Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
f. Chính sách kế toán đối với giao dịch bằng ngoại tệ

f. Chính sách kế toán đối với giao dịch bằng ngoại tệ

Tải bản đầy đủ - 0trang

19

thống ngân hàng thương mại Nhà nước) góp phần điều hoà cung cầu ngoại tệ

trên thị trường, ổn định tỷ giá, thực hiện chính sách quản lý ngoại hối của Nhà

nước, từ đó có tác động tích cực đến hoạt động xuất, nhập cũng như các hoạt

động khác trong nền kinh tế.

Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ liên quan đến nhiều loại tiền của các quốc

gia. Việc sử dụng loại tiền nào chủ yếu phụ thuộc vào nhu cầu mua, bán,

chuyển đổi ngoại tệ và thanh toán quốc tế của khách hàng. Yêu cầu đối với kế

toán kinh doanh ngoại tệ là phải phản ánh chính xác từng loại tiền trên chứng

từ kế toán cũng như sổ kế toán phân tích và tổng hợp. Hạch tốn phân tích và

hạch tốn tổng hợp trong kế toán kinh doanh ngoại tệ phụ thuộc vào phương

pháp hạch toán của loại nghiệp vụ này. Có hai phương pháp hạch tốn kinh

doanh ngoại tệ, theo đó có hai cách tổ chức hạch tốn phân tích và hạch toán

tổng hợp.

Phương pháp hạch toán quy đổi ngoại tệ ra Việt Nam đồng là phương

pháp khi mua, bán ngoại tệ được quy đổi ngay ra Việt Nam đồng theo tỷ giá

mua, bán thực tế tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ. Trên chứng từ kế toán vừa

phản ánh ngoại tệ (nguyên tệ) mua vào hoặc bán ra, vừa phản ánh tiền Việt

Nam đã quy đổi. Từ phương pháp hạch toán quy đổi ra Việt Nam đồng, hạch

toán phân tích và hạch tốn tổng hợp được tổ chức như sau:





Hạch tốn phân tích: Vừa ghi sổ bằng ngun tệ, vừa ghi sổ bằng Việt



Nam đồng theo từng nghiệp vụ mua, bán ngoại tệ (mỗi nghiệp vụ ghi một dòng

sổ hạch tốn phân tích). Sổ hạch tốn phân tích ngồi các cột chung, cột doanh

số phát sinh và số dư chia thành hai cột nhỏ là nguyên tệ và đồng Việt Nam.



20





Hạch tốn tổng hợp: Ghi bằng đồng Việt Nam. Phương pháp hạch



toán vừa bằng nguyên tệ vừa bằng VND rất phức tạp dễ gây ra sai sót vì cùng

một lúc vừa phản ánh bằng nguyên tệ, vừa phản ánh bằng VND, Chứng từ và

hạch tốn phân tích phản ánh theo ngun tệ và VND nhưng hạch tốn tổng

hợp thì chỉ phản ánh theo VND. Mặt khác dễ gây ra chênh lệch khi tỷ giá biến

động.

Phương pháp hạch toán theo nguyên tệ là phương pháp mà quá trình mua,

bán được hạch tốn theo ngun tệ, khơng quy đổi về VND. Trên chứng từ kế

toán, chỉ phản ánh loại nguyên tệ mua vào, bán ra. Phương pháp hạch toán theo

nguyên tệ đã khắc phục được những nhược điểm của phương pháp hạch tốn

quy đổi ra VND nên hiện nay nó là phương pháp được áp dụng phổ biến trong

kế toán kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại. Khi áp dụng

phương pháp hạch toán theo nguyên tệ phải lưu ý một số nội dung sau:





Hạch tốn ngun tệ phải bảo đảm cân đối từng loại ngoại tệ trên



chứng từ kế toán và từng bút toán phát sinh, trên cơ sở đó đảm bảo cân đối

từng loại ngoại tệ trong từng bút tốn và cân đối ngoại tệ trong tồn bảng.

• Hàng ngày hạch tốn chi tiết và hạch tốn tổng hợp bằng nguyên tệ

đến cuối tháng quy đổi số dư, doanh số thành VND theo tỷ giá mua, bán thực tế

liên ngân hàng của ngày cuối tháng để tổng hợp và phản ánh đầy đủ hoạt động

trên bảng cân đối tài khoản hàng tháng bằng VND.

• Xuất phát từ đặc điểm của kế toán kinh doanh ngoại tệ là vừa hạch

toán ngoại tệ vừa hạch toán theo đồng Việt Nam nên khi lập cân đối tài khoản

phải chia thành hai phần là cân đối ngoại tệ và cân đối Việt Nam đồng (các loại



21

ngoại tệ quy ra USD, từ USD quy ra VND theo tỷ giá mua ngày cuối tháng –

ngày lập bảng cân đối).

1.1.2. Vai trò của chính sách kế toán đối với việc điều chỉnh lợi nhuận

Điều chỉnh lợi nhuận theo ý muốn chủ quan của các nhà quản trị là một

trong số các vấn đề được nhiều đối tượng quan tâm. Tùy theo từng thời điểm

mà doanh nghiệp có thể làm “đẹp” hơn thơng tin trên báo cáo tài chính hoặc

“lau chùi” các nội dung cần thiết để đạt được mục tiêu mang tính chủ quan của

họ. Bài báo này sẽ trình bày một “rổ” phương cách vận dụng các “khoảng

không tự do” mà chuẩn mực kế tốn để lại cho các doanh nghiệp có thể lựa

chọn để điều chỉnh lợi nhuận. Cần lưu ý rằng hành vi điều chỉnh lợi nhuận này

là hợp pháp vì kỹ thuật điều chỉnh nằm trong chuẩn mực kế toán qui định.

Ở nước ta đang tồn tại rất nhiều các loại hình doanh nghiệp, với mỗi loại

hình doanh nghiệp sẽ có nhiều chiến lược kinh doanh và các nguồn thơng tin

tài chính khác nhau nhằm thu hút vốn đầu tư từ bên ngồi, mà các thơng tin tài

chính này do kế tốn cung cấp. Chính vì vậy, thơng tin kế tốn cung cấp ngày

càng phát huy tính hữu hiệu trong việc ra quyết định của các đối tượng có liên

quan và báo cáo tài chính là cơng cụ thể hiện thơng tin này. Báo cáo tài chính

khơng những là nguồn cung cấp thông tin cho các đối tượng bên trong mà còn

cung cấp thơng tin cho các đối tượng khác bên ngoài như cơ quan thuế, các nhà

đầu tư, các chủ nợ, các tổ chức tín dụng,... Báo cáo tài chính được lập dựa trên

cơ sở của chuẩn mực kế tốn, các thơng tư hướng dẫn mà các chuẩn mực kế

tốn ln tạo “khoảng khơng tự do” cho các doanh nghiệp lựa chọn. Vì thế, có

nhiều động cơ thơi thúc các nhà quản trị điều chỉnh lợi nhuận mà các đối tượng



22

sử dụng thông tin không thể nhận ra, một trong những động cơ đó là khi thuế

thu nhập doanh nghiệp (TNDN) thay đổi thuế suất giảm từ 28% năm 2008

xuống còn 25% năm 2009. Điều này càng có cơ hội thúc đẩy các nhà quản trị

thực hiện quản trị lợi nhuận để tiết kiệm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp.

Thật vậy, giả sử lợi nhuận chịu thuế của năm 2008 chưa điều chỉnh là

1.000.000 thì thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp là 28% x 1.000.000 =

280.000. Khi doanh nghiệp điều chỉnh lợi nhuận chịu thuế của năm 2008 giảm

xuống còn 800.000 thì thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp là 28% x

800.000 = 224.000. Như vậy thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp giảm

56.000 (tức là giảm 28% x 200.000) và số lợi nhuận được điều chỉnh

giảm trong năm 2008 (là 200.000) sẽ được dịch chuyển sang năm 2009,

tại năm 2009 phần lợi nhuận được điều chỉnh này chỉ chịu thuế suất

thuế thu nhập doanh nghiệp 25%. Do đó, thuế thu nhập doanh nghiệp

phải nộp trên phần lợi nhuận được điều chỉnh của năm 2008 chuyển qua

là 25% x 200.000 = 50.000. Như vậy doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được

6.000 chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp ((28% - 25%) x

200.000 = 3% x 200.000). Hay nói cách khác, doanh nghiệp kiếm được

3% trên số lợi nhuận được điều chỉnh.

Rõ ràng giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ khích lệ

mạnh mẽ hành động quản trị lợi nhuận chịu thuế theo hướng điều chỉnh

lợi nhuận giảm trong năm 2008. Ngoài ra, để thu hút vốn đầu tư từ bên

ngoài, bán cổ phiếu ra thị trường,... các nhà quản trị doanh nghiệp có

thể làm “đẹp” hơn thơng tin trên báo cáo tài chính bằng cách điều chỉnh

tăng lợi nhuận. Để điều chỉnh lợi nhuận theo ý muốn chủ quan, các nhà



23

quản trị có thể vận dụng một “rổ” các phương cách khác nhau hoặc vận

dụng từng phương cách riêng biệt là tùy thuộc vào năng lực cũng như

điều kiện tại mỗi đơn vị. Chính vì vậy, việc nghiên cứu kỹ thuật vận

dụng chính sách kế toán sẽ phần nào làm rõ hơn “chất lượng” hoạt động

kinh doanh của doanh nghiệp (thông qua chỉ tiêu lợi nhuận), qua đó

giúp cho các đối tượng sử dụng thơng tin có liên quan đánh giá khách

quan hơn kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và từ đó đưa

ra quyết định đúng đắn.

1.2. CÁC MỤC TIÊU CỦA DOANH NGHIỆP ẢNH HƯỞNG ĐẾN

VIỆC LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TẠI DOANH

NGHIỆP

1.2.1. Mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp

Nói đến sản xuất kinh doanh dưới bất kỳ hình thái kinh tế xã hội

nào khơng ai có thể qn vấn đề hiệu quả. Năng suất - chất lượng- hiệu

quả là mục tiêu phấn đấu của mọi nền sản xuất, là thước đo trình độ

phát triển về mọi mặt của toàn bộ nền kinh tế quốc dân cũng như từng

đơn vị cơ sở. Doanh nghiệp là tế bào của nền kinh tế quốc dân, là nơi

trực tiếp tạo ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội,

tạo tiền đề phấn đấu đạt mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp cũng như

tích luỹ cho xã hội. Trước đây, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, các

doanh nghiệp không chủ động khai thác hết khả năng sẵn có của mình

để đẩy mạnh sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao mà có thái độ ỷ lại

trơng chờ vào nhà nước. Từ khi bước sang cơ chế thị trường với sự



24

quản lý vĩ mô của nhà nước đã có khơng ít các doanh nghiệp do khơng

thích nghi được với cơ chế mới nên đã bị đào thải (giải thể hoặc phá

sản). Nền kinh tế thị trường đã mở ra một cơ hội lớn cho các doanh

nghiệp hội nhập và phát triển nhưng để thực hiện được điều đó thì mỗi

doanh nghiệp phải quan tâm đến chất lượng sản phẩm sản xuất ra, phải

hoạt động kinh doanh có hiệu quả mà biểu hiện cụ thể là phải tạo ra lợi

nhuận và lợi nhuận ngày càng tăng. Lợi nhuận là đòn bẩy kinh tế có

hiệu quả nhất, là chỉ tiêu phản ánh trình độ quản lý sử dụng vật tư, lao

động, tiền vốn, trình độ tổ chức sản xuất sản phẩm. Lợi nhuận tác động

đến tất cả các mặt hoạt động của doanh nghiệp, quyết định sự tồn tại

hay phá sản của doanh nghiệp. Việc thực hiện được chỉ tiêu lợi nhuận là

điều kiện quan trọng đảm bảo cho tình hình tài chính của doanh nghiệp

được vững chắc.

1.2.2. Mục tiêu về thuế thu nhập doanh nghiệp

Thuế thu nhập doanh nghiệp có lịch sử hình thành từ rất sớm được

thể hiện thơng qua nhiều hình thức khác nhau. Ở Việt Nam, tiền thân

của thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế lợi tức được áp dụng vào trước

những năm 90 của thế kỷ XX và áp dụng cho các cơ sở kinh tế ngoài

quốc doanh (các cơ sở kinh tế quốc doanh áp dụng chế độ trích nộp lợi

nhuận). Từ năm 1990, Quốc hội ban hành luật thuế Lợi tức áp dụng

thống nhất chung đối với tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản

xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế. Thuế lợi tức được thu

dựa trên cơ sở lợi nhuận thu được trong quá trình sản xuất kinh doanh

của đối tượng nộp thuế.



25

Ở Việt Nam trong những năm gần đây, cùng với sự gia tăng số

lượng các doanh nghiệp ở các khu vực và công tác cải cách hệ thống

chính sách thuế nói chung, cải tiến cơng tác quản lý thuế nói riêng đã

góp phần quan trọng nâng cao tỷ trọng thuế TNDN trong tổng số thu

của NSNN. Năm 2006, số thu thuế TNDN chiếm 9,48% trong tổng thu

NSNN, năm 2007 là 12,48%, 2008 là 11,05% Nguồn thu từ thuế TNDN

chiếm tỷ trọng lớn trong NSNN không chỉ phản ánh sự gia tăng các

doanh nghiệp mà còn phản ánh về chất nguồn thu của NSNN do kết quả

lao động thặng dư mà có, đồng thời tạo cho NSNN có tính ổn định nhất

định.

Một trong những mục tiêu của thuế TNDN là điều tiết thu nhập,

đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập xã hội. Thuế TNDN

được áp dụng cho mọi loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần

kinh tế, khơng những đảm bảo bình đẳng cơng bằng về chiều ngang mà

còn cả cơng bằng về chiều dọc. Tóm lại, thuế TNDN trong thực thi có

vai trò quan trọng khơng chỉ đối với nguồn thu NSNN mà còn là cơng

cụ trợ giúp Nhà nước trong việc điều chỉnh các mục tiêu của kinh tế vĩ

mô, bảo đảm yêu cầu công bằng trong phân phối thu nhập giữa các

doanh nghiệp.

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN

CHÍNH SÁCH KẾ TỐN

Dựa vào các nghiên cứu lý thuyết của PGS.TS Trần Đình Khơi

Ngun (2010) về mơ hình các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng chế độ



26

kế toán trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam, và nghiên cứu

của Th.s Nguyễn Thị Minh Trang (2010) về vấn đề lựa chọn chính sách

kế tốn nhằm giảm thiểu chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt

Nam, tác giả đã dự tính các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính

sách kế tốn của các doanh nghiệp ở Việt Nam gồm:

1.3.1. Mức độ phức tạp của các chuẩn mực

Những nghiên cứu nguyên thủy về vấn đề này thường liên quan

đến mối quan hệ giữa việc vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế với các

tổ chức kiểm toán. Al-Baskeki (1995) cho rằng doanh nghiệp kiểm tốn

có ảnh hưởng đáng kể đến việc quyết định của cơng ty trong việc lựa

chọn chuẩn mực kế tốn. Nếu một DN được kiểm toán bởi một trong

các hang kiểm tốn lớn thì thơng thường, DN đó quan tâm nhiều hơn

đến việc vận dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế. Từ thực tiễn đó, liên

hệ với điều kiện Việt Nam, tác giả cho rằng, nếu báo cáo tài chính

(BCTC) của một DN được kiểm tốn thì mức độ tn thủ và vận dụng

các chuẩn mực kế toán sẽ cao hơn những DN khơng u cầu bắt buộc

kiểm tốn.

1.3.2. Tính độc lập về nghề nghiệp

Theo Kết quả điều tra thử nghiệm của PGS.TS Trần Đình Khơi

Ngun (2010) đã cho thấy việc thực hành kế toán hầu như chỉ dựa trên

hệ thống các thông tư hướng dẫn, điều này chứng tỏ tính độc lập về

nghề nghiệp của các kế tốn viên là rất thấp. Chính vì thế, đây là một



27

nhân tố cần xem xét trong quá trình đánh giá vận dụng chuẩn mực kế

tốn.

1.3.3. Trình độ của kế tốn viên

Trình độ của kế toán viên ảnh hưởng đến khả năng lựa chọn các kỹ

thuật, chính sách kế tốn phù hợp để tối đa hóa lợi ích của doanh

nghiệp. Nếu kế tốn có khả năng vận dụng các chính sách ké tốn một

cách nhuần nhuyễn sẽ giúp cho nhà quản trị doanh nghiệp đạt được

những mục tiêu cần thiết. Việc vận dụng hay thay đổi các chính sách ké

tốn giữa các kỳ có khi phải áp dụng hồi tố các chính sách đã thay

đổi,do đó kế tốn phải tính tốn lại các số liệu đã cung cấp ở những

năm trước nên hầu như các doanh nghiệp ít thay đổi các chính sách kế

tốn đã áp dụng trước đó.

1.3.4. Ảnh hưởng của tổ chức kiểm tốn hay vai trò của cơng

tác thanh tra, kiểm tra

Trong điều kiện của Việt Nam quy định về kiểm tốn chỉ áp dụng

bắt buộc cho các cơng ty yết giá hoặc các tổng cơng ty nhà nước.

Nhưng có một vấn đề là, một doanh nghiệp nếu được kiểm tốn báo cáo

tài chính thì mức độ tn thủ và vận dụng các chuẩn mực kế toán sẽ cao

hơn nhưng doanh nghiệp khơng bắt buộc kiểm tốn. Chính vì vậy, cần

phải xem nhân tố này là nhân tố không thể thiếu trong việc lựa chọn

chính sách kế tốn.



28

1.3.5. Thuế thu nhập doanh nghiệp

Như ta đã biết, giữa lợi nhuận kế tốn và thu nhập chịu thuế có sự

khác biệt. Sự khác biệt này do quy định về đo lường, ghi nhận doanh

thu, thu nhâp và chi phí trong kế tốn và thuế khác nhau. Theo PGS.TS

Nguyễn Công Phương, ở nước ta tồn tại một mối liên hệ chặt chẽ giữa

kế toán và thuế, luật thuế can thiệp mạnh mẽ vao lĩnh vực kế toán để

quy định các nguyên tắc đánh giá, ngun tắc lập và trình bày báo cáo

tài chính. Các nguyên tắc kế toán bị áp đặt để xác định lợi nhuận chịu

thuế. Từ đó, các phương pháp kế toán được sử dụng để xác định lợi

nhuận chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Lợi nhuận chịu thuế chính là

lợi nhuận kế toán được điều chỉnh lại một số khoản chi phí được cho là

khơng hợp lý, hợp lệ. Mối quan hệ chặt chẽ này cho thấy rằng, khi một

nhà quản trị thực hiện hành động quản trị lợi nhuận kế tốn, trong mức

độ nào đó lợi nhuận chịu thuế cũng bị ảnh hưởng. Hay nói cách khác,

nhà quản trị có thể thực hiện hành động quản trị lợi nhuận để tiết kiệm

thuế thu nhập khi có cơ hội.



29

Các yếu tố ảnh hưởng đến thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm thu

nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế suất thuế thu nhập doanh

nghiệp. Mà thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp được luật thuế quy

định có tính bắt buộc chung đối với từng loại hình doanh nghiệp, nên

nếu cố định thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp trong năm, thì thuế

thu nhập doanh nghiệp phải nộp phụ thuộc vào thu nhập chịu thuế thu

nhập doanh nghiệp. Nếu thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp càng

nhỏ thì thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp càng thấp và ngược lại. Vì

thế doanh nghiệp bằng mọi phương cách để điều chỉnh giảm thu nhập

chịu thuế. Thu nhập chịu thuế phụ thuộc vào doanh thu chịu thuế thu

nhập doanh nghiệp và chi phí tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Như

vậy, về mặt lý thuyết, để điều chỉnh giảm thu nhập chịu thuế, doanh

nghiệp có thể vận dụng các chính sách kế tốn để điều chỉnh giảm

doanh thu hoặc tăng chi phí khi các doanh thu, chi phí này có liên quan

chặt chẽ với doanh thu, chi phí kế tốn.

Tùy theo mục tiêu khác nhau của các nhà quản trị, có thể mục tiêu

của nhà quản trị là điều chỉnh lợi nhuận nhằm tiết kiệm thuế thu nhập

doanh nghiệp phải nộp. Mục tiêu của nhà quản trị có thể là tăng lợi

nhuận để thu hút vốn đầu tư, bán cổ phiếu ra thị trường,… mà họ sẽ lựa

chọn điều chỉnh giảm hoặc tăng lợi nhuận. Cụ thể lựa chọn chính sách

kế tốn như sau:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

f. Chính sách kế toán đối với giao dịch bằng ngoại tệ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x