Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.2: Danh sách 16 công ty nghiên cứu thuộc ngành khoáng Sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Bảng 2.2: Danh sách 16 công ty nghiên cứu thuộc ngành khoáng Sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Tải bản đầy đủ - 0trang

32



STT Mã CK



Tên công ty



Sàn giao



1

2

3

4

5



dịch

BKC Công ty cổ phần Khống Sản Bắc Cạn

HNX

BMC Cơng ty cổ phần Khống Sản Bình Định

HOSE

CTM Cơng ty cổ phần Đầu Tư Và Khai Thác Mỏ

HNX

KSH Cơng ty cổ phần tập đồn Khống Sản HAMICO HOSE

LBM Cơng ty cổ phần Khống Sản Và Vật Liệu Xây HOSE



6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16



Dựng Lâm Đồng

MDC Công ty cổ phần Than Mơng Dương

HNX

MIC Cơng ty cổ phần Kỹ Nghệ Khống Sản Việt Nam HNX

MMC Cơng ty cổ phần Khống Sản Mangan

HNX

NBC Công ty cổ phần Than Núi Beo

HNX

NNC Công ty cổ phần Đá Núi Nhỏ

HOSE

TC6 Công ty cổ phần Than Cọc Sáu

HNX

TCS Công ty cổ phần Than Cao Sơn

HNX

TDN Công ty cổ phần Than Đèo Nai

HNX

TVD Công ty cổ phần Than Vàng Danh

HNX

THT Công ty cổ phần Than Hà Tu

HNX

YBC Công ty cổ phần Xi Măng Và Khoáng Sản Yên HNX

Bái



- Nhận xét mẫu nghiên cứu

Ưu điểm của mẫu nghiên cứu:

Đây là những doanh nghiệp cổ phần hoạt động kinh doanh có hiệu quả,

đủ điều kiện niêm yết trên thị trường chứng khoán theo quy định của Ủy ban

Chứng khoán Nhà nước nên có những tương đồng tạo ra tính chất đồng đều

cho mẫu nghiên cứu.

Những doanh nghiệp này có đầy đủ số liệu tương đối tin cậy phục vụ

cho quá trình nghiên cứu vì các thơng tin được nêu trong báo cáo tài chính là

những số liệu đã được kiểm tốn. Bên cạnh đó, các quyết định đầu tư và tài

trợ hoàn toàn dựa trên cơ sở hiệu quả hoạt động kinh doanh và đặc thù của

doanh nghiệp mà không chịu sự chi phối trực tiếp bởi Nhà nước, do đó việc

nghiên cứu về cấu trúc vốn của doanh nghiệp sẽ khách quan hơn.



33



Hạn chế của mẫu nghiên cứu:

Số lượng các doanh nghiệp được lựa chọn nghiên cứu chỉ có 16 trên tổng

số 30 doanh nghiệp niêm yết làm ảnh hưởng đến phạm vi thực tiễn của đề tài,

từ đó kết quả phân tích có thể chưa thể hiện được tồn cảnh của ngành khống

sản.

Nguồn số liệu về tốc độ tăng trưởng, chỉ số lạm phát, lãi suất được lấy ở

trang thông tin của Tổng cục thống kê Việt Nam và Ngân hàng nhà nước Việt

Nam.

2.2.2. Mã hóa biến quan sát

2.2.3. Xây dựng ma trận hệ số tương quan

Kiểm tra tương quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc, biến độc lập

và biến độc lập, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến biến phụ

thuộc, và chọn các biến theo nguyên tắc mỗi nhân tố chỉ chọn một biến đại

diện có quan hệ chặt chẽ nhất với biến phụ thuộc, nếu hai biến trong cùng một

nhân tố có tương quan chặt chẽ với biến phụ thuộc thì sẽ chọn biến có quan

hệ chặt chẽ hơn.

2.2.4. Lựa chọn biến đưa vào mơ hình

Dựa vào kết quả của ma trận hệ số tương quan xác định các biến được

lựa chọn để đưa vào mơ hình hồi quy.

2.2.5. Ước lượng mơ hình ban đầu

Ước lượng lần lượt các mơ hình:

- Mơ hình ảnh hưởng cố định

- Mơ hình ảnh hưởng ngẫu nhiên

2.2.6. Kiểm định mơ hình



Kiểm định Hausman

Kiểm định để lựa chọn giữa mơ hình ảnh hưởng cố định và mơ hình ảnh

hưởng ngẫu nhiên, dựa trên giả định H 0 khơng có sự tương quan giữa biến

giải thích và yếu tố ngẫu nhiên εi.



34



Giả thiết:

H0 : Mơ hình FEM và REM không khác biệt đáng kể

H1 : Mô hình FEM và REM khác biệt đáng kể

Nếu (Prob>λ2) < α = 0.05 thì giả thiết H0 bị bác bỏ, tức là mơ hình FEM

phù hợp hơn. Ngược lại, giả thiết H 0 được chấp nhận thì mơ hình REM phù

hợp hơn.



Tính hệ số xác định và hệ số xác định hiệu chỉnh

Để đo lường mức độ phù hợp của mơ hình. Kiểm tra mức ý nghĩa của

các hệ số hồi quy trong mơ hình.



35



KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Trong chương 2, tác giả đã thiết kế mơ hình nghiên cứu, phương pháp

nghiên cứu, thống kê một số nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của

các cơng ty ngành khống sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

như: Quy mô doanh nghiệp, cấu trúc tài sản, tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp,

cấu trúc vốn, tỷ suất chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp, khả năng

thanh toán ảnh hưởng như thế nào, chiều hướng tác động ra sao đến hiệu quả

hoạt động.

Giới thiệu về mặt lý thuyết mơ hình ảnh hưởng cố định (FEM) và mơ

hình ảnh hưởng ngẫu nhiên để xác định sự ảnh hưởng của các nhân tố ảnh

hưởng đến hiệu quả hoạt động. Đồng thời đề cập tới quy trình nghiên cứu mơ

hình các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp.



36



CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CÁC NHÂN TỐ

ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC

CÔNG TY NGÀNH KHOÁNG SẢN NIÊM YẾT TRÊN THỊ

TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

3.1. NGÀNH KHỐNG SẢN VIỆT NAM

3.1.1. Khái niệm ngành khống sản

Ngành khống sản Việt Nam thuộc nhóm phân ngành B theo hệ thống

phân ngành kinh tế Việt Nam (VSIC 2007). Cơng nghiệp khai khống bắt đầu

hình thành từ cuối thế kỷ 19 do Pháp khởi xướng, từ năm 1955, Việt Nam đã

tiếp quản, duy trì và phát triển các cơ sở khai thác, chế biến kháng sản. Tuy

nhiên, sự phát triển của ngành Khoáng Sản chưa thực sự tương xứng với tiềm

năng và lịch sử lâu đời của ngành này. Chiến lược phát triển ngành đến 2020

tầm nhìn 2030 theo quyết định số 2427/QĐ-TT đã được thủ tướng phê duyệt

đó là: Ưu tiên đầu tư cho điều tra cơ bản về địa chất về khoáng sản cả phần

đất liền và biển, hải đảo để làm rõ tiềm năng tài nguyên khống sản. Thăm dò,

khai khác khống sản gắn với chế biến và sử dụng hiệu quả. Cân đối giữa

khai thác với dự trữ khống sản; phát triển bền vững cơng nghiệp khai khống

gắn với bảo vệ mơi trường và đảm bảo quốc phòng - an ninh.

3.1.2. Đặc điểm ngành khống sản Việt Nam

Khai khoáng là một lĩnh vực hấp dẫn với biên lợi nhuận cực cao, khoảng

trống phát triển còn lớn (đặc biệt là định hướng phát triển chú trọng hơn về

cơng nghệ tinh chế). Khai khống nhằm mục đích thăm dò, khai thác các loại

khống sản có từ lòng đất, dưới biển… các khoáng sản kim loại là những

nguồn nguyên liệu cơ bản, là cơ sở cho việc phát triển cơng nghiệp nặng của

một quốc gia. Vì thế, quốc gia có ngành khai khống càng phát triển thì việc



37



phát triển nền kinh tế đặc biệt là phát triển ngành cơng nghiệp nặng càng có

nhiều ưu thế để phát triển.

Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng về khoáng sản với hơn

5000 điểm mỏ thuộc 60 loại khoáng sản được phát hiện và khai thác, tiềm

năng khoáng sản Việt Nam được đánh giá là tương đối đa dạng. Nếu tách

riêng than và dầu khí, các doanh nghiệp khoáng sản đang niêm yết hiện nay

chủ yếu khai thác các loại quặng kim loại (sắt, titan, mangan, vàng, kẽm,

đồng, antimony) và các khoáng sản phi kim - vật liệu xây dựng (VLXD) (đá,

cát, sỏi, cao lanh, thạch anh).

Đầu ra của ngành khống sản chính là những ngun vật liệu đầu vào

thiết yếu cho các ngành công nghiệp sản xuất, chế tạo và xây dựng. Do vậy,

chu kì phát triển của ngành gắn liền với chu kì phát triển chung của nền kinh

tế. Điều này lý giải phần nào về sự ảnh hưởng của tốc độ tăng trưởng kinh tế

đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngành khoáng sản sẽ được nghiên cứu

tiếp theo ở phần sau.

Nhu cầu và giá bán nhiều loại khoáng sản được quyết định bởi thị trường

thế giới. Các sản phẩm chủ yếu của ngành khống sản Việt Nam là dầu thơ,

kẽm, chì, titan, antimony, mangan… Các sản phẩm này được bán và xuất

khẩu dưới dạng thô. Khâu tinh chế hầu như bị bỏ ngỏ do năng lực và thiết bị

của các doanh nghiệp trong nước còn nhiều hạn chế. Trong khi đó, Việt Nam

lại nhập khẩu rất mạnh quặng sau tinh chế.

Ngành khai khoáng đòi hỏi dây chuyền thiết bị có khoa học cơng nghệ

cao từ khâu khai thác cho tới khâu chế biến mới đảm bảo được yêu cầu khai

thác cũng như chất lượng của sản phẩm trong ngành. Như vậy việc đầu tư

mua sắm thiết bị (TSCĐ) là khâu quan trọng có vai trò quyết định đến hiệu

quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành này. Tuy nhiên, với đặc điểm vốn

ít và ngành công nghiệp nặng của quốc gia chưa phát triển mà hầu hết các

thiết bị này đều phải nhập khẩu từ bên ngoài với giá cả rất cao. Tiềm năng để



38



phát triển ngành rất lớn với số lượng các loại khoáng sản rất đa dạng và

phong phú như hiện nay. Song vì những hạn chế của việc phát triển yếu tố

khoa học – kỹ thuật cho nên ngành khai khoáng Việt Nam chỉ mới dừng lại ở

việc khai thác, việc tinh chế, chế biến về cơ bản chưa làm được. Cũng vì thế

mà các hoạt động khai thác hiện nay chủ yếu là dựa vào phương pháp thủ

công nên nên đa số các mỏ nhỏ hiện nay chỉ lấy được những phần giàu nhất,

bỏ đi toàn bộ các quặng nghèo và khống sản đi cùng, dẫn đến khơng thể khai

thác tối đa nguồn tài nguyên. Tổn thất trong chế biến khoáng sản hiện cũng

rất cao, khiến hiệu quả trong ngành khoáng sản Việt Nam vẫn đang ở mức

thấp. Cụ thể, sản phẩm ngành than mới chỉ qua công đoạn tuyển, sàng phân

loại để tiêu thụ hoặc xuất khẩu và chế biến thơ làm than tổ ong, quả bàng...

chưa có chế biến sâu thành những sản phẩm có giá trị kinh tế cao như khí hóa

than, hóa lỏng than, chế biến than antraxit phục vụ luyện kim. Còn đối với sa

khoáng titan, sản phẩm qua sơ chế cao nhất là xỉ titan, nhưng cũng mới là

nguyên liệu chuyển tiếp để chế biến nguyên liệu sâu hơn. Trong khi đó, nếu

chế biến sâu thì nguồn tài ngun này có giá trị gấp từ 10 đến 80 lần.

Số lượng các công ty thuộc ngành khoáng sản niêm yết trên thị trường

chứng khoán Việt Nam tính đến thời điểm ngày 31/12/2013 là 16 doanh

nghiệp, trong đó có 16 doanh nghiệp niêm yết với thời gian trước năm 2009.

Do vậy nguồn số liệu để nghiên cứu trong đề tài sử dụng trên 17 doanh

nghiệp với các mã chứng khoán: BKC; BMC; CTM; DHA; KSH; LBM;

MDC; MIC; MMC; NBC; NNC; TC6; TCT; TDN; TVD; THT; YBC.

Ngồi ra, với đặc thù khai thác các loại khống sản quốc gia nên các

doanh nghiệp trong ngành này ngoài việc phải chịu sự điều tiết của các luật

thuế như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng... thì còn có thuế tài

ngun, thuế xuất nhập khẩu, luật quản lý đất đai, thuế bảo vệ mơi trường....

Chính vì vậy, sự thay đổi về các chính sách pháp luật liên quan của nhà nước



39



được xem là một trong các yếu tố có thể gây rủi ro cho các doanh nghiệp

thuộc ngành này.

3.1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh của ngành khống sản qua

các năm

Do tính chất và mục đích sử dụng của từng nhóm khống sản, đối với

một số loại khống sản quan trọng và có tiềm năng lớn, Chính phủ Việt Nam

giao cho một số doanh nghiệp Nhà nước đảm nhận vai trò nòng cốt, cụ thể

như sau:

- Khai thác và chế biến than và các khoáng sản khác giao cho Tập đồn

Cơng nghiệp Than - Khống sản Việt Nam (Vinacomin).

- Khai thác và chế biến khoáng sản hố chất (apatit) chủ yếu giao cho

Tập đồn Hố chất Việt Nam.

- Khai thác, chế biến quặng sắt chủ yếu do Tổng cơng ty Thép Việt Nam,

Tập đồn Vinacomin thực hiện.

- Khai thác, chế biến vật liệu xây dựng chủ yếu giao cho Tổng công ty

Xi măng VN và các doanh nghiệp ngành xây dựng, giao thông vận tải thực

hiện (ngành khống sản VLXD do Bộ Xây dựng quản lý).

Ngồi ra, tham gia khai thác, chế biến các điểm mỏ khống sản quy mơ

nhỏ ở các địa phương có rất nhiều các doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần

hoạt động tùy thuộc vào đặc tính của các doanh nghiệp trong ngành khống

sản cũng như quy mơ vốn, cơ cấu sản phẩm dịch vụ của chính doanh nghiệp

đó. Chẳng hạn như:

Khai thác, chế biến xỉ Titan, sản xuất các sản phẩm hậu Titan thì phải kể

đến Cơng ty CP Khống sản Bình Định (Mã Chứng khốn: BMC) - Một

doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực khai thác sa khống.

Cơng ty CP Khống sản Sài Gòn – Quy Nhơn (Mã Chứng khốn: SQC)

là doanh nghiệp có quy mơ lớn nhất ngành.

Cơng ty CP Cơ khí và Khống sản Hà Giang (Mã Chứng khoán: HGM)

là đơn vị duy nhất ở Việt Nam đang khai thác và xuất khẩu Antimony – một

loại Á kim quý hiếm - ở quy mô công nghiệp.



40



Công ty CP Khoáng sản Mangan (Mã Chứng khoán: MMC) là một trong

số ít doanh nghiệp khai thác, chế biến quặng mangan có quy mơ sản xuất lớn.

Trong thời gian qua, các hoạt động đầu tư và khai thác, chế biến khoáng

sản có sự tăng trưởng khá, khơng ngừng phát triển về quy mô và số lượng, với

sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế vào hoạt động khai thác, chế biến

khoáng sản. Các dự án khai thác, chế biến khoáng sản đi vào hoạt động đã có

những đóng góp nhất định cho sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần chuyển

dịch cơ cấu kinh tế của nước ta theo hướng nâng dân tỷ trọng sản xuất công

nghiệp.

Bảng 3.1: Sản phẩm khai thác chủ yếu của ngành khoáng sản



Sản phẩm

ĐVT

Than sạch

Nghìn tấn

Dầu thơ khai thác

Nghìn tấn

Khí tự nhiên ở dạng

Triệu m3

khí (Nhà nước)

Quặng sắt và tinh

Nghìn tấn

quặng sắt

Quặng đồng và tinh

Tấn

quặng đồng

Quặng Titan và tinh

Nghìn tấn

quặng Titan

Quặng antimoan và

Tấn

tinh quặng antimoan

Đá khai thác

Nghìn m3

Cát các loại

Nghìn m3

Sỏi, đá cuội

Nghìn m3

Quặng apatít

Nghìn tấn



2009

44078

16360



2010

44835

15014



2011

46611

15185



2012

42383

16739



8010



9402



8480



9403



1904,5



1972,1



2371,3



1523,1



51741



49038



47552



45065



631,3



586,8



760



952,1



664



608



714



755



136897

146857

155549 135701

67004

60161

55051 48649

3157

2883,6

2831,6 2981,7

2047,4

2324,5

2395,3 2364,5

(Nguồn: http://www.gso.gov.vn)



Nhu cầu khống sản cả ở thị trường trong và ngoài nước hiện nay vẫn

đang khá lớn. Do đó, triển vọng dài hạn của nhóm ngành khống sản vẫn

được kỳ vọng khá nhiều. Tuy nhiên, những chính sách hiện nay của Chính



41



phủ đã hạn chế việc khai thác thơ các loại khống sản và qua đó khiến cho

hoạt động khai thác của các doanh nghiệp trong ngành gặp nhiều khó khăn.

Thêm vào đó, nền kinh tế thế giới và Việt Nam vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi

mạnh mẽ sẽ tiếp tục khiến cho giá các loại khống sản duy trì ở mức thấp và

qua đó khó có thể cải thiện được kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

Bên cạnh đó, khống sản là nguồn nguyên vật liệu đầu vào của rất nhiều

ngành cơng nghiệp quan trọng nên tình hình suy thối ở châu Âu, tăng trưởng

chậm ở Mỹ và Trung quốc trong năm những năm gần đây nên nhu cầu khoáng

sản sụt giảm dẫn đến giá cả có sự biến động mạnh. Ngành khống sản đã có

kết quả hoạt động kinh doanh khơng thuận lợi và phân hóa mạnh về kết quả

kinh doanh. Những doanh nghiệp lớn, có mỏ quy mơ lớn và nhà máy chế biến

sâu như HGM, SQC, BMC vẫn duy trì được lợi nhuận khá tốt. Trong khi đó,

các doanh nghiệp khác hầu hết đều có quy mơ nhỏ và chủ yếu vẫn là khai thác

thô nên gặp khá nhiều khó khăn trong những năm gần đây, nhiều doanh

nghiệp bị lỗ như: MIC, MIM, MMC,…



Biểu đồ 3.1: Giá trị xuất nhập khẩu ngành khoáng sản qua các năm

(ĐVT: 1.000.000 USD)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.2: Danh sách 16 công ty nghiên cứu thuộc ngành khoáng Sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×