Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 2.7: Các cách người tiêu dùng sử dụng hay xử lý sản phẩm

Hình 2.7: Các cách người tiêu dùng sử dụng hay xử lý sản phẩm

Tải bản đầy đủ - 0trang

33



2.4. TỔNG QUAN VỀ THỰC PHẨM ĐÓNG HỘP VÀ PHẠM VI

NGHIÊN CỨU

2.4.1 Thực phẩm đóng hộp

Thực phẩm đóng hộp là các loại thực phẩm đóng trong hộp thiếc, hộp

nhơm; tuy nhiên nhiều loại được đóng gói trong lọ thuỷ tinh, hộp nhựa, túi

giấy tráng ny-lon và các san phẩm được xử lý bằng nhiệt độ cao (UHT-ultra

heat treated) cũng được coi là thực phẩm đóng hộp. Hầu hết thực phẩm đóng

hộp là thực phẩm đã được tiệt trùng trong quá trình chế biến, có nghĩa là các

loại vi khuẩn gây bệnh có thể hiện diện trong thức ăn đều đã được tiêu diệt.

Các nguyên liệu để đóng lọ cũng từ đó phong phú hơn như rau củ qua,

trái cây, cá/hai san, thịt … Nguyên tắc của việc đóng hộp nói chung gồm quá

trình loại bỏ oxy, vơ hoạt enzym gây phân hủy thực phẩm, ngăn chặn sự phát

triển của vi sinh vật bằng cách tạo ra mơi trường yếm khí và chân khơng.

Về ngun tắc thực phẩm đóng hộp chưa mở thì bao quan được khá lâu,

3 đến 4 năm tuỳ loại. Tuy nhiên đa số lưu giữ trong điều kiện nhiệt độ phòng

21-24oC trong vòng 12 tháng.Có nhiều loại có thể có tuổi thọ dài hơn nhưng

thường thì khơng chắc chắn nên 12 tháng là mốc nên áp dụng. Về nguyên tắc

chung nhiệt độ bao quan càng thấp càng tốt.

2.4.2 Tổng quan ngành cơng nghiệp thực phẩm đóng hộp tại Việt

Nam

Từ năm 2004 – 2014, theo BMI dự báo ngành cơng nghiệp thực phẩm

đóng hộp của Việt Nam sẽ tăng 24,2% về lượng và 48,7% về giá trị doanh số

bán hàng.Theo VnEconomy, Tỷ lệ tăng trưởng chi tiêu của người tiêu dùng

(CAGR) của Việt Nam trong giai đoạn 2011-2020 được dự báo sẽ thuộc loại

cao nhất trong khu vực ASEAN, đạt 8%, cao hơn ca Indonesia và Malaysia

5%, và Philippines, Thái Lan và Singapore cùng là 4% (nguồn: Global

Insights, Bain Analysis).



34



Theo ước tính của BMI trong báo cáo ngành thực phẩm và đồ uống của

Việt Nam, quý 1/2013 thì tốc độ tăng trưởng kép của tiêu thụ thực phẩm (food

consumption) Việt Nam giai đoạn 2012-2017 là 9,43%. Trong đó, tốc độ tăng

trưởng kép doanh thu thực phẩm đóng hộp là 5,17%, bánh kẹo là 4,65%.

Theo báo cáo của Datamoniter, thị trường thực phẩm đóng hộp, đóng gói

ở VN ln tăng trưởng ở mức hai con số, bình quân khoang 12,9%/năm, trong

đó thịt đóng hộp các loại dẫn đầu, chiếm 50,5% thị phần. Kế đó là cá hộp

chiếm 28%, còn lại là các dòng san phẩm rau, củ, qua đóng hộp. Năm 2014

doanh số thị trường này đạt hơn 1.300 tỉ đồng và dự kiến sẽ tăng lên 1.500 tỉ

đồng vào năm 2016.Nhờ cơ cấu dân số nằm trong nhóm trẻ nhất thế giới, với

56% dân số dưới 30 tuổi (theo Nielsen), tổng mức chi tiêu của người tiêu

dùng tại Việt Nam dự kiến sẽ tăng gấp đôi và đạt xấp xỉ 173 tỷ USD vào năm

2020 (nguồn: Euromonitor, Global Insight, Bain Analysis).

Bên cạnh đó, theo các nhà bán lẻ trong ngành hàng thực phẩm đóng hộp,

số lượng tiêu thụ mạnh lại chủ yếu là hàng ngoại, đặc biệt là đồ hộp Thái Lan.

Hàng Thái mạnh về nhóm hàng cá, cạnh tranh rất khốc liệt với hàng Việt, có

mức giá trung bình cao hơn hàng trong nước khoang 15%.Còn đối với các

nhãn hàng ngoại nhập khác, ở phân khúc cao cấp thì khơng có gì đặc biệt

trong khi phân khúc bình dân, giá thấp lại đang xay ra cuộc chạy đua khá dữ

dội với hàng trong nước. Các san phẩm cá hộp tương đương về chủng loại,

trọng lượng hàng nhập thường có giá từ 13.000-30.000 đồng/hộp, trong khi

hàng san xuất trong nước ở mức dưới 25.000 đồng/hộp.Tương tự, các dòng

thịt hộp loại lớn ngoại nhập có giá từ 40.000 - 85.000 đồng/hộp, trong khi thịt

hộp Vissan giá cao nhất trên quầy kệ siêu thị hiện ở mức 58.000 đồng/hộp.

Theo ông Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch HĐQT, hệ thống Saigon Co.op

cho biết, hiện có hơn 60 nhà cung cấp các mặt hàng thực phẩm đóng hộp,

đóng gói. So với cùng kỳ năm ngoái, số lượng nhà cung cấp tăng lên thêm



35



15%. Theo đánh giá của ơng Hòa, nhóm hàng này đang thực sự có sức hút với

nhiều doanh nghiệp.Số lượng và chủng loại san phẩm cũng tăng khoang 20%

so với cùng kỳ, góp phần làm phong phú thêm cho thị trường này. Ơng Hòa

cho biết thêm, hiện các quầy hàng này trong chuỗi siêu thị của Co.opmart có

đến 100 nhãn hàng với doanh số tăng đều mỗi năm từ 20% trở lên và ln

đứng top các ngành hàng có tỷ lệ tăng trưởng cao.Bên cạnh đó, thị trường còn

được “hâm nóng” bởi sự góp mặt ngày càng nhiều các san phẩm nhập khẩu từ

các nước như Thái Lan, Indonesia, Mỹ... trên quầy kệ siêu thị cũng như cửa

hàng, điểm bán lẻ cho thấy, hơn 70% đồ hộp bán tại đây là hàng san xuất

trong nước. Tại Việt Nam, những tên tuổi khá quen thuộc trong ngành hàng

này phai kể tới, như Vissan, Hạ Long, Việt Đức, Cầu Tre, Saigon Food…

2.4.3. Phân tích xu hướng tiêu dùng mặt hàng thực phẩm đóng hộp

tại Việt Nam

Do cuộc sống bận rộn cùng với lối sống hiện đại ở các thành phố lớn dẫn

đến nhu cầu về các loại thực phẩm chế biến sẵn ngày càng gia tăng .Nhịp

sống tất bật khiến người tiêu dùng ít có thời gian vào bếp, vì vậy việc tạo ra

những thực phẩm được chế biến sơ bộ với lượng gia vị ít là cần thiết và đáp

ứng được nhu cầu khách hàng. Những san phẩm này sẽ rút ngắn thời gian chế

biến thực phẩm, cho phép người sử dụng có thể thay đổi lượng gia vị phù hợp

với khẩu vị, đồng thời giúp họ có nhiều lựa chọn hơn, tạo sự thuận tiện trong

cách chế biến thực phẩm.

Người tiêu dùng ngày nay đang có xu hướng quan tâm và nhận thức tốt

hơn về nguồn gốc và vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm nâng cao chất lượng

cuộc sống. Người tiêu dùng thực phẩm đều hướng đến việc sử dụng các san

phẩm xanh, sạch, khơng chứa phụ gia. Vì vậy vấn đề tất yếu để thuyết phục

khách hàng chính là tạo niềm tin san phẩm đã được hạn chế thấp nhất phụ gia



36



sử dụng, đồng thời sử dụng nguồn nguyên liệu địa phương tạo tính đặc trưng

cho san phẩm, đam bao quy trình vệ sinh an tồn thực phẩm.

Người lao động ở các thành phố đang có xu hướng ít đi ăn nhà hàng hơn

mà thay vào đó họ lựa chọn những loại thực phẩm đóng hộp và chế biến sẵn

để tiết kiệm chi phí sinh hoạt vì thực phẩm đóng hộp, chế biến thường rẻ hơn

20-30% so với các loại thực phẩm tươi sống.

Những người có mong muốn chế biến đồ hộp tại nhà sẽ được thuyết

phục sử dụng san phẩm của những nhà san xuất thực phẩm có uy tín nhằm

giúp tiết kiệm thời gian và cơng sức trong việc chế biến cũng như an toàn khi

sử dụng.Hiện nay, trên thị trường thực phẩm đóng hộp các thương hiệu uy tín

trên khắp thế giới đang dần chiếm ưu thế thị trường này.

Bên cạnh đó, các nhà san xuất san phẩm đồ hộp hướng đến việc bao vệ

mội trường cũng như an toàn sức khỏe của người tiêu dùng, do đó những hũ,

lọ bằng nhựa hoặc chất dẻo sẽ được thay thế bằng bao bì thủy tinh hay các

loại bao bì thơng minh (bao bì thơng tin, bao bì hấp thụ oxy, bao bì sinh

học…) Những bao bì này sẽ cai thiện cam quan san phẩm, rút ngắn khoang

cách từ nhà san xuất đến người tiêu dùng và góp phần giam thiểu ơ nhiễm mơi

trường, tạo hình anh đẹp đến với người tiêu dùng.

2.4.4. Tổng quan về thành phố Tam Kỳ - Tỉnh Quảng Nam

Thành phố Tam Kỳ là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kỹ

thuật của tỉnh Quang Nam, với diện tích tự nhiên 92 km2, dân số 130.000

người bao gồm 13 đơn vị xã, phường (09 phường và 04 xã).

Thành phố Tam Kỳ nằm trong chuỗi đô thị ven biển miền Trung Việt

Nam, có quốc lộ 1A và đường sắt Bắc – Nam chạy qua; phía tây có đường

cao tốc Đà Nẵng – Quang Ngãi, phía đơng có đường ven biển Việt Nam;

đường Nam Quang Nam đi cửa khẩu Bờ Y (các tỉnh Tây Nguyên). Tam Kỳ

hội đủ nét văn hóa độc đáo của văn hóa xứ Quang, và là một thành phố còn



37



rất trẻ trên con đường xây dựng và hình thành một đơ thị sinh thái xanh,

sạch, đẹp. Trong lòng thành phố Tam Kỳ có nhiều dòng sơng uốn lượn, và

nhiều di tích văn hóa lịch sử như Địa đạo Kỳ Anh, Văn thánh Khổng Miếu,

đặc biệt là Khu tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng; phía đơng thành phố có bãi

biển trai dài, hoang sơ, thơ mộng; phía tây thành phố có hồ Phú Ninh nổi

tiếng với canh quan đẹp.





Về dân số, theo niên giám thống kê của thành phố Tam Kỳ năm 2011, dân số

của thành phố là 109.322 người, bố trí tại 9 phường và 4 xã.

- Dân số thành thị là 82.587 người chiếm 75,5% tổng dân số thành phố.

- Dân số nông thôn là 26.735 người chiếm 24,5% tổng dân số thành phố.

- Phân bố dân cư theo đơn vị hành chính khơng đều. Dân cư chủ yếu tập

trung hai bên đường phố chính, đặc biệt là đường Phan Châu Trinh, Phan Bội

Châu và một số khu dân cư được xây dựng từ khi tái lập Tỉnh ( từ năm 1997)

đến nay còn các khu vực khác dân cư rất thưa thớt.







Về kinh tế - xã hội: Định hướng phát triển chính của thành phố Tam Kỳ là xây

dựng thành phố Tam Kỳ theo hướng Thương mại, dịch vụ- công nghiệp, tiểu

thủ công nghiệp. Giá trị san xuất ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

chiếm tỉ trọng 38,15% và thương mại - dịch vụ là 58,6%, tạo công ăn việc làm

cho hơn 4.560 lao động. Các ngành kinh tế ở Tam Kỳ hiện nay đang phát triển

theo hướng tăng nhanh tỷ trọng thương mại, dịch vụ và công nghiệp giam

dần, tỷ lệ nông nghiệp giam. Những năm qua, cơ cấu kinh tế TP.Tam Kỳ

chuyển dịch khá nhanh và tăng mạnh theo hướng thương mại - dịch vụ và

công nghiệp . Tốc độ tăng trưởng hàng năm của hai ngành này luôn đạt từ 25

- 28%. Tăng trưởng giá trị công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp năm 2012 đạt



38



69,3 triệu USD, tăng 25,5% so với cùng kỳ năm 2011; giá trị thương mại dịch

vụ năm 2012 đạt 154,4 triệu USD, tăng 24,8% so với cùng kỳ năm 2011 và

giá trị xuất khẩu trên địa bàn đạt khoang 60 triệu USD.

2.5. TỔNG QUAN CÁC MƠ HÌNH NGHIÊN CỨU GẦN ĐÂY VỀ CÁC

NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH MUA CỦA NGƯỜI

TIÊU DÙNG

Theo nghiên cứu, tìm hiểu của tác gia, hiện nay có khá nhiều các cơng

trình khoa học, luận văn thạc sĩ nghiên cứu về hành vi hay xu hướng lựa chọn

san phẩm của người tiêu dùng trong các lĩnh vực như: bao hiểm, hàng điện tử

- điện lạnh, may mặc, dược phẩm,... Tuy nhiên, các nghiên cứu về quyết định

mua trong lĩnh vực thực phẩm, đồ uống chưa thật sự rộng rãi, do đó tác gia

chỉ tiếp cận được một số cơng trình khoa học, luận án tiến sĩ sau:

2.5.1. Nghiên cứu của Jay Dickieson và Victoria Arkus ( 2009 ) :

“Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi mua thực phẩm hữu cơ của người

tiêu dùng : Trường hợp nghiên cứu tại Anh ”

Nghiên cứu này đã tiến hành phân tích định lượng các yếu tố anh hưởng

đến hành vi người tiêu dùng trong việc mua thực phẩm hữu cơ tại thị trường

nước Anh. Một cuộc khao sát được tiến hành vào tháng bay năm 2009 cho

thấy hành vi của người tiêu dùng bị anh hưởng của các yếu tố sau đây : Ý

thức sức khoẻ, nhận thức chất lượng, mối quan tâm về an toàn thực phẩm,

niềm tin vào nhãn hiệu của thực phẩm hữu cơ và giá. Ảnh hưởng của nhân tố

suy thoái kinh tế khơng có ý nghĩa đáng kể về mặt thống kê. Thực phẩm hữu

cơ được xem như thay thế cho thực phẩm thông thường cho những người tiêu

dùng lo ngại về an toàn và chất lượng thực phẩm. Mặc dù vậy, nhận thức của

nhiều người tiêu dùng về an toàn và chất lượng thực phẩm thì khơng dựa trên

cơ sở khoa học.



39



2.5.2 Nghiên cứu của Lotfi và Kouchak Amoli ( 2015) : “Phân tích

các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua : Nghiên cứu khách hàng sử

dụng thức ăn nhanh tại Amol County, Iran”

Nghiên cứu này được tiến hành khao sát tại các cửa hàng thức ăn nhanh

như Poa, Boof, Entekhab-eMa, KMC, Pierra và Black cherry tại Amoli

County trong tháng sáu và bay năm 2014. Với 330 phiếu khao sát gồm 35 câu

hỏi mở sử dụng thang đo 5 Likert, dựa trên nghiên cứu về các phong cách ra

quyết định của Sproles và Kendall ( 1986) cũng như Alfredo ( 2002). Nghiên

cứu này cho thấy sự tương quan giữa biến độc lập “ Purchasing decision ” và

các biến phụ thuộc : “ ”Idealism”, “Feeling to purchase ”, “Publicity”, “Price

awareness”. Nhân tố “Price awareness”, “Feeling to purchase ” có anh hưởng

lớn đến quyết định mua, trong khi hai nhân tố còn lại thì khơng có mối tương

quan lớn với quyết định mua.

2.5.3. Nghiên cứu của Musfirah Mohamad ( 2015) : “ Nghiên cứu về

quyết định mua mặt hàng thực phẩm đóng hộp tại Seri Iskandar : Ảnh

hưởng của Bao Bì”

Nghiên cứu được thực hiện vào năm 2015 trong lĩnh vực Marketing.

Trong nghiên cứu này, tác gia điều tra về các vấn đề lien quan đến việc đóng

gói các loại thực phẩm đóng hộp có thể anh hưởng đến người tiêu dùng để

mua hàng. Đó là sự nghi ngờ về thơng tin san phẩm, hình anh và kích thước

và hình dạng của hộp mua. Vì vậy, bao bì đóng vai trò quan trọng anh hưởng

đến người tiêu dùng khi mua các san phẩm. Nghiên cứu trước đó, một nhà

nghiên cứu mơ ta rằng thậm chí đóng gói đã trở thành một công cụ tiếp thị

quan trọng đối với nhiều người tiêu dùng san phẩm trong một môi trường

kinh doanh cạnh tranh ( Bo Rundh, 2009). Bao bì bên ngồi san phẩm là một

yếu tố rất quan trọng trong tiến trình ra quyết định mua, vì nó là sự giao tiếp

trực tiếp với người tiêu dùng. Bài nghiên cứu cho thấy các vấn đề liên quan



40



đến Bao bì san phẩm như : 1)những yếu tố nào có thể anh hưởng đến quyết

định mua hàng thực phẩm đóng hộp của người tiêu dùng dựa trên bao bì?. 2)

những thơng tin về san phẩm, đồ họa và kích thước và hình dạng của hộp –

yếu tố nào là quan trọng?. 3)làm thế nào các yếu tố của bao bì thực phẩm

đóng hộp giúp người tiêu dùng khi quyết đinh mua hàng?. 4)làm thế nào để

phân tích các nhận thức của người tiêu dùng đối với việc sử dụng bao bì đóng

hộp thực phẩm?

2.5.4 Luận án Tiến Sĩ của Nguyễn Thị Thanh Huyền ( 2013) : ““Ảnh

hưởng của các nhân tố cá nhân, tâm lý và marketing mix đến hành vi

mua các sản phẩm fast-food thương hiệu nước ngoài của người tiêu dùng

Hà Nội, Việt Nam”

Nghiên cứu đưa ra những gợi ý về hoạt động Marketing nhằm giúp

doanh nghiệp kích cầu tiêu dùng nhiều hơn trong tương lai. Bao gồm (i) Cai

thiện chất lượng san phẩm: xây dựng vùng nguyên liệu đầu vào sạch tại Việt

Nam, nghiên cứu một số hương vị, mùi vị và thành phần của san phẩm cho

phù hợp với khẩu vị truyền thống của người dân Việt Nam; (ii) Cai thiện chất

lượng dịch vụ: cần tăng cường nhân viên phục vụ vào các giờ cao điểm, thuê

thêm đầu bếp đã được đào tạo theo nhượng quyền thương hiệu để khách hàng

không phai chờ đợi lâu sau khi đã đặt món; (iii) Mặc dù đối tượng khao sát

nghiên cứu là các bà nội trợ Việt nam (người mà có kha năng chi tra kinh phí),

nhưng đối tượng tiêu dùng ưa thích nhất đồ ăn nhanh lại là thanh thiếu niên.

Do đó, để định hướng tiêu dùng trong tương lai các doanh nghiệp cần có

những quang cáo, tổ chức sự kiện, tài trợ nhắm đến đối tượng này; (iv) Về địa

điểm phân phối: duy trì những địa điểm có lợi thế thương mại uy tín và đơng

khách, còn lại có thể khai thác các cửa hàng tầng một tại các tòa nhà chung cư

cao cấp, nơi có quần thể tổng hợp về trường học, chợ, văn phòng, cơ quan,...

để giam bớt chi phí thuê mặt bằng cao ở các địa điểm tại các ngã tư, trục phố



41



chính. Nghiên cứu đã mơ ta những đặc tính cơ ban về nhân khẩu học cùng với

các yếu tố tâm lý, marketing- mix để giúp các doanh nghiệp kinh doanh fast

food nói riêng và các ngành thực phẩm nói chung có những chiến lược cạnh

tranh lâu dài.

2.5.5. Luận án Tiến sĩ của Lê Thuỳ Hương (2014): “ Nghiên cứu các

nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua thực phẩm an tồn của cư dân đơ thị

- Lấy ví dụ tại thành phố Hà Nội”

Trong nghiên cứu này, tác gia đã tổng hợp nên một mơ hình nghiên cứu

bằng cách đưa vào những nhân tố tác động tới ý định mua thực phẩm an toàn

quan trọng và phù hợp với điều kiện nghiên cứu tại Việt Nam. Có 10 nhân tố

được xây dựng trong mơ hình đó là: sự quan tâm đến sức khỏe, nhận thức về

chất lượng, sự quan tâm đến môi trường, chuẩn mực chủ quan, nhận thức về

sự sẵn có của san phẩm, nhận thức về giá bán san phẩm, tham khao- giá trị

ban thân, tham khao-tn thủ, tham khao-thơng tin, truyền thơng đại chúng.



Hình 2.8 : Mơ hình nghiên cứu đề xuất các nhân tố ảnh hưởng đến ý định

mua thực phẩm an toàn của cư dân đô thị

Sau khi sử dụng phương pháp định lượng được thực hiện thông qua

phương pháp điều tra khao sát trực tiếp 762 người tiêu dùng của các quận nội



42



thành Hà Nội tại các siêu thị, chợ và khu dân cư. Kết qua nghiên cứu xác định

được 6 nhân tố anh hưởng đến ý định mua thực phẩm an tồn. Đó là: sự quan

tâm đến sức khỏe, nhận thức về chất lượng, chuẩn mực chủ quan, nhận thức

về giá bán san phẩm, tham khao-thông tin, truyền thông đại chúng.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tìm ra rằng khi người tiêu dùng nhận thức về

chất lượng thực phẩm an toàn là tốt họ sẽ có ý định mua. Nguyên lý

marketing luôn chỉ ra rằng san phẩm là cốt lõi của chiến lược marketing hỗn

hợp, san phẩm có chất lượng phù hợp với mong muốn của khách hàng sẽ tự

được tiêu thụ. Ngồi ra, nghiên cứu khẳng định truyền thơng đại chúng sẽ tác

động tích cực tới ý định mua thực phẩm an tồn. Truyền thơng đại chúng

thường được sử dụng như một công cụ để truyền đi những thông tin về san

phẩm và doanh nghiệp tới khách hàng nhằm xây dựng nhận thức tích cực

trong khách hàng về san phẩm và doanh nghiệp, từ đó sẽ hình thành nên thái

độ tích cực và dẫn đến hành vi mua.

2.5.6. Tổng quan các sách tham khảo

-



Giáo trình Marketing Căn ban - NXB Lao Động của Philip Kotler. Giáo trình

Marketing Căn ban giúp tác gia có được những kiến thức căn ban về

marketing, hành vi tiêu dùng, các yếu tố anh hưởng và tiến trình ra quyết định

mua hàng của khách hàng cá nhân, từ đó hệ thống kiến thức và xây dựng lý

thuyết cho đề tài nghiên cứu của mình.



-



Giáo trình Quan trị Marketing – Nhà xuất ban Tài chính của nhóm biên soạn

PGS.TS Lê Thế Giới, TS Nguyễn Xuân Lãn, ThS Võ Quang Trí, ThS Đinh

Thị Lệ Trâm, ThS Phạm Ngọc Ái giúp tác gia bổ sung những kiến thức căn

ban về marketing, hành vi tiêu dùng và các yếu tố anh hưởng dưới góc độ của

người làm marketing,tiến trình ra quyết định năm bước, góp phần hệ thống và

xây dựng cơ sở lý thuyết cho đề tài nghiên cứu.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 2.7: Các cách người tiêu dùng sử dụng hay xử lý sản phẩm

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×