Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC NGHIỆM VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC NGHIỆM VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

7



Đầu ra

Đầu vào

Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp thường được xem xét trên hai góc độ

Hiệu quả hoạt động =



là hiệu quả hoạt động kinh doanh và hiệu quả hoạt động tài chính.

1.1.2. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động doanh nghiệp

Có nhiều chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, tác giả

lựa chọn hai chỉ tiêu cơ bản là: Tỷ suất sinh lời tài sản (ROA) và tỷ suất sinh

lời vốn chủ sở hữu (ROE) để nghiên cứu về hiệu quả hoạt động trong doanh

nghiệp. Sở dĩ tác giả lựa chọn hai chỉ tiêu này là bởi vì: sự quan tâm của nhà

quản lý, chủ đầu tư, khách hàng, đối tác...tới doanh nghiệp xét cho cùng đó là

chỉ tiêu lợi nhuận. Lợi nhuận là chỉ tiêu cuối cùng phản ánh kết quả hoạt động

kinh doanh trong doanh nghiệp. Chỉ tiêu lợi nhuận là chỉ tiêu số tuyệt đối

khơng có ý nghĩa nhiều trong cơng tác phân tích, so sánh, thống kê. Do vậy,

lựa chọn các chỉ tiêu tỷ suất liên quan đến lợi nhuận như: ROA, ROE, ROS sẽ

có ý nghĩa so sánh hiệu quả hoạt động giữa các chủ thể khác nhau về thời

gian, khơng gian.... Điều này hồn tồn đúng với các nghiên cứu trước đây,

Theo thống kê của P.G. Liargovas và K.S. Skandalis (2010) về các nghiên

cứu trước đây trong việc sử dụng các chỉ tiêu để đo lường hiệu quả hoạt động

trong số 14 nghiên cứu về hiệu quả hoạt động thì có tới 13 nghiên cứu sử

dụng các chỉ số liên quan đến khả năng sinh lời. Trong các chỉ tiêu phản ánh

khả năng sinh lời trên để có thể phản ánh một cách toàn diện về khả năng tạo

ra lợi nhuận từ tài sản hay từ nguồn vốn doanh nghiệp thì nổi trội hơn đó là

hai chỉ tiêu được lựa chọn là ROA và ROE. Hai chỉ tiêu này có thể phản ánh

tổng quan kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp về hiệu

quả sản xuất kinh doanh (ROA) và hiệu quả tài chính (ROE).

Tỷ suất sinh lời tài sản (ROA)

Tỷ suất sinh lời tài sản (ROA) được xác định như sau:

Chỉ tiêu này phản ánh cứ 100 đồng đầu tư vào tài sản thì mang lại bao nhiêu

Lợi nhuận trước thuế (sau thuế)

đồng lợiROE

nhuận

x 100%

= trước thuế (sau thuế ).

Tổng tài sản bình quân



8



Tỷ suất sinh lời tài sản có thể được viết lại theo phương trình Dupont như sau:

Hay

ROA =



Lợi nhuận trước

thuế (sau thuế)



x



Doanh thu thuần



x



x 100%

Tổng

TS

Doanh thu thuần

bình

suất lợi nhuận trên doanh

thuquân

x Hiệu suất sử dụng tài sản

ROA

= Tỷ trình

Từ

phương

trên cho thấy tỷ suất sinh lời tài sản có mối quan hệ với

tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần và hiệu suất sử dụng tài sản; phát hiện

sự khác biệt giữa các doanh nghiệp về định giá bán và quản trị tài sản. Tuy

nhiên chỉ tiêu ROA chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả kinh doanh vì lợi nhuận

còn chịu tác động bởi chính sách tài trợ.

Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE)

Hiệu quả tài chính là chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời đồng vốn chủ

sở hữu doanh nghiệp. Đó là mối quan tâm của chủ sở hữu của bất kỳ doanh

nghiệp nào và sự tăng trưởng của nó qua thời gian là tiêu chí được hưởng đến

cuối cùng của nhà đầu tư.

Chỉ tiêu này được xác định như sau:

Lợi nhuận sau thuế

x 100%

ROE =

Chỉ tiêu Vốn

ROEchủ

phản

sở ánh

hữu một

bìnhtrăm

quânđồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu

đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng cao thể hiện hiệu quả tài chính của

doanh nghiệp là càng lớn.

Tiếp cận theo quan điểm của Bied – Charreton (1920) dưới dạng khai

triển phương trình Du-pont về các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời vốn

chủ sở hữu như sau:

Lợi nhuận

Doanh thu

Tổng TS

x

trước

thuế

thuần

bình

quân

x

ROE =

x

x 100%

Doanh thu

Tổng TS

Vốn CSH

thuần

bình quân

bình quân

Hay:

Lợi nhuận

Doanh thu

x

1

trước

thuế

thuần

x

ROE =

x

x 100%

Doanh thu

Tỷ suất tự

Tổng TS

thuần

tài trợ

bình quân



9



Từ phương trình Dupont cho thấy mối liên hệ giữa tỷ suất sinh lời vốn

chủ sở hữu (ROE) với tỷ suất sinh lời doanh thu và hiệu suất quản lý tài sản.

Hay ROE và hiệu quả hoạt động kinh doanh có mối quan hệ với nhau. Ngồi

ra, phương trình trên còn cho thấy mối quan hệ giữa hiệu quả tài chính với

chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp và cấu trúc tài chính của doanh

nghiệp.

1.2. CƠ SỞ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ HIỆU QUẢ HOẠT

ĐỘNG DOANH NGHIỆP

Như đã trình bày ở trên, hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp thường

được xem xét trên hai góc độ là: hiệu quả hoạt động kinh doanh và hiệu quả

hoạt động tài chính. Hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp là một phạm trù

rộng lớn và phức tạp cho nên số lượng nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến

hiệu quả hoạt động kể cả ngoài nước cũng như trong nước mặc dù khá nhiều

song kết quả mang lại đồng nhất là không nhiều. Cũng vì tính chất phức tạp

của nó mà hầu hết các nghiên cứu chỉ xem xét đến một trong hai mảng là

nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh

hoặc là hiệu quả hoạt động tài chính trong doanh nghiệp.

1.2.1. Các nghiên cứu trên thế giới

Nghiên cứu của R. Zeitun & G. G. Tian (2007) về tác động của các nhân

tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công ty, với quy mô nghiên cứu là

167 công ty ở Jordan trong khoảng thời gian từ năm 1989 đến năm 2003.

Bằng phương pháp hồi quy theo mơ hình OLS, nghiên cứu cho thấy kết quả

rủi ro, cấu trúc tài sản có mối quan hệ nghịch chiều tới ROA. Ngược lại quy

mô doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp có mối quan hệ ảnh

hưởng thuận chiều tới ROA. Nhân tố khả năng thanh tốn khơng có ý nghĩa

thống kê tới mơ hình các nhân tố ảnh hưởng đến ROA của các doanh nghiệp.



10



Nghiên cứu của Daniel Cỵrciumaru, Marian Siminică, Nicu Marcu

(2008) thuộc khoa kinh tế và quản trị kinh doanh của đại học Craiova –

Romania về hiệu quả tài chính của 73 doanh nghiệp trong ngành công nghiệp

của Romania. Tiếp cận các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận trên vốn

chủ sở hữu theo quan điểm của Bied – Charreton về khai triển ROE theo

phương trình Du-Pont, các tác giả đã nghiên cứu ảnh hưởng của ba nhân tố là:

tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (lợi nhuận/doanh thu), hiệu suất sử dụng tài

sản (doanh thu/tổng tài sản) và nhân tố đòn bẩy tài chính đến tỷ suất sinh lời

vốn chủ sở hữu ROE. Kết quả nghiên cứu trên 73 doanh nghiệp trong năm

2008 đã chỉ ra rằng: cả ba nhân tố này đều có ảnh hưởng thuận chiều đến tỷ

suất sinh lời vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, trong ba nhân tố ảnh hưởng này thì

đòn bẩy tài chính là nhân tố có ảnh hưởng nhưng khơng đáng kể đến biến độc

lập (tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu).

Một nghiên cứu khác của Camelia Burja (2011) về các nhân tố ảnh

hưởng đến tỷ suất sinh lời của một doanh nghiệp trong ngành hóa chất

Rumani sử dụng mơ hình phân tích hồi quy bội với biến độc lập của nghiên

cứu là tỷ suất sinh lời tài sản (ROA). Dữ liệu được thu nhập từ báo cáo tài

chính hằng năm của công ty này với khoảng thời gian 1999-2009. Kết quả

nghiên cứu của Camelia Burja chỉ ra sự ảnh hưởng của cấu trúc tài chính (tỷ

suất nợ và đòn bẩy tài chính), số vòng quay hàng tồn kho, số vòng quay nợ

phải thu, tỷ lệ tài sản cố định và tỷ suất chi phí bán hàng và quản lý doanh

nghiệp tới ROA của doanh nghiệp này. Mà từ đó, tác giả đưa ra kiến nghị

doanh nghiệp nên chú trọng đầu tư vào cơ sở hạ tầng và kỹ thuật (tài sản cố

định), cố gắng tiết kiệm nhằm cắt giảm tối thiểu các khoản chi phí bán hàng

và quản lý doanh nghiệp. Nghiên cứu cũng chỉ ra mối quan hệ cùng chiều

giữa cấu trúc tài chính, tỷ trọng TSCĐ, số vòng quay hàng tồn kho và nợ phải

thu với tỷ suất sinh lời tài sản cố định (ROA).



11



Tiêu biểu nhất trong các nghiên cứu phải kể đến là nghiên cứu thực

nghiệm của Amdemikael Abera (2012) về các nhân tố ảnh hưởng đến khả

năng sinh lời của các doanh nghiệp trên địa bàn Addis Ababa - Ethiopia, trong

đó tác giả có nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời tài sản

(ROA). Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng nhân tố tỷ trọng tài sản cố định, tỷ suất

sinh lời doanh thu (lợi nhuận trước thuế/doanh thu) và nhân tố quy mơ của

doanh nghiệp là các nhân tố có ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời tài sản của

doanh nghiệp với mối quan hệ thuận chiều. Ba nhân tố tỷ suất chi phí bán

hàng và quản lý doanh nghiệp và tỷ suất nợ là hai chỉ tiêu tác động nghịch

chiều tới ROA. Đặc biệt, trong phần nghiên cứu của mình, tác giả còn xem

xét sự ảnh hưởng của 3 nhân tố vĩ mơ (nhân tố bên ngồi) vào mơ hình nghiên

cứu là tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP), lạm phát và lãi suất. Kết quả nghiên

cứu cho thấy yếu tố tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) và lạm phát có tác động

thuận chiều với tỷ suất sinh lời tài sản ROA, còn yếu tố lãi suất lại hồn tồn

khơng hề ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trên địa

bàn. Đây là nghiên cứu khá mới về mặt thời gian lẫn nội dung, bởi trong

nghiên cứu đã xem xét sự tác động tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố ảnh

hưởng đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp bao gồm cả các nhân tố

bên trong doanh nghiệp cũng như tác động của các nhân tố vĩ mô.

Nghiên cứu của Sara Kanwal và Muhamad Nadeem (2013) về hiệu quả

hoạt động được đo lường bằng hiệu quả tài chính (ROE) của 22 doanh nghiệp

ngành xây dựng ở Pakistan trong khoảng thời gian từ 2007-2011. Bằng

phương pháp xây dựng mơ hình hồi quy bội với biến độc lập là ROE và 7

nhân tố có khả năng ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính là: Quy mơ, tốc độ tăng

trưởng doanh nghiệp, cấu trúc tài sản, cấu trúc vốn(tỷ suất nợ/vốn chủ sở

hữu), khả năng thanh toán hiện hành, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) và lạm

phát . Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng trong bảy nhân tố trên có 4 nhân tố ảnh



12



hưởng đến ROE là: Quy mô, cấu trúc vốn, cấu trúc tài sản và lạm phát. Trong

đó nhân tố quy mơ, cấu trúc vốn, cấu trúc tài sản có mối quan hệ thuận chiều

tới ROE còn lạm phát có ảnh hưởng ngược chiều đến ROE. Ngược lại ba

nhân tố: tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp,

Nghiên cứu của Bashir và cộng sự (2013) về hiệu quả hoạt động về các

doanh nghiệp ngành dệt tại một số nước đang phát triển ở Châu Á về hiệu quả

hoạt động sản xuất kinh doanh (ROA) giai đoạn từ 2010-2012. Trong nghiên

cứu nhóm tác giả đưa ra 5 nhân tố cơ bản: quy mô doanh nghiệp (tổng tài

sản), số lượng lao động, cơ cấu tài sản (tỷ trọng tài sản cố định), tuổi doanh

nghiệp và số vòng quay vốn lưu động. Bằng phương pháp xây dựng mô hình

hồi quy bội, kết quả nghiên cứu cho thấy: Số lượng lao động, cơ cấu tài sản

và số vòng quay vốn lưu động là ba nhân tố có mối quan hệ ảnh hưởng đến

ROA. Trong đó số vòng quay vốn lưu động có mối quan hệ thuận chiều tới

ROA, hai nhân tố cơ cấu tài sản và số lượng lao động có mối quan hệ ngược

chiều tới hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ngược lại nhân tố số lượng lao động

và tuổi doanh nghiệp là các nhân tố khơng có ý nghĩa thống kê tới hiệu quả

hoạt động doanh nghiệp.

Nghiên cứu của Wei Xu (2005) về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

được đo lường bằng tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE) với cơ cấu tài

chính của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng hiệu quả tài chính

(ROE) và tỷ lệ nợ có mối quan hệ cùng chiều và khi tỷ lệ nợ nằm trong

khoảng 24,52% tới 51,13 % thì ROE có mối quan hệ theo phương trình bậc

hai và bậc ba với tỷ lệ nợ. Ngược lại, trong nghiên cứu Dilip Ratha (2003)

trên 52 doanh nghiệp được lựa chọn từ các quốc gia đang phát triển, lại cho

thấy đòn bẩy tài chính tác động âm đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

ở các nước này.

Nghiên cứu của Almajal (2012) cũng chỉ ra rằng khả năng thanh tốn

hiện hành thực sự có ý nghĩa thống kê dương đối với hiệu quả tài chính của



13



25 công ty bảo hiểm niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Amman giai

đoạn 2002- 2007. Ngược lại với các ý kiến trên, Hvide và cộng sự (2007) dựa

trên một mơ hình lý thuyết của Evans và Jovanovic (1989),cho rằng một sự

phong phú trong thanh khoản có thể gây hại nhiều hơn là lợi đối với hiệu suất

kinh doanh, kết quả này cũng phù hợp với kết quả thực nghiệm của Majumdar

(1997).

1.2.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam

Ngoài các nghiên cứu ở nước ngồi có thể kể đến một số các nghiên cứu

khác tại Việt Nam về hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp như: nghiên cứu

hiệu quả hoạt động theo hướng xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả

tài chính của các doanh nghiệp thương mại trên địa bàn thành phố Đà Nẵng,

tác giả Trần Thị Hòa (2006) cũng đã chỉ ra rằng: tỷ suất sinh lời của tài sản

(ROA), tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu, khả năng sinh lời kinh tế của tài sản

(RE), Số vòng quay vốn lưu động là bốn nhân tố có mối tác động thuận chiều

tới hiệu quả tài chính (ROE) của các doanh nghiệp này.

Tiếp cận theo phương pháp khá đặc biệt – phương pháp phân tích đường

dẫn, một nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính và hiệu

quả tài chính của tác giả Đoàn Ngọc Phi Anh (2011) với phạm vi nghiên cứu

khá rộng là trên 428 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt

Nam với thời gian từ 2007-2009 cũng đã chỉ ra rằng: hiệu quả hoạt động kinh

doanh và cấu trúc tài chính có thể giải thích được 90% sự biến động của hiệu

quả tài chính trong doanh nghiệp. Nghiên cứu cũng chỉ rõ mối quan hệ theo

chiều thuận của hai nhân tố này tới ROE.

Cũng nghiên cứu về mảng các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh

doanh, một nghiên cứu có ý nghĩa khá quan trọng là nghiên cứu của Đinh

Công Thành, Phạm Lê Hồng Nhung và Huỳnh Thanh Tùng (2011) về hiệu

quả hoạt động kinh doanh của làng nghề dệt chiếu Định Yên - Đồng Tháp,

bằng phương pháp xây dựng mơ hình hồi quy tuyến tính bội theo phương



14



pháp OLS cũng đã chỉ có sự phân biệt về hiệu quả kinh doanh của các hộ gia

đình đạt được nếu có sự khác biệt về quy mơ kinh doanh và tiềm lực về kinh

tế. Nói cách khác, kết quả nghiên cho thấy nhân tố quy mô và nhân tố giá trị

tài sản cố định (đại diện cho vốn cố định) là hai nhân tố ảnh hưởng nhiều nhất

đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và có tác động thuận chiều tới

việc tạo ra doanh thu và lợi nhuận. Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng về

việc chỉ ra sự ảnh hưởng của khả năng sinh lời nhờ quy mô cũng như việc áp

dụng các máy móc thiết bị nhằm gia tăng về mặt số lượng cũng như chất

lượng sản phẩm sản xuất được mà các hộ gia đình sản xuất cần nên quan tâm

và chú trọng tới.

Phát triển các nghiên cứu trước mới đây một nghiên cứu thực nghiệm

của Võ Đức Nghiêm (2013) về hiệu quả hoạt động của các công ty ngành

dược niêm yết trên thị trường chứng khoán đã chỉ ra rằng: tỷ suất nợ, số vòng

quay hàng tồn kho, số vòng quay nợ phải thu, tỷ trọng tài sản cố định, tỷ lệ

chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp trên doanh thu thuần và tỷ suất lợi

nhuận trên doanh thu là sáu nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh

doanh của ngành này. Bằng cách xây dựng mơ hình tuyến tính hồi quy bội

nghiên cứu và ước lượng theo phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS),

nghiên cứu đã chỉ ra rằng trong sáu nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt

động kinh doanh nêu trên thì có ba nhân tố là: tỷ suất lợi nhuận trên doanh

thu, tỷ trọng tài sản và số vòng quay nợ phải thu là ba nhân tố có tác động

thuận chiều. Đặc biệt, nhân tố tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu có ảnh hưởng

quan trọng nhất. Ba nhân tố còn lại là: tỷ suất nợ, tỷ lệ chi phí bán hàng và

quản lý doanh nghiệp và số vòng quay hàng tồn kho có mối quan hệ nghịch

chiều với ROA. Số liệu được thu thập của các công ty thuộc ngành dược trong

vòng bốn năm từ đầu năm 2008 đến hết năm 2011.

Tóm lại, Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy các nhân tố có

thể ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp là: quy mô doanh



15



nghiệp, cấu trúc tài sản trong doanh nghiệp, cấu trúc tài chính, khả năng thanh

toán, tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp, tỷ suất chi phí bán hàng và quản lý

doanh nghiệp, số vòng quay hàng tồn kho, số vòng quay vốn lưu động, tỷ suất

lợi nhuận trên doanh thu, lãi suất, lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Các

nghiên cứu thực nghiệm này là cơ sở để tác giả tiếp tục phát triển nghiên cứu.

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG

Trên cơ sở lý thuyết về hiệu quả hoạt động và các nghiên cứu thực

nghiệm ở trên thế giới và Việt Nam có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hiệu

quả hoạt động doanh nghiệp. Đề tài chia các nhân tố thành hai nhóm đó là

nhóm nhân tố thuộc về doanh nghiệp và nhóm nhân tố bên ngồi doanh

nghiệp. Nhóm các nhân tố thuộc về doanh nghiệp: quy mô doanh nghiệp, cơ

cấu tài sản, cấu trúc tài chính, khả năng thanh tốn, tốc độ tăng trưởng doanh

nghiệp và nhóm các nhân tố bên ngồi doanh nghiệp như: tốc độ tăng trưởng

GDP, lạm phát và lãi suất…

1.3.1. Các nhân tố thuộc về doanh nghiệp

a. Quy mô doanh nghiệp

Quy mơ doanh nghiệp có thể được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu khác nhau

như: doanh thu, tổng tài sản, vốn chủ sở hữu..... Theo lý thuyết kinh tế nổi

tiếng: “Lợi thế kinh tế nhờ quy mô – Economy of scale” cho rằng: Doanh

nghiệp có quy mơ càng lớn thì có cơ hội để tăng trưởng và kết quả kinh doanh

khả quan hơn. Quan điểm này được sự nhất trí của một số nhà kinh tế học

như: Serrasqueiro và Macas Nunes (2008); Mansfield (1962); Singh và

Whittington (1975). Bởi các công ty có quy mơ lớn sẽ có nhiều khả năng khai

thác quy mô kinh tế và hưởng lợi đàm phán tốt hơn đối với khách hàng và nhà

cung cấp của cơng ty. Ngồi ra, cơng ty phải đối mặt với ít khó khăn trong

việc việc tiếp cận nguồn vốn cho đầu tư, có một nguồn nhân lực có trình độ

lớn hơn, cũng như đạt được đa dạng hóa chiến lược nhiều hơn (Yang và Chen



16



2009). Các công ty này được hưởng lợi từ nguồn nhân lực dồi dào, giỏi

chuyên môn khiến năng suất cao hơn (Frankel và Romer 1999); hay đơn giản

khả năng tiếp cận và ứng dụng các bí quyết kỹ thuật, phương pháp sản xuất

mới nhanh hơn các cơng cùng ngành có ít tiềm lực hơn (Bos et al. 2010).

b. Cơ cấu tài sản

Cơ cấu tài sản được đo lường bằng tài sản cố định trên tổng tài sản. Một

số quan điểm và kết quả nghiên cứu trong nước chỉ ra rằng các doanh nghiệp

có tỷ trọng tài sản cố định cao thì cơ hội tiếp cận với các nguồn vốn dễ dàng

hơn, hiệu quả kinh doanh mang lại cũng cao hơn so với các doanh nghiệp có

tỷ trọng tài sản cố định thấp. Thêm vào đó, lợi ích từ lá chắn thuế từ khấu hao

tài sản cố định là điều kiện làm tăng hiệu quả tài chính trong doanh nghiệp.

Ngược lại, theo quan điểm của Notta và Vlachvei (2007),

Agiomirgiannakis và cộng sự (2006) hay Bashir và cộng sự (2013) cho rằng:

một tỷ lệ tài sản cố định cao, dự báo cho việc sử dụng vốn lưu động sẽ khơng

hiệu quả, bởi nó làm giảm nguồn vốn đầu tư vào hàng tồn kho, cũng như dự

trữ tiền mặt thấp. Điều này có thể khiến cơng ty khơng đáp ứng được nhu cầu

của sự gia tăng cho các sản phẩm hoặc dịch vụ khi thị trường đòi hỏi, ảnh

hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của công ty.

c. Cấu trúc tài chính

Cấu trúc tài chính doanh nghiệp được hiểu một cách chung nhất là quan

hệ tỷ lệ giữa toàn bộ nợ phải trả và vốn chủ sở hữu được tính toán từ bảng cân

đối kế toán của doanh nghiệp. Chỉ tiêu phản ánh cấu trúc tài chính được lựa

chọn nghiên cứu là tỷ suất nợ (bằng tổng nợ/tổng nguồn vốn) hoặc tỷ suất

nợ/vốn chủ sở hữu.

Việc xác định sự ảnh hưởng của cấu trúc tài chính tới hiệu quả hoạt động

của doanh nghiệp theo hướng thuận hay nghịch vẫn còn nhiều bàn cãi.

Theo lý thuyết trật tự phân hạng cho rằng các doanh nghiệp các doanh

nghiệp thích tài trợ nội bộ hơn là tài trợ bên ngoài. Thứ tự ưu tiên sẽ là: lợi



17



nhuận giữ lại, phát hành nợ mới, phát hành vốn cổ phần mới. Việc tài trợ bằng

các nguồn vốn bên ngồi có thể dẫn tới nguy cơ phải chịu các áp lực thanh

tốn các khoản chi phí về tiền lãi, sẽ làm sụt giảm lợi nhuận trước thuế của

doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của Amdemikael Abera

(2012) và Võ Đức Nghiêm (2013) cho kết quả tương tự về mối quan hệ ngược

chiều giữa tỷ suất nợ và ROA.

Tuy nhiên, lý thuyết M&M chỉ ra rằng việc sử dụng nợ trong cấu trúc tài

chính có thể làm tăng giá trị của doanh nghiệp, cụ thể là mang đến cho chủ sở

hữu tỷ suất sinh lợi cao hơn do tận dụng được tấm chắn thuế thu nhập doanh

nghiệp. Do đó, hiệu quả tài chính có mối tương quan thuận với cấu trúc vốn.

Nghiên cứu của Wei Xu (2005) cho thấy mối liên hệ vững chắc về hiệu quả

hoạt động của doanh nghiệp được đo lường bằng tỷ suất sinh lời vốn chủ sở

hữu (ROE) với cơ cấu tài chính của doanh nghiệp. Nghiên cứu của Trần Thị

Hòa (2006), Đoàn Ngọc Phi Anh (2011) mang lại kết quả tương tự.

d. Khả năng thanh toán

Trong nghiên cứu này, đề tài lựa chọn khả năng thanh toán hiện hành

(bằng tổng tài sản ngắn hạn/tổng nợ) để nghiên cứu mối quan hệ giữa khả

năng thanh toán và hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp.

Hiện nay có rất nhiều quan điểm trái chiều về sự ảnh hưởng của nhân tố

khả năng thanh toán tới hiệu quả doanh nghiệp.

Theo quan điểm của Opler và cộng sự (1999) hay Myers (1977) đều cho

rằng: tính thanh khoản cao sẽ cho phép doanh nghiệp có thể đối phó với

những tình huống bất ngờ cũng nhe nghĩa vụ trả nợ của mình và là dấu hiệu

chứng tỏ doanh nghiệp đang kinh doanh tốt hay nói cách khác tính thanh

khoản cao có mối quan hệ thuận chiều (+) tới hiệu quả hoạt động. Điều này

đúng với nghiên cứu thực nghiệm của Almajali (2012). Ngược lại, Hvide và

cộng sự (2007) cho rằng một sự phong phú trong thanh khoản có thể gây hại



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC NGHIỆM VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×