Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 4.1 Mức ý nghĩa của từng nhân tố

Bảng 4.1 Mức ý nghĩa của từng nhân tố

Tải bản đầy đủ - 0trang

86



chỉnh phù hợp nhằm kế thừa những ưu điểm của sách giáo khoa Tiếng Anh

hiện nay đang có. Đồng thời khắc phục những điểm yếu còn tồn tại như còn

nặng về kiến thức nhưng thiếu kỹ năng ngôn ngữ, học liệu giảng dạy còn

thiếu, chưa đạt chất lượng cao...nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng sách giáo

khoa tiếng Anh mới sau năm 2018.

Thêm vào đó, các kết quả nghiên cứu này hy vọng sẽ giúp Bộ Giáo dục

và đào tạo, các nhà làm giáo dục, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam và các nhà

xuất bản khác tham gia vào việc biên soạn sách giáo khoa mới, sẽ có những

thay đổi phù hợp. Đồng thời, với kết quả nghiên cứu này, một lần nữa cho

thấy kỹ năng Nghe và Nói của sách giáo khoa tiếng Anh bậc trung học phổ

thông hiện nay còn khá nhiều vấn đề cần cải thiện. Nguyên nhân do những bài

nghe và luyện nói trong sách còn sơ sài, khơng đa dạng, nội dung khơng có

mối liên hệ với cuộc sống dẫn đến người dạy không hứng thú, làm cản trở khả

năng truyền thụ kiến thức đến người học. Đây là vấn đề cực kỳ đáng lưu tâm

cho Chính phủ, Bộ Giáo dục và đào tạo, những nhà làm giáo dục, những cán

bộ biên soạn sách giáo khoa theo chương trình mới sau năm 2018 nếu không

muốn khả năng ngoại ngữ của học sinh Việt Nam bị tụt lại so với các nước

trong khu vực.

4.1.3 So sánh kết quả nghiên cứu so với các nghiên cứu trước đây

- So với nghiên cứu của Ali Yildirim năm 2006

Trong nghiên cứu của tác giả Ali Yildirim, mơ hình đánh giá sự hài lòng

của giáo viên đối với sách giáo khoa được xây dựng dựa trên 4 nhân tố Hình

thức và trình bày, Nội dung, Ngơn ngữ giảng dạy và Học liệu đi kèm. Trong

đó nhân tố Nội dung và Ngôn ngữ giảng dạy tác động mạnh nhất đến sự hài

lòng của giáo viên.

Trong nghiên cứu của tác giả, có sự khác biệt rõ nhất so với mơ hình của

tác giả Ali Yildirim ở 2 nhân tố Kỹ năng Nghe – Nói và Kỹ năng Đọc – Viết



87



do trong nghiên cứu của Ali Yildirim là nghiên cứu về sách giáo khoa môn

Lịch sử. Tuy nhiên, nếu xét về những yếu tố tương đồng thì có mối liên hệ

khá rõ rệt. Cụ thể, nhân tố có sự tương đồng giữa 2 mơ hình là Học liệu đi

kèm đều khơng đạt được sự hài lòng của giáo viên. Ngược lại, nhân tố Nội

dung kiến thức có sự khác biệt mạnh mẽ, đặc biệt là ở tiêu chí “Ngơn ngữ sử

dụng trong sách phù hợp với ngôn ngữ trong đời sống thực tế và lứa tuổi học

sinh”. Trong nghiên cứu của tác giả, nhân tố này nhận được sự hài lòng khá

tốt của giáo viên, tuy nhiên trong nghiên cứu của Ali Yildirim thì hồn tồn

ngược lại.

- So với nghiên cứu của Virginie Askildson tại Đại học bang Arizona

năm 2008

Trong nghiên cứu của tác giả Virginie Askildson, tác giả xây dựng mơ

hình với 3 nhân tố Nội dung bài học, Ngữ pháp, Phương tiện và tài liệu giảng

dạy. Trong đó, nhân tố Nội dung bài học và Phương tiện và tài liệu giảng dạy

đạt được sự hài lòng của giáo viên nhất.

Trong nghiên cứu của tác giả, so với mơ hình nghiên cứu sự hài lòng của

Virginie Askildson, nhân tố Ngữ pháp được tách thành 2 nhân tố riêng biệt là

Kỹ năng Nghe – Nói và Kỹ năng Đọc - Viết, nhân tố Phương tiện và tài liệu

giảng dạy được tách thành Học liệu đi kèm và Hình thức trình bày nhằm cụ

thể hóa hơn cho mơ hình. Qua 2 nghiên cứu giữa Virginie và tác giả, sự bất

tương đồng giữa nhân tố Phương tiện và tài liệu giảng dạy của Virginie và 2

nhân tố Hình thức trình bày- Học liệu đi kèm của tác giả là hồn tồn phù hợp

vì tại Hoa Kỳ, nơi nghiên cứu của Virginie thì cơng nghệ thông tin và công

nghệ in ấn quá chênh lệch so với Việt Nam, đây là điều mà Nhà xuất bản giáo

dục và các nhà xuất bản khác tham gia in ấn bộ sách giáo khoa cần phải cố

gắng cải thiện nhiều hơn nữa trong lần thay sách tiếp theo.



88



- Nghiên cứu của tác giả Janne Hietala tại Phần Lan vào tháng 8

năm 2015

Trong nghiên cứu của tác giả Janne Hietala, mơ hình đánh giá sự hài

lòng của giáo viên được tách thành 6 nhân tố. So với mơ hình của tác giả, có

sự khác biệt rõ nhất là nhân tố Giá, đây là nhân tố mà trong phần phỏng vấn

sâu của tác giả đã được các chuyên gia tư vấn loại bỏ vì khơng phản ảnh được

bản chất của sách giáo khoa tại Việt Nam hiện nay.

Về kết quả nghiên cứu của Janne Hietala, nếu không xét nhân tố Giá, thì

tất cả các nhân tố còn lại đều đạt được sự hài lòng của giáo viên rất cao, đặc

biệt là hai nhân tố Ngôn ngữ và cấu trúc, Nội dung và chủ đề bài học. Thật

vậy, Phần Lan là một quốc gia có nền giáo dục phát triển nhất trên thế giới,

nên khơng bất ngờ khi có sự chênh lệch giữa kết quả nghiên cứu của tác giả

và Janne Hietala. Qua so sánh giữa 2 nghiên cứu này, kết hợp với nghiên cứu

của tác giả Virginie Askildson tại Hoa Kỳ, chúng ta có thể nhận thấy chất

lượng sách giáo khoa của Việt Nam hiện nay đang còn tồn tại rất nhiều vấn

đề, cả về nội dung lẫn hình thức, khả năng tích hợp và chất lượng thiết bị dạy

học.

- Nghiên cứu của Hoàng Văn Vân vào tháng 8 năm 2015

Đây là nghiên cứu về sách giáo khoa tiếng Anh công phu và đầy đủ nhất

của Việt Nam tính đến giai đoạn hiện nay của Hồng Văn Vân. Với cùng mơi

trường địa lý nghiên cứu là Việt Nam, đối tượng nghiên cứu là sách giáo khoa

tiếng Anh, có lẽ đây là so sánh phù hợp nhất của tác giả trong luận văn này.

Với sự tương đồng như vậy, trong nghiên cứu của tác giả Hồng Văn

Vân, 2 nhóm nhân tố Kỹ năng Nghe – Nói và Kỹ năng Đọc – Viết của tác giả

được gộp chung lại thành nhân tố Nội dung kiến thức. Nhằm mục đích cụ thể

hóa các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của giáo viên đối với sách giáo

khoa tiếng Anh.



89



Trong nghiên cứu của Hoàng Văn Vân, tất cả các nhân tố đều đạt được

sự hài lòng khá cao của giáo viên, đặc biệt là kỹ năng nghe, kỹ năng nói và

hình thức trình bày. Đây là sự khác biệt rõ ràng nhất so với nghiên cứu của tác

giả. Nguyên nhân nằm ở chỗ, trong nghiên cứu của Hoàng Văn Vân, khách

thể nghiên cứu là sách giáo khoa tiếng Anh thuộc chương trình thí điểm thuộc

đề án “Ngoại ngữ quốc gia 2020”. Cụ thể, so với sách giáo khoa tiếng Anh

theo chương trình cũ thì sách giáo khoa tiếng Anh mới có khá nhiều sự khác

biệt về nội dung, nhưng đặc biệt nhất là sự cải thiện về chất lượng kỹ năng

ngôn ngữ, chất lượng in ấn. Vấn đề này không thuộc phạm vi nghiên cứu của

luận văn nên tác giả không đi sâu vào phân tích sự khác biệt mà chỉ đề cập

đến những tương đồng và bất tương đồng trong những nhân tố của sách giáo

khoa tiếng Anh ảnh hưởng đến sự hài lòng của giáo viên.

4.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

4.2.1 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo

Về công tác biên soạn bộ sách giáo khoa mới sau năm 2018, trong đó có

sách giáo khoa tiếng Anh bậc trung học phổ thơng cần được Bộ, Vụ giáo dục

trung học quan tâm, chỉ đạo một cách sâu sắc, thiết thực hơn. Đồng thời cần

phải học tập kinh nghiệm làm sách giáo khoa của các nước phát triển về giáo

dục như Phần Lan, Nhật Bản, Singapore.... Mục tiêu quan trọng nhất là nâng

cao chất lượng giáo dục của học sinh, mà trong đó tác động quan trọng nhất là

chất lượng truyền đạt của người giáo viên, được xác định thơng qua sự hài

lòng của họ về nội dung, hình thức của sách giáo khoa.

Về công tác đào tạo cán bộ giáo dục, giáo viên bộ môn tiếng Anh cần

phải được chú trọng hơn nữa. Ngồi việc tổ chức các buổi hội thảo, các khóa

đào tạo kỹ năng giảng dạy của giáo viên, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các cơ

quan ban ngành liên quan cần thường xuyên tổ chức các buổi tọa đàm, trao

đổi kiến thức, kỹ năng giảng dạy với các giáo viên dạy tại các trường, các



90



chuyên gia giáo dục... nhằm hiểu được những khó khăn, nguyện vọng của họ,

góp phần thu thập thêm dữ kiện cho việc xây dựng bộ sách giáo khoa mới sau

năm 2018.

4.2.2 Đối với Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam

Theo nghiên cứu của tác giả, chất lượng sách giáo khoa tiếng Anh hiện

nay đang tồn tại rất nhiều vấn đề từ nội dung cho đến hình thức, cũng như khả

năng tích hợp học liệu làm cản trở mục tiêu nâng cao chất lượng giảng dạy.

Điều này đã được nhiều cá nhân, tổ chức đề cập đến, và được khẳng định một

cách có cơ sở khoa học qua nghiên cứu này. Do vậy, là đơn vị trực tiếp đảm

nhiệm công tác tổ chức biên soạn, biên tập, in và phát hành sách giáo khoa và

các sản phẩm giáo dục phục vụ nghiên cứu, giảng dạy, học tập của các ngành

học, bậc học trong toàn quốc; đồng thời giúp Bộ Giáo dục & Đào tạo chỉ đạo

công tác thiết bị giáo dục và thư viện trường học trên toàn quốc. Nhà xuất bản

giáo dục Việt Nam cần có những việc làm mang tính đại diện, khẳng định là

đơn vị đứng đầu trong công tác giáo dục tại Việt Nam, mà cụ thể là tiếp tục

mời các nhà xuất bản từ nước ngoài về làm việc, trao đổi đào tạo nhằm xây

dựng một bộ sách giáo khoa tiếng Anh chuẩn, tiệm cận được với các bộ sách

giáo khoa tiếng Anh khác của các nước trong khu vực cũng như trên thế giới.

Bằng việc xây dựng bộ tiêu chuẩn bao gồm “tính sư phạm”, “tính hiện đại”,

“tính thực tiễn và bền vững”. Phần nào cho thấy sự nghiêm túc, quyết tâm của

Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam trong việc khắc phục những nhược điểm của

bộ sách giáo khoa hiện nay nhằm mục tiêu xây dựng bộ sách giáo khoa mới

tốt hơn.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 4.1 Mức ý nghĩa của từng nhân tố

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×