Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY NGÀNH KHOÁNG SẢN NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY NGÀNH KHOÁNG SẢN NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

37



phát triển nền kinh tế đặc biệt là phát triển ngành cơng nghiệp nặng càng có

nhiều ưu thế để phát triển.

Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng về khoáng sản với hơn

5000 điểm mỏ thuộc 60 loại khoáng sản được phát hiện và khai thác, tiềm

năng khoáng sản Việt Nam được đánh giá là tương đối đa dạng. Nếu tách

riêng than và dầu khí, các doanh nghiệp khoáng sản đang niêm yết hiện nay

chủ yếu khai thác các loại quặng kim loại (sắt, titan, mangan, vàng, kẽm,

đồng, antimony) và các khoáng sản phi kim - vật liệu xây dựng (VLXD) (đá,

cát, sỏi, cao lanh, thạch anh).

Đầu ra của ngành khống sản chính là những ngun vật liệu đầu vào

thiết yếu cho các ngành công nghiệp sản xuất, chế tạo và xây dựng. Do vậy,

chu kì phát triển của ngành gắn liền với chu kì phát triển chung của nền kinh

tế. Điều này lý giải phần nào về sự ảnh hưởng của tốc độ tăng trưởng kinh tế

đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngành khoáng sản sẽ được nghiên cứu

tiếp theo ở phần sau.

Nhu cầu và giá bán nhiều loại khoáng sản được quyết định bởi thị trường

thế giới. Các sản phẩm chủ yếu của ngành khống sản Việt Nam là dầu thơ,

kẽm, chì, titan, antimony, mangan… Các sản phẩm này được bán và xuất

khẩu dưới dạng thô. Khâu tinh chế hầu như bị bỏ ngỏ do năng lực và thiết bị

của các doanh nghiệp trong nước còn nhiều hạn chế. Trong khi đó, Việt Nam

lại nhập khẩu rất mạnh quặng sau tinh chế.

Ngành khai khống đòi hỏi dây chuyền thiết bị có khoa học công nghệ

cao từ khâu khai thác cho tới khâu chế biến mới đảm bảo được yêu cầu khai

thác cũng như chất lượng của sản phẩm trong ngành. Như vậy việc đầu tư

mua sắm thiết bị (TSCĐ) là khâu quan trọng có vai trò quyết định đến hiệu

quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành này. Tuy nhiên, với đặc điểm vốn

ít và ngành cơng nghiệp nặng của quốc gia chưa phát triển mà hầu hết các

thiết bị này đều phải nhập khẩu từ bên ngoài với giá cả rất cao. Tiềm năng để



38



phát triển ngành rất lớn với số lượng các loại khoáng sản rất đa dạng và

phong phú như hiện nay. Song vì những hạn chế của việc phát triển yếu tố

khoa học – kỹ thuật cho nên ngành khai khoáng Việt Nam chỉ mới dừng lại ở

việc khai thác, việc tinh chế, chế biến về cơ bản chưa làm được. Cũng vì thế

mà các hoạt động khai thác hiện nay chủ yếu là dựa vào phương pháp thủ

công nên nên đa số các mỏ nhỏ hiện nay chỉ lấy được những phần giàu nhất,

bỏ đi toàn bộ các quặng nghèo và khống sản đi cùng, dẫn đến khơng thể khai

thác tối đa nguồn tài nguyên. Tổn thất trong chế biến khoáng sản hiện cũng

rất cao, khiến hiệu quả trong ngành khoáng sản Việt Nam vẫn đang ở mức

thấp. Cụ thể, sản phẩm ngành than mới chỉ qua công đoạn tuyển, sàng phân

loại để tiêu thụ hoặc xuất khẩu và chế biến thô làm than tổ ong, quả bàng...

chưa có chế biến sâu thành những sản phẩm có giá trị kinh tế cao như khí hóa

than, hóa lỏng than, chế biến than antraxit phục vụ luyện kim. Còn đối với sa

khoáng titan, sản phẩm qua sơ chế cao nhất là xỉ titan, nhưng cũng mới là

nguyên liệu chuyển tiếp để chế biến nguyên liệu sâu hơn. Trong khi đó, nếu

chế biến sâu thì nguồn tài ngun này có giá trị gấp từ 10 đến 80 lần.

Số lượng các công ty thuộc ngành khoáng sản niêm yết trên thị trường

chứng khốn Việt Nam tính đến thời điểm ngày 31/12/2013 là 16 doanh

nghiệp, trong đó có 16 doanh nghiệp niêm yết với thời gian trước năm 2009.

Do vậy nguồn số liệu để nghiên cứu trong đề tài sử dụng trên 17 doanh

nghiệp với các mã chứng khoán: BKC; BMC; CTM; DHA; KSH; LBM;

MDC; MIC; MMC; NBC; NNC; TC6; TCT; TDN; TVD; THT; YBC.

Ngoài ra, với đặc thù khai thác các loại khoáng sản quốc gia nên các

doanh nghiệp trong ngành này ngoài việc phải chịu sự điều tiết của các luật

thuế như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng... thì còn có thuế tài

ngun, thuế xuất nhập khẩu, luật quản lý đất đai, thuế bảo vệ mơi trường....

Chính vì vậy, sự thay đổi về các chính sách pháp luật liên quan của nhà nước



39



được xem là một trong các yếu tố có thể gây rủi ro cho các doanh nghiệp

thuộc ngành này.

3.1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh của ngành khống sản qua

các năm

Do tính chất và mục đích sử dụng của từng nhóm khống sản, đối với

một số loại khống sản quan trọng và có tiềm năng lớn, Chính phủ Việt Nam

giao cho một số doanh nghiệp Nhà nước đảm nhận vai trò nòng cốt, cụ thể

như sau:

- Khai thác và chế biến than và các khoáng sản khác giao cho Tập đồn

Cơng nghiệp Than - Khống sản Việt Nam (Vinacomin).

- Khai thác và chế biến khoáng sản hố chất (apatit) chủ yếu giao cho

Tập đồn Hố chất Việt Nam.

- Khai thác, chế biến quặng sắt chủ yếu do Tổng cơng ty Thép Việt Nam,

Tập đồn Vinacomin thực hiện.

- Khai thác, chế biến vật liệu xây dựng chủ yếu giao cho Tổng công ty

Xi măng VN và các doanh nghiệp ngành xây dựng, giao thông vận tải thực

hiện (ngành khoáng sản VLXD do Bộ Xây dựng quản lý).

Ngoài ra, tham gia khai thác, chế biến các điểm mỏ khống sản quy mơ

nhỏ ở các địa phương có rất nhiều các doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần

hoạt động tùy thuộc vào đặc tính của các doanh nghiệp trong ngành khống

sản cũng như quy mơ vốn, cơ cấu sản phẩm dịch vụ của chính doanh nghiệp

đó. Chẳng hạn như:

Khai thác, chế biến xỉ Titan, sản xuất các sản phẩm hậu Titan thì phải kể

đến Cơng ty CP Khống sản Bình Định (Mã Chứng khốn: BMC) - Một

doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực khai thác sa khống.

Cơng ty CP Khống sản Sài Gòn – Quy Nhơn (Mã Chứng khốn: SQC)

là doanh nghiệp có quy mơ lớn nhất ngành.

Cơng ty CP Cơ khí và Khống sản Hà Giang (Mã Chứng khoán: HGM)

là đơn vị duy nhất ở Việt Nam đang khai thác và xuất khẩu Antimony – một

loại Á kim quý hiếm - ở quy mô công nghiệp.



40



Công ty CP Khoáng sản Mangan (Mã Chứng khoán: MMC) là một trong

số ít doanh nghiệp khai thác, chế biến quặng mangan có quy mơ sản xuất lớn.

Trong thời gian qua, các hoạt động đầu tư và khai thác, chế biến khống

sản có sự tăng trưởng khá, khơng ngừng phát triển về quy mô và số lượng, với

sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế vào hoạt động khai thác, chế biến

khoáng sản. Các dự án khai thác, chế biến khống sản đi vào hoạt động đã có

những đóng góp nhất định cho sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần chuyển

dịch cơ cấu kinh tế của nước ta theo hướng nâng dân tỷ trọng sản xuất công

nghiệp.

Bảng 3.1: Sản phẩm khai thác chủ yếu của ngành khoáng sản



Sản phẩm

ĐVT

Than sạch

Nghìn tấn

Dầu thơ khai thác

Nghìn tấn

Khí tự nhiên ở dạng

Triệu m3

khí (Nhà nước)

Quặng sắt và tinh

Nghìn tấn

quặng sắt

Quặng đồng và tinh

Tấn

quặng đồng

Quặng Titan và tinh

Nghìn tấn

quặng Titan

Quặng antimoan và

Tấn

tinh quặng antimoan

Đá khai thác

Nghìn m3

Cát các loại

Nghìn m3

Sỏi, đá cuội

Nghìn m3

Quặng apatít

Nghìn tấn



2009

44078

16360



2010

44835

15014



2011

46611

15185



2012

42383

16739



8010



9402



8480



9403



1904,5



1972,1



2371,3



1523,1



51741



49038



47552



45065



631,3



586,8



760



952,1



664



608



714



755



136897

146857

155549 135701

67004

60161

55051 48649

3157

2883,6

2831,6 2981,7

2047,4

2324,5

2395,3 2364,5

(Nguồn: http://www.gso.gov.vn)



Nhu cầu khống sản cả ở thị trường trong và ngồi nước hiện nay vẫn

đang khá lớn. Do đó, triển vọng dài hạn của nhóm ngành khống sản vẫn

được kỳ vọng khá nhiều. Tuy nhiên, những chính sách hiện nay của Chính



41



phủ đã hạn chế việc khai thác thơ các loại khống sản và qua đó khiến cho

hoạt động khai thác của các doanh nghiệp trong ngành gặp nhiều khó khăn.

Thêm vào đó, nền kinh tế thế giới và Việt Nam vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi

mạnh mẽ sẽ tiếp tục khiến cho giá các loại khống sản duy trì ở mức thấp và

qua đó khó có thể cải thiện được kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

Bên cạnh đó, khống sản là nguồn nguyên vật liệu đầu vào của rất nhiều

ngành cơng nghiệp quan trọng nên tình hình suy thối ở châu Âu, tăng trưởng

chậm ở Mỹ và Trung quốc trong năm những năm gần đây nên nhu cầu khoáng

sản sụt giảm dẫn đến giá cả có sự biến động mạnh. Ngành khống sản đã có

kết quả hoạt động kinh doanh khơng thuận lợi và phân hóa mạnh về kết quả

kinh doanh. Những doanh nghiệp lớn, có mỏ quy mơ lớn và nhà máy chế biến

sâu như HGM, SQC, BMC vẫn duy trì được lợi nhuận khá tốt. Trong khi đó,

các doanh nghiệp khác hầu hết đều có quy mơ nhỏ và chủ yếu vẫn là khai thác

thô nên gặp khá nhiều khó khăn trong những năm gần đây, nhiều doanh

nghiệp bị lỗ như: MIC, MIM, MMC,…



Biểu đồ 3.1: Giá trị xuất nhập khẩu ngành khoáng sản qua các năm

(ĐVT: 1.000.000 USD)



42



(Nguồn: http://www.gso.gov.vn)

Các sản phẩm khoáng sản sau khai thác, chế biến còn nghèo nàn, phần

lớn là dạng thơ, chất lượng thấp, giá trị thương mại không cao. Giá trị xuất

khẩu khơng đủ để nhập khẩu sản phẩm khống sản đã qua chế biến phục vụ

cho nền kinh tế và các ngành công nghiệp khác. Do ảnh hưởng của giá xuất

khẩu than giảm nên giá trị xuất khẩu than cũng giảm dần qua các năm. Giá trị

xuất khẩu than năm 2009 là 1,6 triệu USD nhưng chỉ còn 1,24 triệu USD năm

2012 và 921 triệu USD năm 2013. Mặc khác, trong các năm qua, Việt Nam

phải nhập khẩu 100% xăng dầu, do đó kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam sẽ

tăng. Chính vì vậy Chính phủ Việt Nam phải dùng phần doanh thu từ xuất

khẩu dầu thô để bù đắp cho lượng tăng lên trong giá nhập khẩu. Trung Quốc,

Hàn Quốc là thị trường xuất khẩu lớn của than đá và dầu thơ Việt Nam.

Nhu cầu khống sản cả ở thị trường trong và ngoài nước hiện nay vẫn

đang khá lớn. Do đó, triển vọng dài hạn của nhóm ngành khoáng sản vẫn

được kỳ vọng khá nhiều. Tuy nhiên, những chính sách hiện nay của Chính



43



phủ đã hạn chế việc khai thác thơ các loại khống sản và qua đó khiến cho

hoạt động khai thác của các doanh nghiệp trong ngành gặp nhiều khó khăn.

Thêm vào đó, nền kinh tế thế giới và Việt Nam vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi

mạnh mẽ sẽ tiếp tục khiến cho giá các loại khống sản duy trì ở mức thấp và

qua đó khó có thể cải thiện được kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.

3.2. THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH

KHOÁNG SẢN VIỆT NAM

3.2.1. Thực trạng chung về hiệu quả hoạt động doanh nghiệp

a. Tỷ suất sinh lời tài sản (ROA)

Thực trạng hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp ngành khoáng sản

niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam qua chỉ tiêu tỷ suất sinh lời tài

sản trong giai đoạn 2009 - 2013 được phản ánh qua biểu đồ sau:

Biểu đồ 3.2: Tỷ suất sinh lời tài sản bình qn của các doanh nghiệp

ngành khống sản giai đoạn 2009 – 2013



Giá trị trung bình Giá trị thấp nhất Giá trị cao nhất

12,87 %

-2,28%

58,83%



Độ lệch chuẩn mẫu

20,27%



44



Nhận xét: Qua biểu đồ 3.1 và bảng số liệu đã tổng hợp cho thấy tỷ suất

sinh lời tài sản bình quân (ROA) là 12,87 %/năm, chỉ với ba doanh nghiệp

vượt ngưỡng bình quân là: BMC, DHA, NNC, TCS, đặc biệt là doanh nghiệp

với mã chứng khốn CTS (cơng ty cổ phần Than Cao Sơn) với ROA đạt bình

quân 58,83 %/năm giai đoạn từ 2009 – 2013. Trong mười ba doanh nghiệp

còn lại có tỷ suất sinh lời tài sản thấp hơn so với mức trung bình của ngành,

thậm chí có tới bốn doanh nghiệp có giá trị âm về chỉ số này như: BKC (1,69%), MIC (-0,4%), MMC (-0,95%), và thấp nhất là YBC (-2,28%).

Từ kết quả tính tốn cho thấy bình quân với một 100 đồng vốn đầu tư

vào tài sản của các doanh nghiệp ngành Khống Sản thì tạo ra 12,87 đồng lợi

nhuận trước thuế. Con số này cho thấy mức sinh lời tài sản bình quân của các

doanh nghiệp khoáng sản là khá cao trong điều kiện mấy năm gần đây do sự

giảm sút kinh tế toàn cầu, sự thay đổi các chính sách pháp luật... đã gây ra

nhiều khó khăn cho ngành này. Thêm vào đó có thể thấy rằng sự chênh lệch

về giá trị của chỉ tiêu này giữa các doanh nghiệp trong ngành là khá lớn, với

độ lệch chuẩn mẫu nghiên cứu tới 20,27%. Điều này cũng lí giải vì sao chỉ có

ba doanh nghiệp vượt mức trung bình còn mười ba doanh nghiệp còn lại thấp

hơn so với trung bình ngành. Điều này đòi hỏi việc tìm ra các chính sách liên

quan phù hợp với đặc điểm riêng của doanh nghiệp thuộc ngành nhằm nâng

cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp là vô cùng quan trọng.

b. Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE)

Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu là một trong các chỉ tiêu cơ bản để phản

ánh khả năng sinh lời nói chung và hiệu quả tài chính trong doanh nghiệp nói

riêng. Đây là chỉ tiêu mà nhà đầu tư quan tâm nhất nó bởi liên quan đến lợi

ích mà nhà đầu tư có được khi quyết định đầu tư vào doanh nghiệp. Sau đây

là biểu đồ 2.6 thể hiện giá trị trung bình của chỉ tiêu này của các doanh nghiệp

ngành khoáng sản giai đoạn từ 2009-2013.

Biểu đồ 3.3: Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu bình quân của các doanh



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY NGÀNH KHOÁNG SẢN NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×