Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b. Một số yếu tố tầm vĩ mô

b. Một số yếu tố tầm vĩ mô

Tải bản đầy đủ - 0trang

17



- Nhu cầu của nền kinh tế

Chất lượng của sản phẩm chịu sự chi phối của các điều kiện cụ thể của

nền kinh tế, thể hiện ở các mặt: đòi hỏi của thị trường, trình độ, khả năng

cung ứng của sản xuất, chính sách kinh tế của Nhà nước ...

Nhu cầu của thị trường đa dạng phong phú về số lượng, chủng loại...

nhưng nguồn lực của nền kinh tế thì có hạn. Như vậy, chất lượng của sản

phẩm còn phụ thuộc vào khả năng hiện thực của toàn bộ nền kinh tế.

- Sự phát triển của khoa học kỹ thuật

Ngày nay, khoa học kỹ thuật đang phát triển như vũ bão trên toàn thế

giới. Cuộc cách mạng này đang thâm nhập và chi phối hầu hết các lĩnh vực

hoạt động của xã hội loài người. Chất lượng của bất kỳ một sản phẩm nào

cũng gắn liền với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật hiện đại, chu kỳ công

nghệ của sản phẩm được rút ngắn, công dụng của sản phẩm ngày càng phong

phú, đa dạng; nhưng cũng chính vì vậy mà khơng bao giờ thoả mãn với mức

chất lượng hiện tại, mà phải thường xuyên theo dõi những biến động của thị

trường về sự đổi mới của khoa học kỹ thuật liên quan đến nguyên vật liệu kỹ

thuật, công nghệ, thiết bị... để điều chỉnh kịp thời nhằm nâng cao chất lượng

sản phẩm, phát triển doanh nghiệp.

- Hiệu lực của cơ chế quản lý

Trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, sự quản lý ấy

thể hiện bằng nhiều biện pháp: kinh tế - kỹ thuật- hành chính xã hội ...cụ thể

hố bằng nhiều chính sách nhằm ổn định sản xuất, nâng cao chất lượng sản

phẩm, hướng dẫn tiêu dùng, tiết kiệm ngoại tệ, đầu tư vốn, chính sách giá,

chính sách thuế, chính sách hỡ trợ, khuyến khích của Nhà nước đối với các

doanh nghiệp .

Hiệu lực của cơ chế quản lý là đòn bẩy quan trọng trong việc quản lý

chất lượng sản phẩm, đảm bảo sự phát triển ổn định của sản xuất, đảm bảo uy



18



tín và quyền lợi của nhà sản xuất và người tiêu dùng. Mặt khác, hiệu lực cơ

chế quản lý còn đảm bảo sự bình đẳng trong sản xuất kinh doanh đối với các

Doanh nghiệp trong nước, giữa khu vực quốc doanh, khu vực tập thể, khu vực

tư nhân, giữa các Doanh nghiệp trong nước và nước ngoài.

- Các yếu tố về phong tục, tập quán, thói quen tiêu dùng

Ngồi các yếu tố mang tính khách quan vừa nêu trên, nhu cầu của nền

kinh tế, sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, hiệu lực của cơ chế quản lý, còn

có một yếu tố khơng kém phần quan trọng đó là yếu tố phong tục tập quán,

thói quen, tiêu dùng của từng vùng, từng lãnh thổ.

Sở thích tiêu dùng của từng nước, từng dân tộc, từng tôn giáo, từng

người khơng hồn tồn giống nhau. Do đó, các Doanh nghiệp phải tiến hành

điều tra, nghiên cứu nhu cầu, sở thích của từng thị trường cụ thể, nhằm thoả

mãn những yêu cầu về số lượng và chất lượng sản phẩm.

1.3.



KHÁI NIỆM SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG

1.3.1. Khái niệm về sự hài lòng

Có nhiều định nghĩa khác nhau về sự hài lòng, nhưng tất cả cùng thống



nhất sự hài lòng ở ba điểm chung là: (1) sự hài lòng của người tiêu dùng là

một phản ứng (cảm xúc hoặc nhận thức) với cường độ khác nhau; (2) phản

ứng dựa trên đánh giá lợi ích, việc đánh giá dựa trên kỳ vọng của sản phẩm,

kinh nghiệm tiêu thụ…; và (3) phản ứng xảy ra tại một thời điểm cụ thể ( sau

khi tiêu thụ, sau khi lựa chọn, dựa trên kinh nghiệm tích lũy…) theo Joan L.

Giese và Joseph A. Cote tại Academy of Marketing Science Review.

Theo Philip Kotler, sự thỏa mãn - hài lòng của khách hàng (customer

satisfaction) là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ

việc so sánh kết quả thu được từ việc tiêu dùng sản phẩm/dịch vụ với những

kỳ vọng của khách hàng. Mức độ hài lòng phụ thuộc vào sự khác biệt giữa kết

quả nhận được và kỳ vọng.



19



+ Nếu kết quả thực tế thấp hơn kỳ vọng thì khách hàng khơng hài lòng.

+ Nếu kết quả thực tế tương xứng với kỳ vọng thì khách hàng sẽ hài lòng.

+ Nếu kết quả thực tế cao hơn kỳ vọng thì khách hàng rất hài lòng.

Khách hàng chủ yếu hình thành mong đợi của họ thông qua những kinh

nghiệm trong quá khứ, thông tin truyền miệng, từ gia đình, bạn bè, đồng

nghiệp và thông tin được chuyển giao thông qua các hoạt động marketing,

như quảng cáo hoặc quan hệ công chúng. Nếu sự mong đợi của khách hàng

không được đáp ứng, họ sẽ khơng hài lòng và rất có thể họ sẽ kể những người

khác nghe về điều đó.

1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng

Theo Zeithaml và Bitner (2000), sự hài lòng khách hàng chịu sự tác động

của 5 yếu tố: chất lượng dịch vụ, chất lượng sản phẩm, giá cả, nhân tố hoàn

cảnh, nhân tố cá nhân.

Theo Czepiel, Solomo và Gutman (1985), sự hài lòng khách hàng chịu

sự tác động của 2 yếu tố: yếu tố chức năng (hàng hóa, sản phẩm hữu hình),

yếu tố dịch vụ nhà cung ứng (vơ hình).

Các nghiên cứu về sự hài lòng liên quan đến chất lượng sản phẩm

thường được dựa trên các nghiên cứu của Zeithaml và Bitner (1996); Czepiel,

Solomo và Gutman (1985).

Nghiên cứu “Study the Effects of Customer Service and Product Quality

on Customer Satisfaction and Loyalty” Asghar Afshar Jahanshahi và các

cộng sự. Nghiên cứu chỉ ra nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng khách hàng:

chất lượng sản phẩm (ơ tơ) và chất lượng dịch vụ. Nghiên cứu định lượng trên

586 khách hàng. Khách thể nghiên cứu là xe ô tô và đối tượng điều tra là các

chủ xe. Giả thuyết của nghiên cứu sẽ được phân tích bằng cách sử dụng hồi

quy và ANOVA. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự hài lòng khách hàng phụ

thuộc chủ yếu vào chất lượng ơ tơ (tính an tồn, thoải mái, thiết kế sản phẩm,

chức năng, mức ơ nhiễm…), tiếp sau đó là dịch vụ hỗ trợ.



20



1.4. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ SÁCH GIÁO KHOA

1.4.1. Khái niệm sách giáo khoa

Đại từ điển Tiếng Việt định nghĩa “Sách giáo khoa là sách soạn theo

chương trình để dạy và học trong nhà trường” [114, tr.1354].

Định nghĩa trên được hiểu rằng, sách giáo khoa là sách viết cho học sinh

theo những nội dung chuyên môn đã được quy định trong chương trình và

theo những quan điểm chỉ đạo thống nhất về phương pháp dạy học. Theo định

nghĩa này, một số nhà nghiên cứu cho rằng các loại sách phục vụ cho học sinh

mẫu giáo, sách dạy học vần... chưa được coi là sách giáo khoa.

Luật Giáo dục, chương 2 mục 2 điều 29 quy định: “Sách giáo khoa cụ

thể hoá yêu cầu về nội dung kiến thức và kỹ năng quy định trong chương trình

giáo dục của các môn học ở những lớp của giáo dục phổ thông, đáp ứng yêu

cầu về phương pháp giảng dạy phổ thông. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

ban hành chương trình phổ thơng, duyệt sách giáo khoa để sử dụng chính

thức, ổn định, thống nhất trong giảng dạy, học tập ở các cơ sở giáo dục phổ

thông, trên cơ sở thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình

giáo dục phổ thơng và sách giáo khoa” [9, tr.16].

Hiểu theo nghĩa rộng sách giáo khoa có thể bao gồm cả sách viết cho học

sinh và một số sách kèm theo như sách giáo viên, sách bài tập. Đây là một đặc

điểm của giáo dục hiện đại, quan tâm nhiều đến kỹ năng thực hành. Trước

đây, hệ thống sách giáo khoa không bao gồm sách bài tập, phần bài tập được

in luôn trong sách giáo khoa dành cho học sinh nay hầu như tất cả các bộ mơn

đều có sách bài tập bên cạnh sách giáo khoa. Tập hợp các cuốn sách giáo

khoa, các sách tham khảo và sách cơng cụ có liên quan đến việc dạy học của

giáo viên và học sinh tạo thành một tổ hợp giáo khoa. Tổ hợp giáo khoa đó

phải là một chỉnh thể gắn bó mật thiết với nhau, trong đó sách giáo khoa phải

là tài liệu thể hiện cụ thể nhất nội dung, phương pháp giáo dục và các loại



21



sách trong tổ hợp nói trên phải phụ thuộc vào sách giáo khoa. Cho nên nói

đến sách giáo khoa là nói đến một tổ hợp giáo khoa và lí luận về sách giáo

khoa cũng là lí luận một tổ hợp sách. Cho đến nay sách giáo khoa vẫn là tài

liệu chủ yếu để dạy và học ở các lớp học phổ thông. Do đó, các u cầu đổi

mới giáo dục phổ thơng về cơ bản đã được thể hiện trong nội dung và phương

pháp biên soạn sách giáo khoa. Trong quá trình biên soạn chương trình và

sách giáo khoa mới, chúng ta đã chú ý đến quan điểm đổi mới phương pháp

dạy học “lấy học sinh làm trung tâm” các nội dung, hình thức trình bày của

sách giáo khoa mới về cơ bản đã tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tiếp tục

nâng cao năng lực tự học và giúp giáo viên đổi mới phương pháp dạy học

theo hướng tổ chức, hướng dẫn học sinh chủ động, sáng tạo trong quá trình

tìm hiểu, tiếp nhận tri thức.

1.4.2.



Sách giáo khoa Tiếng Anh



Trong Chương trình trung học phổ thơng ở Việt Nam, vị trí và vai trò của

tiếng Anh được xác định rõ trong những nội dung dưới đây: Tiếng Anh, với tư

cách là mơn ngoại ngữ, là mơn văn hóa cơ bản, bắt buộc trong chương trình

giáo dục phổ thơng, là một bộ phận không thể thiếu của học vấn phổ thông.

Môn tiếng Anh ở trường phổ thông cung cấp cho học sinh một công cụ giao

tiếp mới để tiếp thu những tri thức khoa học, kĩ thuật tiên tiến, tìm hiểu các

nền văn hóa đa dạng và phong phú trên thế giới, dễ dàng hội nhập với cộng

đồng quốc tế. Môn tiếng Anh ở trường phổ thơng góp phần phát triển tư duy

(trước hết là tư duy ngôn ngữ) và hỗ trợ cho việc dạy và học. Với đặc trưng

riêng, môn tiếng Anh góp phần đổi mới phương pháp dạy học, lồng ghép và

chuyển tải nội dung của nhiều môn học khác ở trường phổ thông. Cùng với

các môn học và các hoạt động giáo dục khác, mơn tiếng Anh góp phần hình

thành và phát triển nhân cách của học sinh, giúp thực hiện mục tiêu giáo dục

toàn diện ở trường phổ thơng.



22



1.4.3. Các nghiên cứu của các tác giả nước ngồi

Nghiên cứu “High School Textbooks in Turkey from Teachers' and

Students' Perspectives: The Case of History Textbooks” của Ali Yildirim năm

2006. Tác giả đã đưa ra mơ hình đánh giá sự hài lòng của giáo viên Thổ Nhĩ

Kỳ đối với sách giáo khoa môn Lịch sử, thông qua việc điều tra phỏng vấn

hơn 115 giáo viên tại 61 trường cấp 3 tại 23 tỉnh của Thổ Nhĩ Kỳ. Mơ hình

đánh giá của tác giả dựa trên 4 nhân tố: Hình thức và trình bày sách( 4 biến

quan sát); Nội dung( 3 biến quan sát); Ngôn ngữ( 3 biến quan sát); Tài liệu và

học liệu đi kèm( 3 biến quan sát), được thiết kế như sau:

Hình thức và trình bày sách

Nội dung

Ngơn ngữ giảng dạy



Sự hài lòng của

giáo viên



Tài liệu và học liệu đi kèm

Hình 1.1. Mơ hình nghiên cứu sự hài lòng cuả giáo viên đối với sách giáo

khoa tại Thổ Nhĩ Kỳ của Ali Yildirim (2006)



23



Nhân tố



Định nghĩa



Biến độc lập



Biến phụ thuộc



Biến quan sát

Trang bìa được trình bày

đẹp.

Hình thức

Hình thức của sách giáo

Cỡ chữ phù hợp.

và trình bày khoa theo cảm nhận của

Nội dung được trình bày

sách

giáo viên

dễ theo dõi.

Minh họa hấp dẫn.

Chủ đề được tổ chức

hợp lý.

Nội dung của sách giáo

Nội dung được thiết kế

Nội dung

khoa.

logic.

Cung cấp đầy đủ kiến

thức theo từng chủ đề.

Sử dụng thuật ngữ thích

hợp.

Mức độ ngơn ngữ là phù

Ngơn ngữ

Ngơn ngữ được trình bày

hợp với giáo viên và học

trình bày

trong sách giáo khoa.

sinh.

Các từ mới được định

nghĩa rõ ràng.

Cơng cụ giảng dạy được

tích hợp tốt.

Minh họa rất hữu ích

Tài liệu và

Phương tiện hỡ trợ dạy

trong việc tìm hiểu nội

học liệu đi

học như giáo cụ, bản đồ,

dung

kèm

tranh ảnh.

Câu hỏi nghiên cứu phù

hợp với trình độ của học

sinh.

Giáo viên cảm thấy hài

lòng khi sử dụng sách

Phản ứng của giáo viên

giáo khoa trong việc

đối với chất lượng sách

giảng dạy.

Sự hài lòng giáo khoa và đánh giá

Giáo viên cảm thấy cảm

mức độ thỏa mãn của

thấy hài lòng với nhà

giáo viên.

xuất bản và đội ngũ biên

tập.

Nghiên cứu “What do Teachers and Students Want from a Foreign



Language Textbook?”của Virginie Askildson tại Đại học bang Arizona năm

2008. Trong nghiên cứu này, tác giả đã xây dựng mơ hình đánh giá sự hài



24



lòng của 48 giáo viên đối với sách giáo khoa tiếng Pháp tại Hoa Kỳ với 3

nhân tố: Nội dung bài học (36 biến quan sát); Ngữ pháp( 24 biến quan sát);

Phương tiện và tài liệu giảng dạy( 21 biến quan sát), được trình bày như sau:

Nội dung bài học

H1



Ngữ pháp

Phương tiện và tài liệu giảng dạy



H2



Sự hài lòng

của giáo viên



H3



Hình 1.2. Mơ hình nghiên cứu sự hài lòng cuả giáo viên đối với sách giáo

khoa tiếng Pháp của Virginie Askildson tại Hoa Kỳ(2008)

Nghiên cứu “Fisnnish upper secondary school EFL teachers’

satisfaction with current textbooks”của tác giả Janne Hietala tại Phần Lan vào

tháng 8 năm 2015 với sự tham gia khảo sát của 131 giáo viên. Tác giả đã xây

dựng mơ hình đánh giá sự hài lòng của giáo viên đối với sách giáo khoa ngoại

ngữ như sau:



Hình 1.3. Mơ hình nghiên cứu sự hài lòng cuả giáo viên đối với sách giáo

khoa tiếng Anh tại Phần Lan của Janne Hietala (2015)



25



1.4.3. Các nghiên cứu của tác giả trong nước

Khi đề cập về tầm quan trọng của sách giáo khoa, nhiều nhà nghiên cứu

lí luận dạy học trong nước đã khẳng định tầm quan trọng của sách giáo khoa

trong việc dạy học của giáo viên và trong việc tự học và hoàn thành nhiệm vụ,

nội dung học tập của học sinh.

Thái Duy Tuyên khẳng định: “Sách giáo khoa là phương tiện quan trọng

nhất và giữ vị trí trung tâm trong hệ thống các phương tiện dạy học. Nó là

nguồn tri thức cơ bản của học sinh, gắn bó với các em suốt thời gian học.”.

Đồng thời, tác giả cũng lưu ý, cần kết hợp sách giáo khoa với các phương tiện

dạy học khác. Vũ Trọng Rỹ: “Sách giáo khoa có mối liên hệ chặt chẽ với

phương pháp dạy học. Sách giáo khoa thể hiện những định hướng về phương

pháp dạy học do chương trình quy định.”. Đinh Quang Báo chỉ ra rằng: “Sách

giáo khoa là nguồn tri thức quan trọng của học sinh, là phương tiện hỗ trợ đắc

lực cho thầy khi dạy học trên lớp”. Nguyễn Duân, Nguyễn Thị Hà cũng khẳng

định: “Sách giáo khoa có vai trò quan trọng cho cả giáo viên và học sinh, có

tính chất đa năng.”

Nghiên cứu “Teachers’ Evaluation of Primary English Textbooks for

Vietnamese Schools Developed under the National Foreign Language 2020

Project: A Preliminary Internal Survey”của Hoàng Văn Vân (tháng 8/2015).

Theo đó, tác giả đã nghiên cứu tại 92 trường tiểu học khắp cả nước. Mơ hình

nghiên cứu được tác giả đề xuất như sau:

Những vấn đề cơ bản



Nội dung kiến thức

phương

pháp

dạybày

Hình

thức và

trình



Sự hài lòng của

giáo viên



Học liệu đi kèm



Hình 1.4. Mơ hình nghiên cứu sự hài lòng của giáo viên đối với sách giáo

khoa tiếng Anh, Hoàng Văn Vân, 2015



26



Nhân tố



Định nghĩa



Biến quan sát



Biến độlập



- Cấu trúc

Những điều kiện

- Các chủ đề giảng dạy

cơ bản của sách

- Nội dung mang tính kế thừa giữa

như cấu trúc, khả

Những vấn đề

các lớp

năng tích hợp các

cơ bản

- Tích hợp các giá trị văn hóa cơ

mơn học, tính kế

bản của Việt Nam

thừa nội dung giữa

- Tích hợp kiến thức với các môn

các lớp.

học khác

- Ngôn ngữ

Nội dung

Nội dung của sách + Âm tiết

kiến thức

giáo khoa. Bao + Từ vựng

gồm Ngôn ngữ và + Ngữ pháp

Kỹ năng.

- Kỹ năng

+ Nghe, Nói, Đọc, Viết

Hình thức và

Hình thức của sách - Bố cục, màu sắc

trình bày

giáo khoa theo cảm - Kích thước hình ảnh, cỡ chữ

nhận của giáo viên. - Chất lượng in ấn



Học liệu đi

kèm



Biến phụ thuộc



Sự hài lòng



- Chất lượng CD và thiết bị nghe nhìn

Phương tiện hỡ trợ

- Các giáo cụ hỗ trợ giảng dạy như

dạy học như giáo cụ,

Flashcards, hình vẽ...

bản đồ, tranh ảnh.

Phản ứng của giáo

viên đối với chất

lượng sách giáo

khoa và đánh giá

mức độ thỏa mãn

của giáo viên.



- Giáo viên cảm thấy hài lòng khi

sử dụng sách giáo khoa trong việc

giảng dạy.

- Giáo viên cảm thấy cảm thấy hài

lòng với nhà xuất bản và đội ngũ

biên tập.



27



KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương này, tác giả đã hệ thống lại cơ sở lý thuyết và các mơ hình

nghiên cứu về sự hài lòng đối với sản phẩm sách giáo khoa. Tóm tắt các

nghiên cứu của các tác giả trong và ngồi nước về sản phẩm sách giáo khoa

có liên quan nhằm đóng góp hữu ích cho việc lựa chọn thang đo và phân tích

dữ liệu trong các chương sau.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b. Một số yếu tố tầm vĩ mô

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×