Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b. Nhận xét kết quả nghiên cứu

b. Nhận xét kết quả nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

65



Do đó, nhân tố quy mơ có quan hệ thuận chiều với cấu trúc vốn của

doanh nghiệp

Tỷ trọng tài sản cố định có tỷ lệ nghịch với tỷ suất sinh lời tài sản. Điều

đó cho thấy các doanh nghiệp khống sản đã sử dụng cố định không mang lại

hiệu quả, có thể các dây chuyền máy móc thiết bị khai thác còn lạc hậu chưa

đáp ứng yêu cầu về mặt kỹ thuật. Thêm vào đó Việt Nam hầu như chỉ mới

dừng lại ở việc khai thác thô, công nghệ chế biến lạc hậu, cơng suất thấp và

khá lãng phí, giá trị thặng dư mang lại chưa tương xứng với tiềm năng. Hoạt

động khai thác phần lớn dựa vào phương pháp thủ công, nên đa số các mỏ

nhỏ hiện nay chỉ lấy được những phần giàu nhất, bỏ đi toàn bộ các quặng

nghèo và khống sản đi cùng, dẫn đến khơng thể khai thác tối đa nguồn tài

nguyên.. Ngoài ra, tỷ trọng tài sản cố định lại có ảnh hưởng thuận chiều với tỷ

suất sinh lời vốn chủ sở hữu, điều này cho thấy việc gia tăng tài sản cố định

có thể làm tăng tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu nhờ lợi ích của lá chắn thuế từ

khấu hao tài sản cố định.

Do đó, nhân tố tỷ trọng tài sản cố định có quan hệ thuận chiều với tỷ

suất sinh lời tài sản và ngược chiều với tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu

Nhân tố cấu trúc tài chính có ảnh hưởng nghịch chiều đến hiệu quả hoạt

động của doanh nghiệp, kết quả này tương đồng với lý thuyết trật tự phân

hạng hay các nghiên cứu của Huang và Song (2006), Denis Forte và Lucas

Ayres Barros (2013) Dilip Ratha (2003). Kết quả cũng chỉ ra rằng không phải

lúc nào tài trợ bằng nợ nhiều cũng mang lại cho doanh nghiệp tỷ suất sinh lời

vốn chủ sở hữu cao hơn đúng như lý thuyết M&M.

Do đó, cấu trúc tài chính có mối quan hệ nghịch chiều với hiệu quả hoạt

động

Nhân tố tốc độ tăng trưởng có mối quan hệ thuận chiều với ROA và

ROE. Đây là nhân tố có mức độ ảnh hưởng nhiều nhất tới ROA, tốc độ tăng



66



trưởng tăng thêm 1% thì làm cho ROA tăng lên 0,13%. Kết quả nghiên cứu

tương đồng với các nghiên cứu trước đây của nhóm tác giả Z. Bashir, A.

Abbas, S. Manzoor và M. N. Akram (2013).

Do đó, Tỷ suất chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp có mối quan

hệ nghịch chiều với hiệu quả hoạt động kinh doanh (ROA).

Nhân tố tỷ suất chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp có mối quan

hệ ngược chiều với tỷ suất sinh lời tài sản (ROA). Kết quả này cho thấy, việc

cắt giảm tới tối thiểu các khoản chi phí là một biện pháp hữu hiệu để tăng

hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp. Kết quả này phù hợp với kết quả

nghiên cứu của Camelia Burja (2011), Amdemikael Abera (2012), Võ Đức

Nghiêm (2012)...

Do đó, Tỷ suất chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp có mối quan

hệ nghịch chiều với hiệu quả hoạt động.

Nhân tố lãi suất có mối quan hệ nghịch chiều với cả ROA và ROE. Lãi

suất là biểu hiện của chi phí hay giá cả của việc tài trợ bằng nợ vay, do đó chi

phí lãi vay là yếu tố chi phí khá quan trọng đối với các doanh nghiệp có tỷ

trọng nợ vay lớn. Kết quả nghiên cứu tương đồng với nghiên cứu của Võ

Đức Nghiêm (2012).

Do đó, lãi suất có mối quan hệ nghịch chiều với hiệu quả hoạt động.

Nhân tố lạm phát có mối quan hệ thuận chiều tới hiệu quả tài chính trong

doanh nghiệp. Sự gia tăng về lạm phát có thể dẫn tới chi phí cho việc sử dụng

các nguồn tài trợ bằng nợ vay cao hơn cơ hội tiếp cận được nguồn vốn vay sẽ

trở nên khó khăn hơn. Các doanh nghiệp sẽ ưu tiên lựa chọn các nguồn tài trợ

khác bằng vốn chủ sở hữu để giảm thiểu chi phí. Mặt khác, thực trạng cho

thấy các doanh nghiệp trong ngành đang có chỉ số đòn bẩy tài chính âm. Do

đó, càng cố gắng nỗ lực điều chỉnh cấu trúc vốn với tỷ suất nợ giảm dần là

điều kiện để doanh nghiệp có thể gia tăng ROE.



67



Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng nhân tố khả năng thanh toán, tốc độ

tăng trưởng kinh tế là các chỉ tiêu không ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động

của doanh nghiệp ngành khoáng sản.

Nhân tố khả năng thanh toán (khả năng thanh toán hiện hành) phản ánh

việc cơng ty có đáp ứng về nghĩa vụ trả các khoản nợ ngắn hạn bằng tài sản

ngắn hạn hay không. Một số lý thuyết kinh tế cho rằng: khả năng thanh toán

càng cao phản ánh hiệu quả doanh nghiệp là tốt. Song không phải lúc nào

cũng hồn tồn đúng, khả năng thanh tốn ngắn hạn lớn có thể do các khoản

phải thu lớn, hàng tồn kho lớn (tức nguyên vật liệu dự trữ quá lớn không dùng

hết và hàng hóa, thành phẩm tồn kho khơng bán được không đối lưu được),

tài sản lưu động tồn trữ lớn…. Mặt khác tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn

có thể được hình thành từ vốn vay dài hạn như tiền trả trước cho người bán;

hoặc được hình thành từ nợ khác (như các khoản ký quỹ, ký cược…) hoặc

được hình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu. Chính vì thế có thể vốn vay ngắn

hạn của doanh nghiệp nhỏ nhưng nợ dài hạn và nợ khác lớn. Chính vì vậy nếu

lấy tổng tài sản ngắn hạn chia cho nợ ngắn hạn (khả năng thanh toán hiện

hành) để phản ánh hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ở một góc độ nào đó

là bất hợp lý.



68



KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Trong chương 3, tác giả đã giới thiệu chung về đặc điểm và tình hình

hoạt động kinh doanh của ngành khống sản trong mấy năm gần đây. Trên cơ

sở đó, khái quát chung về hiệu quả hoạt động thông qua tỷ suất sinh lời tài sản

(ROA) và tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE).

Chương 3 cũng đã thống kê mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng

(biến độc lập) tới hiệu quả hoạt động (ROA và ROE) nhằm dự đoán xu hướng

ảnh hưởng của chúng tới biến phụ thuộc của mơ hình.

Sử dụng mơ hình ảnh hưởng cố định và mơ hình ảnh hưởng ngẫu nhiên

để xác định. Kết quả kiểm định Hausman cho thấy, với mô hình ROA sẽ lựa

chọn mơ hình ảnh hưởng ngẫu nhiên, còn mơ hình ROE lựa chọn mơ hình ảnh

hưởng cố định. Từ đó, tổng hợp kết quả nghiên cứu cho thấy với 9 nhân tố mà

mơ hình đưa vào thì có 7 nhân tố ảnh hưởng là : Quy mơ doanh nghiệp, cấu

trúc tài sản, cấu trúc vốn, tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp, tỷ suất chi phí bán

hàng và quản lý doanh nghiệp, lạm phát và lãi suất có ảnh hưởng đến hiệu quả

hoạt động của doanh nghiệp ngành khoáng sản. Dựa trên kết quả nghiên cứu

ở chương 3 là cơ sở để tác giả đưa ra các kết luận và hàm ý chính sách liên

quan.



69



CHƯƠNG 4



CÁC KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH RÚT RA TỪ

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. KẾT LUẬN

Với đề tài nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn các doanh

nghiệp ngành nhựa bao bì niêm yết trên thị trường chứng khốn Việt Nam, đã

phân tích cấu trúc vốn và các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các

doanh nghiệp trong ngành. Từ đó, tác giả đưa ra một số kết luận cơ bản về

cấu trúc vốn các doanh nghiệp trong ngành như sau:

Hiệu quả hoạt động được đo lường thông qua hai chỉ tiêu tỷ suất sinh lời

tài sản và tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu. Theo đó, tỷ suất sinh lời tài sản và

vốn chủ sở hữu được duy trì với mức trung bình lần lượt là 12,87% và

15,08%. Điều này cho biết mức sinh lời thực tế của ngành mặc dù không quá

thấp song chưa tương xứng với kỳ vọng là một ngành với mức sinh lời cao và

tiềm năng của ngành hiện có. Thêm vào đó, mức độ biến động về các chỉ tiêu

sinh lời này giữa các doanh nghiệp trong ngành là khá lớn, cho thấy sự không

ổn định về hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành.

Trong thực tế, mặc dù có số lượng lên tới gần 2000 doanh nghiệp, nhưng

ngoài các doanh nghiệp lớn của Nhà nước như Tập đồn Cơng nghiệp Than Khống sản Việt Nam, Tổng cơng ty Thép Việt Nam, Tổng cơng ty Hố chất,

Tổng cơng ty cơng nghiệp Xi măng, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước

ngoài, một số doanh nghiệp lớn tại một số địa phương thì phần lớn các tổ

chức, cá nhân khai thác khoáng sản trên địa bàn các tỉnh, thành phố có quy

mơ trung bình và nhỏ, năng lực tài chính, kinh nghiệm còn hạn chế, chưa đầu

tư thích đáng để lựa chọn công nghệ, thiết bị hiện đại nhằm thu hổi triệt để, sử

dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản trong khai thác, chế biến;

Từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy những doanh nghiệp có quy



70



mơ càng lớn thì doanh nghiệp có thể tận dụng được lợi thế kinh tế nhờ quy

mô như: cơ hội để mở rộng thị trường tiêu thụ, tìm kiếm khách hàng và nhà

đầu tư tiềm năng, có thêm nhiều cơ hội đầu tư hấp dẫn, tiết kiệm các khoản

chi phí sản xuất.... nhằm tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh cho doanh

nghiệp. Thêm vào đó, tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp cũng có mối quan

hệ thuận chiều với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng không phải luôn luôn đầu tư vào nhiều

vào TSCĐ thì chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp, thậm chí nếu

doanh nghiệp sử dụng khơng hiệu quả TSCĐ tức là khả năng sinh lời không

bù đắp chi phí thì ảnh hưởng làm hiệu quả hoạt động giảm sút. Điều này cho

thấy các công ty trong ngành chưa có hiệu quả trong việc quản lý và sử dụng

tài sản cố định, tài sản cố định doanh nghiệp mua sắm còn lạc hậu chưa đáp

ứng được yếu tố khoa học công nghệ phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh

doanh gây ra tình trạng hiệu quả kinh tế thấp, lãng phí các yếu tố đầu vào.

Ngồi ra, kết quả thực nghiệm đã chỉ ra rằng việc sử dụng nhiều TSCĐ,

doanh nghiệp có thể tận dụng được lợi ích từ tấm chắn thuế về khấu hao mang

lại để tăng hiệu quả tài chính (ROE). Trái lại nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tài

trợ bằng nợ không thể mang lại tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu cao hơn đúng

như lý thuyết M&M. Một sự tăng lên trong tài trợ bằng nợ làm gia tăng chi

phí lãi vay làm giảm sút hiệu quả hoạt động kinh doanh và thông qua việc vay

nợ tăng các doanh nghiệp trong ngành khoáng sản đã làm sụt giảm hiệu quả

tài chính trong doanh nghiệp hay đòn bẩy tài chính của các doanh nghiệp này

đang bị âm.

Thêm vào đó, nghiên cứu chỉ ra rằng khả năng sinh lời từ doanh thu có

mối quan hệ cùng chiều với cả ROA và ROE và tỷ suất chi phí bán hàng và

quản lý doanh nghiệp có mối quan hệ ngược chiều với hiệu quả hoạt động

doanh nghiệp. Điều này cho thấy sức ảnh hưởng mạnh mẽ của chi phí và



71



doanh thu tới hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.

Ngồi sự ảnh hưởng của các nhân tố bên trong doanh nghiệp, sự ảnh

hưởng của lãi suất cũng có vai trò đáng kể tới hiệu quả hoạt động của doanh

nghiệp. Sự ảnh hưởng theo chiều nghịch giữa lãi suất tới ROA và ROE thêm

một lần nữa khẳng định sự cắt giảm các khoản chi phí là việc vơ cùng cần

thiết trong doanh nghiệp. Lãi suất vay càng cao kéo theo chi phí lãi vay càng

lớn, dẫn tới sự sụt giảm về lợi nhuận của doanh nghiệp càng nhiều đặc biệt là

các doanh nghiệp có sử dụng nợ lớn.

4.2. HÀM Ý CHÍNH SÁCH VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG

Ngành khống sản nhìn chung còn ở giai đoạn xuất khẩu quặng thơ và

tinh quặng với giá trị thấp, sau đó phải nhập khẩu kim loại đã qua tinh luyện,

chế biến với giá cao nên hiệu quả kinh tế còn hạn chế. Do vậy, để nâng cao

hiệu quả và giá trị sản phẩm, ngành khoáng sản cần phát triển theo hướng

tăng cường chế biến sâu, bên cạnh việc thăm dò khai thác các mỏ mới. Theo

quy hoạch phát triển ngành khoáng sản đến năm 2020, triển vọng 2030, dự

báo nhu cầu khoáng sản là rất lớn. Mục tiêu của chiến lược là khai thác

khoáng sản phải gắn với chế biến, tạo sản phẩm có giá trị kinh tế cao; đến

năm 2020 chấm dứt các cơ sở chế biến khống sản manh mún, cơng nghệ lạc

hậu, hiệu quả kinh tế thấp, gây ô nhiễm môi trường; hình thành các khu cơng

nghiệp chế biến khống sản tập trung với cơng nghệ tiên tiến, có quy mơ

tương xứng với tiềm năng của từng loại khoáng sản. Tuy nhiên việc tăng sản

lượng khai thác cũng như khai thác khoáng sản nằm sâu trong lòng đất gặp

nhiều khó khăn, đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn.

4.2.1. Đối với các doanh nghiệp ngành khống sản

Kết quả nghiên cứu đã trình bày ở chương 3 chỉ ra rằng: Hiệu quả hoạt

động của các cơng ty cổ phần của ngành khống sản niêm yết trên thị trường

chứng khốn Việt Nam có tương quan thuận chiều với quy mô và tốc độ tăng



72



trưởng doanh nghiệp. Do đó, để tăng hiệu quả hoạt động, doanh nghiệp của

ngành phải nỗ lực khơng ngừng tìm kiếm, mở rộng thị trường tiêu thụ, mở

rộng đầu tư để tăng quy mơ nhằm tận dụng được lợi ích kinh tế từ quy mơ.

Thêm vào đó, việc mở rộng quy mơ có thể giúp doanh nghiệp dễ dàng tìm

kiếm thị trường tiêu thụ, có nhiều cơ hội đầu tư cũng như thu hút sự tài trợ

hơn... Do đó, nó giúp các cơng ty trong ngành có thể nâng cao hiệu quả hoạt

động kinh doanh của mình.

Kết quả hồi quy chỉ ra mối quan hệ ngược chiều của tỷ trọng tài sản cố

định tới tỷ suất sinh lời tài sản (ROA). Thực trạng ngành cho thấy, hầu hết các

dây chuyền máy móc thiết bị của ngành hiện nay đều được nhập khẩu hoặc

được chuyển giao các dây chuyền công nghệ lạc hậu. Điều này dẫn tới các

loại máy móc thiết bị của doanh nghiệp không đáp ứng về mặt khoa học công

nghệ phục vụ cho hoạt động khai thác và chế biến khống sản, gây ra tình

trạng lãng phí về các yếu tố đầu vào, hiệu quả kinh tế thấp, ô nhiễm mơi

trường.... Vì vậy, các doanh nghiệp trong ngành cần rà sốt và kiểm tra lại

cơng tác mua sắm, quản lý, sử dụng máy móc, dây chuyền thiết bị nhằm tăng

hiệu quả đồng vốn đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp. Đồng thời,

các doanh nghiệp trong ngành nên chú trọng đẩy mạnh hoạt động ứng dụng,

chuyển giao công nghệ tiên tiến, hiện đại vào khai thác, chế biến khoáng sản

làm vật liệu xây dựng để nâng cao hiệu suất và chất lượng sản phẩm, hạn chế

ô nhiễm môi trường. Đồng thời các doanh nghiệp cũng nên xem xét đầu tư

thoả đáng cho cơng tác thăm dò, nâng cao trình độ tay nghề sử dụng máy móc

cho đội ngũ công nhân, dây chuyền thiết bị trước khi khai thác nhằm nâng cao

độ tin cậy về trữ lượng, chất lượng mỏ để giảm thiểu rủi ro khi khai thác, chế

biến.

Ngoài ra, việc khấu hao tài sản cố định có thể mang lại cho doanh nghiệp

lợi ích từ tấm chắn thuế cho doanh nghiệp. Kết quả hồi quy cho thấy tỷ trọng



73



tài sản cố định và tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE) có mối quan hệ cùng

chiều, cho biết mức khấu hao tài sản cố định của doanh nghiệp ngành khoáng

sản hàng năm là rất lớn. Các nhà quản lý của các doanh nghiệp trong ngành

khoáng sản nên xem xét và lựa chọn phương thức trích khấu hao tài sản cố

định hợp lý bởi mức khấu hao thì rất lớn trong khi tài sản lại không tạo được

hiệu quả cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

Việc lựa chọn nguồn tài trợ để giảm thiểu các khoản chi phí là một trong

những vấn đề quan trọng các doanh nghiệp trong ngành nên cố gắng xem xét.

Kết quả hồi quy cho thấy các chỉ tiêu cấu trúc tài chính (tỷ suất nợ và tỷ suất

nợ trên vốn chủ sở hữu) của doanh nghiệp có mối quan hệ nghịch chiều với

hiệu quả hoạt động kể cả hiệu quả hoạt động kinh doanh và hiệu quả tài

chính. Điều này chỉ ra sự bất hợp lý trong quyết định tài trợ của các doanh

nghiệp thuộc ngành. Các doanh nghiệp trong ngành cần phải điều chỉnh lại

cấu trúc tài chính bằng cách lựa chọn các nguồn tài trợ khác bằng vốn chủ sở

hữu như: phát hành cố phiếu thông thường, cổ phiếu ưu đãi,....để giảm việc tài

trợ bằng nợ vay nhằm tăng tính tự chủ trong doanh nghiệp, đồng thời có thể

cắt giảm các khoản chi phí liên quan nhằm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Thêm vào đó, kết quả hồi quy từ hai mơ hình ROA và ROE đều chỉ ra

mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ suất chi phí bán hàng và quản lý doanh

nghiệp với hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong ngành khống sản.

Do đó, các doanh nghiệp của ngành cần cố gắng tiết kiệm, cắt giảm tối thiểu

các khoản chi phí bán hàng và các khoản chi phí hành chính như chi phí quản

lý doanh nghiệp nhằm tối thiếu hóa các khoản chi phí khơng cần thiết, tăng

lợi nhuận cho doanh nghiệp trong ngành, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả

hoạt động cho các doanh nghiệp trong ngành.

4.2.2. Đối với các cơ quan quản lý nhà nước

Từ kết quả hồi quy từ hai mơ hình tỷ suất sinh lời tài sản (ROA) và tỷ



74



suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE) cho thấy rằng: hiệu quả hoạt động doanh

nghiệp và lãi suất đi vay có mối quan hệ ngược chiều với nhau, tức là lãi suất

cho vay càng cao ảnh hưởng làm cho hiệu quả kinh doanh của các doanh

nghiệp trong ngành càng thấp. Do đó, Ngân hàng Nhà nước cần có chế độ

điều chỉnh chính sách lãi suất, chính sách tín dụng riêng cho các tổ chức tín

dụng khi cho vay hoặc cung cấp các sản phẩm ngân hàng hỗ trợ cho doanh

nghiệp ngành khoáng sản. Đây có thể coi là một sự hỗ trợ cần thiết để các

doanh nghiệp có thể có đủ điều kiện, cơ sở tiến hành việc đầu tư hoạt động

nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp vừa có thể tiếp cận được các

nguồn tài trợ vừa có thể tiết kiệm các khoản chi phí liên quan nhằm tăng hiệu

quả hoạt động cho doanh nghiệp.

Ngoài ra, trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư cũng như thu hút

đầu tư của mình, các doanh nghiệp khoảng sản Việt nam gặp trở ngại lớn về

chính sách pháp luật. Mức thuế suất hiện nay nhất là thuế suất thuế xuất khẩu

ở một số sản phẩm của ngành khoáng sản được cho là cao hơn nhiều so với

các nước trong khu vực và trên thế giới. Do đó, Nhà nước nên xem xét việc

hạ thuế suất về mức chung của thế giới, khơng tăng thuế, cũng như có những

chính sách mới để tăng cường năng lực cạnh tranh của Việt Nam so với những

nước giàu tài nguyên khác nhằm thu hút đầu tư và mở rộng thị trường tiêu thụ

ở nước ngoài. Nhà nước cũng cần có chính sách cụ thể nhằm khuyến khích

các doanh nghiệp đủ năng lực đầu tư một cách có hiệu quả, nhất là khai thác,

sử dụng triệt để, tiết kiệm tài ngun khống sản trong q trình khai thác,

chế biến khống sản; đồng thời bảo vệ mơi trường, mơi sinh trong q trình

khai thác, đạt mục tiêu phát triển bền vững; đầu tư các dự án chế biến sâu

khống sản. Từ đó, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp được phát triển trên một

nền tảng vững chắc, để có thể duy trì và đảm bảo hoạt động của mình được

thơng suốt và từng bước phát triển.



75



Một mặt, để tăng tính cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong tình hình

khai thác khống sản thiếu quy hoạch, nhiều bất ổn như hiện nay, các cơ quan

Nhà nước có thẩm quyền một mặt dừng lại việc cấp phép thăm dò, khai thác;

mặt khác phải tăng cường việc tổ chức kiểm tra, rà soát, đánh giá và thẩm

định lại hoạt động của những đơn vị đã được cấp phép. Nâng cao năng lực và

vai trò trách nhiệm của đơn vị được cấp giấy phép và chính quyền địa phương

(xã, huyện) chịu trách nhiệm đầu tiên về cơng tác quản lý khống sản. Khi

phát hiện hoạt động trái phép chính quyền và doanh nghiệp phải chủ động

thực hiện các biện pháp xử lý theo thẩm quyền, những vấn đề vượt quá thẩm

quyền thì báo cáo cơ quan cấp trên trực tiếp để giải quyết.

Hiện nay hệ thống pháp luật Nhà nước ta khá đồ sộ và đầy đủ để bảo vệ

tài nguyên và môi trường. Nhưng trong thực tế, các cơ quan chun mơn có

thẩm quyền và chính quyền địa phương còn q nhiều khó khăn trong quản lý

nguồn tài ngun, khống sản. Điều quan trọng là chúng ta thiếu các văn bản

quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện luật về bảo vệ và quản lý tài nguyên

và môi trường. Cần rà sốt, đánh giá tồn diện việc thực hiện Luật Khoáng

sản (năm 1996) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khoáng sản

(năm 2011) cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành trong thời gian qua.

Trên cơ sở đó đề xuất việc xây dựng Luật Khống sản (sửa đổi) theo hướng:

tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước đầu tư

vốn, thiết bị, công nghệ tiên tiến trong khai thác, chế biến khoáng sản, đặc

biệt là chế biến sâu, nhất là đối với các loại khoáng sản kim loại; tăng cường

trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khai thác, chế biến khoáng sản trong việc sử

dụng hợp lý tài nguyên khống sản, bảo vệ mơi trường trong khai thác khống

sản.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b. Nhận xét kết quả nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×