mẫu này là:

•Giả thiết thứ nhất: Người ta dùng hai loại tài sản chính để làm của cải

dự trữ của mình là trái phiếu và tiền mặt. Giả thiết này làm cho khn mẫu ưa

thích tính thanh khoản bỏ qua các tác động của sự thay đổi tỷ suất lợi nhuận

dự tính của các loại tài sản thực khác như bất động sản, vàng, xe ơ tơ,…

Với giả thiết chỉ có hai loại tài sản nên tổng của cải trong nền kinh tế

bằng tổng khối lượng trái phiếu và tiền mặt cộng lại và bằng tổng lượng cung

trái phiếu (Bs) cộng với tổng lượng tiền cung ứng (Ms). Tổng lượng trái phiếu



12



mà mọi người muốn mua (Bd) và số tiền mà mọi người muốn giữ (Md) phải

bằng với tổng lượng cung trái phiếu và cung tiền do mọi người không thể mua

nhiều tài sản hơn số nguồn lực mà họ nắm giữ. Như vậy lượng cung trái phiếu

và tiền phải bằng với lượng cầu trái phiếu và tiền:

Bs + Ms = Bd + Md

Biến đổi Phương trình này ta có: Bs – Bd = Md – Ms

Từ phương trình trên chúng ta nhận thấy rằng nếu thị trường của tiền tệ

cân bằng, tức là Md = Ms, thì thị trường trái phiếu cũng phải cân bằng, tức là

Bs = Bd

Như vậy, việc phân tích khn mẫu ưa thích tính thanh khoản (Cung –

cầu tiền tệ) cũng tương đương với việc phân tích khn mẫu tiền vay (Cung –

cầu trái phiếu).

•Giả thiết thứ hai: Tiền mặt không mang lại lợi nhuận và trái phiếu có tỷ

suất lợi nhuận dự tính bằng với lãi suất thực. Như vậy, khi lãi suất tăng, tỷ

suất lợi nhuận dự tính của tiền giảm một cách đáng kể so với trái phiếu và

theo Lý thuyết lượng cầu tài sản – Lượng cầu của một tài sản tỷ lệ thuận với

tỷ suất sinh lời dự kiến của loại tài sản đó so với các tài sản khác, cầu về tiền

sẽ giảm xuống, cầu trái phiếu tăng lên.

Có thể giải thích giả thiết trên dựa vào khái niệm “Chi phí cơ hội”. Chi

phí cơ hội của một loại tài sản (trong trường hợp này là tiền) là khoản lợi

nhuận bị mất đi do không nắm giữ loại tài sản thay thế khác. Khi lãi suất tăng,

chi phí cơ hội của việc giữ tiền cũng tăng lên (khoản lợi nhuận bị mất đi do

không nắm giữ trái phiếu) và tiền trở nên kém hấp dẫn hơn, nhu cầu về tiền sẽ

giảm xuống.

•Giả thiết thứ ba: Lượng cung tiền là do Ngân hàng trung ương kiểm

sốt và khơng thay đổi trong ngắn hạn.



13



Lãi suất ln có xu hướng đi về điểm cân bằng. Khi lãi suất quá cao,

lượng tiền dư thừa sẽ được chuyển vào thị trường trái phiếu. Cầu trái phiếu

tăng lên làm giá trái phiếu tăng lên và lãi suất giảm đi. Lãi suất sẽ giảm cho

đến lúc thị trường trái phiếu và tiền tệ cân bằng và dừng lại ở mức lãi suất (x)

% (và ngược lại).

Có thể dễ dàng thấy rằng ứng với mỗi một mức cung – cầu tiền sẽ xác

định được một lãi suất cân bằng tương ứng. Cho nên có thể nói những nhân tố

ảnh hưởng đến quan hệ cung – cầu tiền tệ trên thị trường cũng sẽ ảnh hưởng

đến sự biến động của lãi suất trên thị trường. Khn mẫu ưa thích tính thanh

khoản cho thấy lãi suất cân bằng thay đổi khi các đường cung, cầu tiền tệ dịch

chuyển.

•Ưu điểm của Lý thuyết ưa chuộng tính thanh khoản:

- Giải thích được tác động của cung – cầu tiền tệ đến lãi suất cân bằng.

- Đưa ra được kết quả quan trọng: Việc tăng cung tiền tệ sẽ làm giảm lãi

suất => ở nhiều nước đã ứng dụng để thực hiện chính sách mở rộng tiền tệ khi

muốn giảm lãi suất để kích thích đầu tư và tiêu dùng.

•Nhược điểm của Lý thuyết ưa chuộng tính thanh khoản:

- Lý thuyết này giả định rằng người ta chỉ sử dụng tiền và trái phiếu để

làm của cải dự trữ, dẫn đến bỏ qua tác động của sự thay đổi tỷ suất lợi nhuận

dự tính của các loại tài sản thực khác: bất động sản, vàng,… Trong khi trên

thực tế, các yếu tố này cũng ảnh hưởng đến lãi suất trên thị trường.

- Chỉ nghiên cứu sự thay đổi của lãi suất cân bằng bởi một yếu tố kinh

tế cụ thể trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Trên thực tế, các yếu tố

kinh tế thường thay đổi đan xen => Lãi suất chịu sự tác động đồng thời của

nhiều yếu tố.

- Cung tiền và lãi suất không phải lúc nào cũng tỷ lệ nghịch với nhau

bởi sự gia tăng cung tiền ngồi việc tác động trực tiếp lên lãi suất còn có



14



những tác động trực tiếp lên các yếu tố khác như: thu nhập, mức giá và tỷ lệ

lạm phát dự tính. Các yếu tố này thay đổi do cung tiền tăng cũng có thể làm

lãi suất tăng lên.

Sau Keynes cũng có nhiều tác giả nghiên cứu về thuyết ưa chuộng tính

thanh khoản. Thuyết ưa chuộng thanh khoản đưa ra những lựa chọn xác định

bao nhiêu của cải được đầu tư vào các tài sản tài chính và quan tâm đến sự

phân bổ số của cải này vào tiền mặt và các tài sản tài chính thay thế khác. Hay

nói cách khác, ưa thích tính thanh khoản là một lý thuyết về việc mong muốn

giữ tài sản ngắn hạn hơn so với các tài sản dài hạn làm ảnh hưởng đến khả

năng thanh khoản của một DN.

1.1.3. Ý nghĩa của tính thanh khoản trong công ty

Một công ty không thể trả nợ đúng hạn và không thể tiếp tục giữ đúng

nghĩa vụ thanh tốn của mình đối với các nhà cung cấp tín dụng, dịch vụ và

hàng hóa thì cơng ty đó có thể đang rơi vào tình trạng yếu kém hoặc bị phá

sản. Khơng có khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn có thể ảnh hưởng

đến hoạt động của cơng ty và trong nhiều trường hợp có thể ảnh hưởng nhiều

đến uy tín của cơng ty.

Thiếu tiền mặt hoặc tài sản lưu động sẽ làm cho công ty bỏ lỡ những ưu

đãi được đưa ra bởi các nhà cung cấp. Mất ưu đãi như vậy có thể dẫn đến chi

phí cao hơn, do đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty.

Tất cả các bên liên quan đều quan tâm đến khả năng thanh tốn của một

cơng ty. Các nhà cung cấp sẽ kiểm tra tính thanh khoản của công ty trước khi

cho vay hay bán chịu. Thanh khoản đôi khi được yêu cầu bởi các ngân hàng

khi họ đánh giá một khoản cho vay. Nếu công ty cần một khoản vay, ngân

hàng có thể sẽ yêu cầu cơng ty đó duy trì mức thanh khoản tối thiểu nhất định,

như một phần của thỏa thuận cho vay. Vì lý do đó, các bước cải thiện thanh

khoản là cần thiết.



15



Các nhân viên cũng quan tâm đến tính thanh khoản của cơng ty để biết

liệu các cơng ty có thể đáp ứng các nghĩa vụ liên quan đến quyền lợi của mình

như: tiền lương, quỹ phúc lợi,…

Như vậy có thể nói rằng trong hoạt động kinh doanh thì tính thanh khoản

được xem như là mạch máu duy trì sự sống của cơng ty. Một khi cơng ty bị

mất tính thanh khoản thì sẽ khơng thể thanh tốn được các khoản nợ và tất

nhiên sẽ rơi vào tình trạng vỡ nợ. Lúc này khoảng cách giữa vỡ nợ và phá sản

chỉ còn là vấn đề thời gian nếu DN khơng kịp thời khơi phục được tính thanh

khoản. Do đó, việc hiểu rõ về tính thanh khoản của cơng ty giúp cho các nhà

quản lý kinh doanh tránh được rủi ro thanh khoản trong tương lai.

1.1.4. Đo lường tính thanh khoản

Trong quan hệ thanh tốn, hầu hết các DN đều có xu hướng thực hiện

việc tài trợ vốn thông qua vay nợ ngắn hạn. Vấn đề đặt ra là liệu DN có khả

năng thanh toán và thanh toán đúng hạn các khoản nợ? Đây là câu hỏi, không

chỉ bản thân DN mà các ngân hàng, nhà cung cấp, nhà đầu tư,... cũng rất quan

tâm. Để trả lời câu hỏi trên thì phải đo lường tính thanh khoản của DN. Các

DN chủ yếu sử dụng tỷ số thanh tốn để đo lường tính thanh khoản, do các tỷ

số này cho biết khả năng của một DN trong việc dùng các tài sản ngắn hạn để

chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn của mình. Tuy nhiên, mỗi tỷ số đều có

những ưu và nhược điểm riêng trong việc đo lường tính thanh khoản. Sau đây,

tác giả sẽ tập trung phân tích những hạn chế của các tỷ số thanh tốn này.

•Thứ nhất, tỷ số thanh toán hiện hành thể hiện mối quan hệ giữa toàn bộ

tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn của DN và được tính như sau:

Khh = Tài sản ngắn hạn/Nợ ngắn hạn

Về mặt lý thuyết, nếu tỷ số thanh tốn hiện hành càng cao thì khả năng

thanh tốn của DN càng tốt. Tuy nhiên, trên thực tế, đôi lúc hàng tồn kho của

DN lớn, tỷ số thanh toán hiện thời cao nhưng chưa chắc tính thanh khoản của



16



DN tốt. Nếu như, trong điều kiện thị trường có những biến động xấu, hàng tồn

kho bị ứ đọng, kém phẩm chất làm cho hàng tồn kho khó hốn chuyển thành

tiền. Lúc này, DN khó có thể thanh tốn được các khoản nợ đến hạn mặc dù tỷ

số thanh toán hiện thời cao. Vì thế, trong nhiều trường hợp, tỷ số thanh tốn

hiện thời khơng phản ánh chính xác khả năng thanh tốn của DN.

•Thứ hai, tỷ số khả năng thanh toán nhanh, tương tự như khả năng thanh

toán hiện hành nhưng tỷ số này loại bỏ phần tài sản tồn kho trên tử số. Vì đó

là bộ phận phải dự trữ thường xuyên cho kinh doanh mà giá trị của nó và thời

gian hốn chuyển thành tiền khơng chắc chắn. Cụ thể, tỷ số này được tính như

sau:

Knhanh = (TSNH – Hàng tồn kho)/Nợ ngắn hạn = (Tiền + ĐTNH + Nợ

phải thu)/Nợ ngắn hạn

Theo công thức trên, ta thấy trong tài sản ngắn hạn được dùng để thanh

toán nợ ngắn hạn của tỷ số thanh toán nhanh bao gồm các khoản nợ phải thu

nhưng không phải lúc nào DN cũng có thể thu hồi được và thu hồi đúng hạn

các khoản phải thu này. Khi đó, tỷ số khả năng thanh tốn hiện hành sẽ khơng

phản ánh chính xác khả năng thanh toán của DN.

Hạn chế của hai chỉ tiêu này là dựa trên khái niệm thanh lý toàn bộ tài sản

ngắn hạn của công ty kể cả những tài sản khó hốn chuyển thành tiền để đáp

ứng tất cả các khoản nợ ngắn hạn. Trong một số trường hợp, chính hạn chế này

khiến tỷ số thanh tốn hiện hành và tỷ số thanh tốn nhanh khơng phản ánh

chính xác khả năng thanh khoản của DN. Ví dụ sau đây, sẽ minh họa cho sự

hạn chế của việc sử dụng hai tỷ số thanh toán trên trong việc đo lường tính

thanh khoản của DN, giả sử có số liệu của hai DN A và B như bảng sau:



17



Bảng 1.1.4. Ví dụ về tính thanh khoản

Chỉ tiêu

DN A

DN B

1. Tài sản ngắn hạn

1.500.000.000 1.000.000.000

Trong đó: a. Hàng tồn kho

800.000.000 400.000.000

b. Nợ phải thu

600.000.000 350.000.000

2. Nợ ngắn hạn

350.000.000 350.000.000

3. Giá vốn hàng bán trung bình ngày

5.000.000

5.000.000

4. Doanh thu trung bình ngày

7.000.000

7.000.000

5. Tỷ số thanh toán hiện hành: (5) = (1)/(2)

4,29

2,86

6. Tỷ số thanh toán nhanh: (6) = [(1)-(a)]/(2)

2,00

1,71

7. Kỳ chuyển đổi hàng tồn kho: (7) = (a)/(3)

160 ngày

80 ngày

8. Kỳ thu tiền khách hàng: (8) =(b)/(4)

86 ngày

50 ngày

9. Kỳ thanh toán cho nhà cung cấp:

70 ngày

70 ngày

(9) = (2)/(3)

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Dựa vào số liệu trên cho thấy, DN A có tỷ số thanh tốn hiện hành là

4,29 và tỷ số thanh tốn nhanh là 2,00. Trong khi đó, DN B có tỷ số thanh

tốn hiện hành là 2,86 và tỷ số thanh toán nhanh là 1,71. Như vậy, nếu chỉ dựa

vào khả năng thanh toán hiện hành và khả năng thanh tốn nhanh thì khả năng

thanh tốn của DN A là tốt hơn DN B. Nhưng đi sâu phân tích chúng, ta thấy:

DN A cần 86 ngày để thu hồi các khoản phải thu và mất 160 ngày để hàng tồn

kho quay hết 1 vòng. DN B cần 50 ngày để thu hồi các khoản phải thu và mất

80 ngày để hàng tồn kho quay hết 1 vòng.

Như vậy, trong ví dụ trên DN A là rất kém thanh khoản. Mặc dù, DN A

có tỷ số thanh tốn hiện hành và tỷ số thanh tốn nhanh rất cao. Vì các khoản

nợ phải trả của DN A đến nhanh hơn so với tốc độ chuyển đổi hàng tồn kho

và các khoản phải thu sang tiền mặt. Trong khi đó, DN A khơng thể thanh

tốn các khoản nợ phải trả đến hạn mà không phải bằng tiền mặt. Lúc này,

DN B có thanh khoản tốt hơn DN A vì q trình chuyển đổi của hàng tồn kho

và nợ phải thu nhanh hơn.



18



•Thứ ba, tỷ số khả năng thanh tốn tức thời: Đây là tỷ số thể hiện mối

quan hệ giữa tiền và tương đương tiền so với nợ ngắn hạn:

Ktt = Vốn bằng tiền / Nợ ngắn hạn

Tỷ số này, trên tử số loại bỏ hàng tồn kho và các khoản phải thu vì hai

khoản này khơng có sự đảm bảo rằng có thể chuyển đổi nhanh thành tiền mặt

để kịp thời đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn. Tuy nhiên, rất ít DN sẽ có đủ tiền

mặt và các khoản tương đương tiền để trang trải đầy đủ và kịp thời các khoản

nợ ngắn hạn. Vì nếu một DN giữ một lượng vốn bằng tiền quá lớn thì điều

này sẽ làm cho hiệu quả sử dụng tài sản thấp. Vì vậy, việc sử dụng khả năng

thanh toán tức thời để đánh giá tính thanh khoản của DN cũng có lúc khơng

chính xác. Bởi vì, những DN có lượng tiền và tương đương tiền thấp (khả

năng thanh toán tức thời thấp), nhưng nếu số vòng quay hàng tồn kho và số

vòng quay nợ phải thu lớn thì tính thanh khoản của DN sẽ tốt.

Nhận xét, việc sử dụng ba tỷ số thanh tốn nêu trên trong việc đo lường

tính thanh khoản có những hạn chế nhất định, chưa đủ để đánh giá chính xác

tính thanh khoản của DN. Vì vậy, để khắc phục được những hạn chế trên thì

ngồi ba tỷ số khả năng thanh tốn, DN có thể vận dụng chỉ số Chu kỳ chuyển

đổi tiền mặt (Cash Conversion Cycle-CCC). Đây là chỉ số được Verlyn

Richards và Eugene Laughlin giới thiệu vào năm 1980 trong bài viết “Một sự

tiếp cận chu kỳ chuyển đổi tiền mặt để phân tích tính thanh khoản” [22]. Nói

cách khác, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt phản ánh độ dài của thời gian mà một

DN bán hàng tồn kho, thu các khoản phải thu và trả các khoản phải trả của

mình. Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt được tính theo cơng thức sau:

•CCC = ICP + RCP – PDP

Trong đó:



19



- ICP là kỳ chuyển đổi hàng tồn kho (Inventory Conversion Period): Chỉ

tiêu này phản ánh số ngày của một vòng quay hàng tồn kho và được tính như

sau:

ICP = Giá trị hàng tồn kho bình quân/Giá vốn hàng bán trung bình ngày

- RCP là kỳ thu tiền khách hàng (Receivable Conversion Period): Chỉ

tiêu này phản ánh số ngày bình quân của một chu kỳ nợ, từ khi bán hàng đến

khi thu tiền và được tính như sau:

RCP = Số dư bình quân nợ phải thu/Doanh thu trung bình ngày

- PDP là kỳ thanh tốn cho nhà cung cấp (Payable Deferral Period): Chỉ

tiêu này phản ánh số ngày DN cần để thanh toán các khoản phải trả của mình

và được tính như sau:

PDP = Số dư bình quân nợ phải trả/Giá vốn hàng bán trung bình ngày

Từ cơng thức tính CCC, ta thấy chỉ tiêu này càng thấp sẽ rút ngắn chu kỳ

chuyển đổi tiền mặt, giảm lượng vốn lưu động bị ứ đọng, nâng cao hiệu quả

hoạt động, tăng tính thanh khoản cho DN.

Ví dụ trên, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt của DN A và B lần lượt được tính

như sau:

CCCA = ICPA + RCPA – PDPA = 160 + 86 – 70 = 176 (ngày)

CCCB = ICPB + RCPB – PDPB = 80 + 50 – 70 = 60 (ngày)

Dựa vào kết quả tính tốn trên, ta thấy chu kỳ chuyển đổi tiền mặt của

DN B (60 ngày) ngắn hơn DN A (176 ngày), tức là tính thanh khoản của DN

B tốt hơn DN A.

Bên cạnh đó, chỉ số vòng quay vốn lưu động cũng có thể được xem xét

để đánh giá chu kỳ chuyển đổi tiền mặt của một DN. Một DN có thể có lợi

nhuận nhưng khả năng thanh khoản thấp nếu tài sản của nó khơng thể dễ dàng

được chuyển đổi thành tiền mặt. Việc quản lý vốn lưu động liên quan đến

quản lý hàng tồn kho, các khoản phải thu, phải trả và tiền mặt. Quá trình vận



20



động của vốn lưu động bắt đầu từ việc dùng tiền tệ mua sắm vật tư dự trữ cho

sản xuất, tiến hành sản xuất và khi sản xuất xong DN tổ chức tiêu thụ để thu

về một số vốn dưới hình thái tiền tệ ban đầu với giá trị tăng thêm. Mỗi lần vận

động như vậy được gọi là một vòng luân chuyển của vốn lưu động. DN sử

dụng vốn đó càng có hiệu quả bao nhiêu thì càng có thể sản xuất và tiêu thụ

sản phẩm nhiều bấy nhiêu. Vì lợi ích kinh doanh đòi hỏi các DN phải sử dụng

hợp lý, hiệu quả hơn từng đồng vốn lưu động làm cho mỗi đồng vốn lưu động

hàng năm có thể mua sắm nguyên, nhiên vật liệu nhiều hơn, sản xuất ra sản

phẩm và tiêu thụ được nhiều hơn. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động

tức là có thể tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động, rút ngắn thời gian vốn lưu

động nằm trong các khâu dự trữ, sản xuất và lưu thơng, từ đó giảm bớt số

lượng vốn lưu động chiếm dùng, tiết kiệm vốn lưu động trong luân chuyển.

Thông qua việc tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động, DN có thể giảm bớt số

vốn lưu động chiếm dùng mà vẫn đảm bảo được nhiệm vụ sản xuất – kinh

doanh như cũ hoặc với quy mô vốn lưu động khơng đổi DN vẫn có thể mở

rộng được quy mơ sản xuất.

Trên thực tế, có rất nhiều ngun nhân khiến một DN làm ăn thiếu hiệu

quả thậm chí thất bại trên thương trường. Có thể có các nguyên nhân chủ

quan, nguyên nhân khách quan, tuy nhiên một nguyên nhân phổ biến nhất vẫn

là việc sử dụng vốn không hiệu quả trong việc mua sắm, dự trữ, sản xuất và

tiêu thụ sản phẩm. Điều này dẫn đến việc sử dụng lãng phí vốn lưu động, tốc

độ luân chuyển vốn lưu động thấp, mức sinh lợi kém và thậm chí có DN còn

gây thất thốt, khơng kiểm sốt được vốn lưu động dẫn đến mất khả năng tổ

chức sản xuất kinh doanh, khả năng thanh tốn. Do đó, tác giả nhận thấy cần

phải xem xét chỉ tiêu vòng quay vốn lưu động để đánh giá tốc độ luân chuyển

vốn lưu động và khả năng thanh khoản của một DN.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍNH THANH KHOẢN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×