Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KIẾN NGHỊ

HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KIẾN NGHỊ

Tải bản đầy đủ - 0trang

72

Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 8 nhân tố được sử dụng (1) mức

độ phức tạp của các chuẩn mực, (2) tính độc lập về nghề nghiệp, (3)

trình độ của kế toán viên, (4) ảnh hưởng của tổ chức kiểm tốn hay vai

trò của cơng tác thanh tra, kiểm tra, (5) anh hưởng của thuế đối với

công tác kế toán, (6) nhận thức của chủ doanh nghiệp, (7) quy mô của

doanh nghiệp, và (8) khả năng sinh lời. Các nhân tố này được lấy từ mơ

hình nghiên cứu của Trần Đình Khơi Ngun coi 8 nhân tố nói trên là

biến độc lập và chúng có ảnh hưởng đến lợi ích vận dụng tiêu chuẩn kế

toán Việt Nam (VAS). Phân tích định lượng cho thấy có 6 nhóm được

trích trong đó nhân tố mức độ phức tạp của các chuẩn mực và tính độc

lập về nghề nghiệp được nhóm chung vào một nhóm và nhân tố quy mơ

của doanh nghiệp bị loại do khơng đạt tiêu chuẩn của phân tích độ tin

cậy. Kết quả phân tích nhân tố cho thấy chỉ có nhóm mức độ phức tạp

của chuẩn mực và tính độc lập về nghề nghiệp, nhận thức của chủ

doanh nghiệp, và khả năng sinh lời có ý nghĩa thống kê đến lợi ích vận

dụng VAS của các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn TP. Đà Nẵng.

Theo chuẩn mực kế tốn đã ban hành, doanh nghiệp có quyền lựa chọn

các phương pháp kế toán sử dụng cho phù hợp với đặc điểm của doanh

nghiệp. Tuy nhiên, ngoài đặc điểm của doanh nghiệp thì kế tốn phải

lựa chọn các phương pháp kế toán dựa vào các yếu tố khách quan và

chủ quan khác, như: yêu cầu quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp,

chính sách thuế của Nhà nước, thơng tin cung cấp ra bên ngồi và chính

khả năng của các kế toán viên.



73

Với mỗi phương pháp kế toán khác nhau được áp dụng thì thơng

tin cung cấp cho các đối tượng sử dụng thơng tin cũng khác nhau. Vì

vậy, để thơng tin cung cấp ra bên ngồi phù hợp với mục tiêu doanh

nghiệp, kế toán cần phải xác định phương pháp nào phù hợp với mục

tiêu của doanh nghiệp.

Từ đó, một số khuyến nghị sau được đưa ra:

Một là, trong những nhóm giải pháp mang tính kỹ thuật đối với

hoạt động kế toán là theo kịp chuẩn kế toán quốc tế. Cụ thể hóa hành

động này, các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng cần

tuân thủ và đảm bảo chế độ kế toán rõ ràng, tuân thủ các tiêu chuẩn

quốc tế để số liệu của các doanh nghiệp được cơ quan điều tra chấp

nhận sử dụng khi cần, đồng thời cần lưu giữ tất cả các số liệu, sổ sách

chứng từ cần thiết nhằm tránh rủi ro có thể xảy ra. Các doanh nghiệp

cần ý thức xây dựng được khâu báo cáo chi tiết trong kế toán, tạo cơ sở

là những bằng chứng chứng minh cho sự hoạt động của doanh nghiệp.

Hai là, lãnh đạo doanh nghiệp cần phải nhìn nhận lại ngay từ khâu

lập kế hoạch kinh doanh cũng như xây dựng chiến lược đề phòng rủi ro

từ trước. Các báo cáo doanh thu, chi phí và số lượng sản phẩm tiêu thụ

là điều kiện cơ bản để đánh giá hiệu quả phát triển của doanh nghiệp.

Đây chính là việc thu nhập, xử lý, đánh giá và cung cấp thơng tin kinh

tế tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong

nội bộ đơn vị kế tốn - cơng việc của kế toán quản trị.



74

Ba là, định hướng hoạt động phát triển kế toán quản trị. Kiểm toán

hoạt động vẫn chưa được chú trọng và triển khai rộng rãi, nhưng với

những gì đã và đang xảy ra cho thấy, ở đất nước ta là tình trạng lãng phí

hay thất thốt công quỹ, các nguồn lực công sử dụng cho tất cả các hoạt

động của nền kinh tế còn rất phổ biến, thì theo xu thế chung tất yếu

chúng ta phải thực hiện kiểm toán hoạt động để ngăn chặn, hạn chế bớt

tình trạng đó. Vì vậy, kiểm tốn hoạt động có rất nhiều tiềm năng trong

hoạt động của kiểm tốn nhà nước. kiểm toán nhà nước cần sớm nghiên

cứu, triển khai và áp dụng loại kiểm tốn này để nó thật sự trở thành

cơng cụ đắc lực góp phần vào việc sử dụng các nguồn lực công một

cách hiệu quả, tiết kiệm, phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội của đất

nước.

Đối với kiểm toán nhà nước, vấn đề liên quan đến kiểm tốn hoạt

động được chính thức đề cập và biết đến ở mức độ rất hạn chế tại Nghị

định số 93/2003/NĐ-CP ngày 13/08/2003 của Chính phủ quy định chức

năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của kiểm toán nhà nước

(thay thế Nghị định số 70-CP ngày 11/07/1994 về việc thành lập kiểm

toán nhà nước). Cụ thể, tại Điều 1 của Nghị định về vị trí chức năng

của kiểm tốn nhà nước có nêu: “Kiểm tốn nhà nước … kiểm tốn tính

kinh tế trong việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước và tài sản

công…”. Mặc dù chưa đề cập một cách đầy đủ về kiểm toán hoạt động,



75

nhưng đây là cơ sở đầu tiên cho kiểm tốn nhà nước hình thành chức

năng và triển khai kiểm toán hoạt động sau này.

Luật Kiểm tốn nhà nước ra đời năm 2005 và có hiệu lực từ năm

2006 đã đánh một dấu mốc quan trọng về căn cứ pháp lý cho việc phát

triển KTHĐ của KTNN. Điều 36 đã quy định về các loại hình kiểm

tốn, trong đó có KTHĐ; Điều 39 quy định rõ ràng về các nội dung

KTHĐ trong hoạt động KTNN.

Tiếp đó, ngày 19/4/2010 Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành

Nghị quyết về Chiến lược phát triển KTNN đến năm 2020, trong đó có

đề cập đến việc phát triển KTHĐ, như: “… Kết hợp nhuần nhuyễn kiểm

toán báo cáo tài chính, kiểm tốn tn thủ và kiểm tốn hoạt động…

tiến tới đẩy mạnh kiểm toán hoạt động để kiểm tra, đánh giá tính kinh

tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý ngân sách, tiền và tào sản nhà

nước…”

Và đặc biệt, trong Kế hoạch chiến lược phát triển KTNN giai đoạn

2013-2017 đặt ra mục đích chiến lược “tăng cường giá trị và lợi ích

trong việc đánh giá tính kinh tế, tính hiệu lực và hiệu quả trong quản lý

và sử dụng ngân sách, tiền và tài sản công” là một trong những mục

tiêu chiến lược quan trọng trong nhằm thực hiện Chiến lược phát triển

KTNN đến 2020. Mục đích chiến lược này cũng có nghĩa là đẩy mạnh

phát triển KTHĐ của KTNN.



76

Từ những căn cứ pháp lý trên, kể từ khi Luật Kiểm tốn nhà nước

có hiệu lực đến nay; đặc biệt là trong những năm gần đây, vấn đề

KTHĐ được KTNN rất quan tâm từ khâu lập kế hoạch cho đến thực

hiện để triển khai chức năng KTHĐ theo Luật Kiểm toán nhà nước.

Việc triển khai KTHĐ chủ yếu được thực hiện lồng ghép trong hầu hết

các cuộc kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách tiền và tài sản của các

đơn vị, báo cáo tài chính doanh nghiệp… Ngồi ra, KTNN đã thực hiện

nhiều cuộc kiểm tốn chun đề gắn với việc thực thi các chính sách

của Nhà nước, trong đó có chú trọng đánh giá tính hiệu quả, hiệu lực

của chính sách, quản lý sử dụng tiền, ngân sách và tài sản nhà nước…

Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện chức năng KTHĐ trong KTNN

đến nay đang còn nhiều hạn chế, chưa thực hiện các cuộc KTHĐ một

cách độc lập như một chức năng vốn có quy định trong Luật Kiểm toán

nhà nước; hiện nay KTNN chưa có chiến lược, những chính sách cụ thể

cũng như hệ thống các cơng cụ (quy trình, hướng dẫn, cẩm nang…), đội

ngũ kiểm toán viên chuyên sâu và kinh nghiệm và bộ máy tổ chức để

thực hiện KTHĐ một cách rộng rãi và thường xuyên.

Trong thời gian qua, KTNN đã triển khai nhiều hoạt động nhằm

hình thành các điều kiện cần thiết để triển khai KTHĐ vào thực tiễn

kiểm toán như: đào tạo nguồn nhân lực, trong việc lập kế hoạch thực

hiện kiểm toán hàng năm đã lồng ghép nội dung KTHĐ, tăng số cuộc

kiểm tốn chun đề có tính chất KTHĐ…



77

Hiện nay, chuẩn mực kế toán Việt Nam vẫn chưa hòa hợp hồn

tồn với chuẩn mực kế tốn quốc tế. Sự khác biệt chủ yếu giữa VAS và

IAS/IFRS là khác biệt về cơ sở đo lường tài sản dựa trên cơ sở giá trị

hợp lý và vấn đề khai báo thơng tin. Sự chưa hòa hợp giữa VAS và

IAS/IFRS có những nguyên nhân trực tiếp và những nguyên nhân thuộc

về yếu tố xã hội, kinh tế và pháp luật. Nhìn chung, việc Việt Nam lựa

chọn mơ hình vận dụng có chọn lọc IAS/IFRS làm cơ sở chủ yếu để xây

dựng hệ thống chuẩn mực kế tốn cho mình là một sự lựa chọn hợp lý.

Trong thời gian tới, để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế về kế toán,

phù hợp quá trình hội nhập kinh tế của đất nước, Việt Nam cần tiến

hành một số giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài,

bao gồm cả giải pháp trực tiếp đối với hệ thống chuẩn mực kế tốn và

giải pháp thuộc về mơi trường kinh tế, pháp luật.

Có thể nói rằng, việc áp dụng IAS/IFRS đã mở ra một thời kỳ mới

làm thay đổi cách thức ghi nhận, đo lường và trình bày các yếu tố của

BCTC, loại trừ sự khác biệt trong chuẩn mực kế toán, là điều kiện để

đảm bảo các doanh nghiệp và tổ chức trên toàn thế giới áp dụng các

nguyên tắc kế tốn một cách thống nhất trong lập và trình bày BCTC.

IAS/IFRS được chấp nhận như chuẩn mực lập BCTC cho các cơng ty

tìm kiếm sự thừa nhận trên thị trường chứng khoán thế giới. Việc sử

dụng IAS/IFRS mang lại những lợi ích khá rõ, như: tiết kiệm chi phí

soạn thảo chuẩn mực và nhanh chóng hòa nhập vào chuẩn mực kế toán



78

quốc tế được chấp nhận; sự hội nhập về kế tốn giúp cho các cơng ty

huy động vốn trên thị trường quốc tế. Đến nay, đã có hơn 119 quốc gia

trên thế giới thực hiện việc yêu cầu (bắt buộc) hoặc cho phép (không

bắt buộc) các công ty niêm yết trên thị truờng chứng khoán của họ sử

dụng IAS/IFRS khi lập và trình bày BCTC.

Tuy nhiên, việc áp dụng IAS/IFRS khơng phải là hồn tồn dễ

dàng đối với các doanh nghiệp ở các quốc gia. Một trong những thách

thức đó là phải có đội ngũ nhân viên kế tốn và chi phí. Điều này khơng

đơn giản vì IAS/IFRS được xem là khá phức tạp ngay cả đối với các

nước phát triển. Để áp dụng IAS/IFRS đơn vị phải bỏ ra chi phí ban đầu

khá lớn, xây dựng lại hệ thống thu thập, xử lý và trình bày các thơng tin

tài chính. Ngồi ra, phương pháp xây dựng IAS/IFRS về cơ bản là theo

mơ hình Anglo-America, do đó có thể khơng phù hợp với các nước

đang phát triển vì có sự khác biệt lớn về văn hóa và mơi trường kinh tế

giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển (Prather-Kinsey,

2006). Theo Carmona and Trombetta (2008), IAS/IFRS dựa trên ngun

tắc (principle-based IAS/IFRS) có tính linh hoạt cao nên có thể khó vận

dụng vào hồn cảnh các nước đang phát triển, vốn thiếu một thị trường

phát triển để có thể áp dụng phương pháp dựa trên thị trường (marketbase) để ước tính giá trị hợp lý

Từ các nguyên nhân của sự chưa hòa hợp giữa VAS với IAS/IFRS

và những phân tích nêu trên, có thể thấy, việc Việt Nam lựa chọn mơ



79

hình vận dụng có chọn lọc IAS/IFRS làm cơ sở chủ yếu để xây dựng hệ

thống chuẩn mực kế tốn cho mình là một sự lựa chọn hợp lý. Tuy

nhiên, trong thời gian sắp tới, để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế nói

chung và hội nhập về kế tốn nói riêng, một số giải pháp mang tính

định hướng cần được xem xét một cách tích cực, như sau:

Thứ nhất, như đã phân tích ở trên, trong IAS/IFRS, giá trị hợp lý

được sử dụng ngày càng nhiều trong đo lường và ghi nhận các yếu tố

của BCTC. Cuộc họp tháng 09/2009 tại Mỹ, nhóm các nước G-20 đã

xác nhận lại cam kết thúc đẩy việc hội tụ hệ thống chuẩn mực BCTC

quốc tế ( IFRS) trong đó có đề cập đến việc sử dụng giá trị hợp lý như

một cơ sở đo lường chủ yếu nhằm tăng cường tính thích hợp của thơng

tin trình bày trên BCTC. Cũng trong năm 2009, Ủy ban chuẩn mực kế

toán quốc tế (IASB) công bố dự thảo “Các quy định về đo lường giá trị

hợp lý’, trong đó, thống nhất giá trị hợp lý là “ giá trị đầu ra” của tài

sản hay nợ phải trả. Trong khi đó, VAS1 hầu như chỉ đưa ra nguyên tắc

giá gốc. Việc sử dụng giá gốc làm cơ sở đo lường chủ yếu có thể đạt

được độ ‘tin cậy’ nhưng làm giảm tính ‘liên quan’ của thông tin được

cung cấp bởi BCTC. Do vậy, trong một tương lai không xa, việc nghiên

cứu, xây dựng cơ sở lý luận và điều kiện, phương pháp vận dụng

“Nguyên tắc giá trị hợp lý” trở thành một vấn đề cần được Việt Nam

xem xét và thực hiện một cách nghiêm túc;



80

Thứ hai, cần khẩn trương đánh giá, sửa đổi, bổ sung cập nhật 26

chuẩn mực đã ban hành cho phù hợp với những thay đổi của IAS/IFRS

và thực tiễn hoạt động kinh doanh tại Việt Nam;

Thứ ba, nhằm đáp ứng kịp thời sự đổi mới và phát triển của nền

kinh tế, cần sớm ban hành 5 chuẩn mực kế toán liên quan đến các đối

tượng và giao dịch đã phát sinh trong đời sống kinh tế, bao gồm:

Thanh tốn bằng cổ phiếu (IFRS 02); Tìm kiếm, thăm dò và xác định

giá trị các nguồn tài ngun khống sản (IFRS 06); Cơng cụ tài chính

(IFRS 7; IFRS 9); Các khỏan tài trợ của Chính phủ (IAS 20): Tổn thất

tài sản (IAS 36). Một số chuẩn mực cũng cần có bước chuẩn bị để ban

hành trong thời gian tiếp theo như: Tài sản nắm giữ để bán và hoạt

động kinh doanh không liên tục; Phúc lợi của nhân viên; Nơng nghiệp;



DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Hồng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), “Phân tích dữ liệu nghiên

cứu với SPSS”, Nhà xuất bản Hồng Ðức, TP.HCM;

[2] Nguyễn Thị Kim Oanh (2012), “Ðánh giá sự vận dụng các CSKT tại Công

ty Cổ phần lýõng thực và Dịch vụ Quảng Nam”, Tóm Tắt Luận vãn

Thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Ðại học Ðà Nẵng, Ðà Nẵng;

[3] Vũ Hữu Ðức (2010), Những vấn ðề cõ bản về lý thuyết kế toán, Nhà xuất

bản Lao ðộng, TP.HCM.

[4] Christos Tzovas (2006), “Factors influencing a firm’s accounting policy

decisions when tax accounting and financial accounting coincide”,

Managerial Auditing Journal, Vol. 21 No. 4, pp. 372-386;

[5] Cloyd, B.C., Pratt, J. and Stock, T. (1996), “The use of financial

accounting choice to support aggressive tax positions: public and

private firms”, Journal of Accounting Research, Vol. 34 No. 1, pp. 2343;

[6] Colin.R. Dey, John R. Grinyer, C.Donald Sinclair and Hana El-Habashy.

(2007), “Determinants of Accouning Choices in Egypt”, The Journal of

Applied Accounting Research, Vol. 8, pp. 48-92;

[7] Dhaliwal, D.S., Salamon, G.L. and Smith, E.D. (1982), “The effect of

owner versus management control on the choice of accounting

methods”, Journal of Accounting and Economics, pp. 77-117;

[8] Holthausen, R. W. and Leftwich, R. W. (1983), “The Economic

Consequences



of Accounting



Choice:



Implications



of



Costly



Contracting and Monitoring”, Journal of Accounting and Economics,

pp 77-117;



[9] Serkan Narli (2010), “An alternative evaluation method for Likert type

attitude scales: Rough set data analysis”, Scientific Research and

Essays, Vol.5 (6), pp. 523-524;

[10] Steven C. Hall and Laurie S. Swinney (2004), “Accounting Policy

Changes and Debt Contracts”, Management Research News, pp. 34-48;

[11] Steven Young (1998), “The Determinants of Managerial Accounting

Policy Choice: Further Evidence for the UK”, Accounting and Business

Research, Vol. 28 No. 2, pp. 131-143;

[12] Watts, R. L. and Zimmerman, J. L. (1990), “Positive Accounting Theory:

A Ten Year Perspective”, The Accounting Review, Vol. 65 No. 1, pp.

131-156.

[13] Trường Đại học kinh tế Đà Nẵng (2009), Giáo trình Ngun lý Kế

tốn, Nhà xuất bản giáo dục, Đà Nẵng.

[14] PGS.TS Trần Đình Khơi Ngun (2010), “Bàn về mơ hình các

nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng chế độ kế toán trong các doanh

nghiệp vừa và nhỏ”, Tạp chí khoa học và cơng nghệ, Đại học Đà

Nẵng (số 5), 225-233.

[15] Phạm Thị Bích Vân (2012), Nghiên cứu ảnh hưởng của thuế thu

nhập doanh nghiệp đến sự lựa chọn chính sách kế tốn của các

doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ

Quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng.

[16] Võ Thị Hồng Loan (2011), “Phân tích một số đặc điểm của doanh

nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Đà Nẵng”, Tạp chí Khoa học và

công nghệ, Đại học Đà Nẵng (số 1), 151-158.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KIẾN NGHỊ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×