Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b. Giải thích kết quả hồi quy theo mô hình FEM

b. Giải thích kết quả hồi quy theo mô hình FEM

Tải bản đầy đủ - 0trang

73

số tương quan chỉ xem xét mối quan hệ tương quan của 2 biến, không xét đến

mối quan hệ với các yếu tố khác. Trong mơ hình hồi quy, biến DA được xem

xét trong mối liên hệ với các biến khác có trong mơ hình. Biến DA cùng chiều

với biến phụ thuộc SR có nghĩa là khi cơng ty điều chỉnh lợi nhuận theo

hướng gia tăng lợi nhuận thì tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu càng cao. Với kết

quả như vậy, có thể thấy nhà đầu tư dễ dàng bị đánh lừa bởi chỉ tiêu lợi nhuận

bị điều chỉnh. Việc gia tăng lợi nhuận sẽ đem đến cái nhìn lạc quan về triển

vọng của công ty, điều này làm tăng giá trị cổ phiếu, làm tăng tỷ suất sinh lợi

trên cổ phiếu. Như vậy giả thuyết H1: Quản trị lợi nhuận đo lường thơng qua

biến dồn tích có thể điều chỉnh DA có ảnh hưởng cùng chiều đến TSSL trên

cổ phiếu đã được chứng minh.

Cùng với biến dồn tích có thể điều chỉnh DA, biến dồn tích khơng thể

điều chỉnh NDA cũng có tương quan thuận chiều đến tỷ suất sinh lợi trên cổ

phiếu với hệ số là 5,4452 với mức ý nghĩa 5%. Điều này có nghĩa, một sự

tăng lên của NDA sẽ dẫn đến sự gia tăng tương ứng của TSSL trên cổ phiếu.

Biến dồn tích NDA cũng là một chỉ tiêu cấu thành nên Lợi nhuận trong mơ

hình đo lường biến dồn tích DA. Do đó, việc NDA ảnh hưởng cùng chiều đến

TSSL trên cổ phiếu là điều dễ hiểu.

Tương tự là biến NDA, Dòng tiền thuần từ HĐKD (CFO) như đã đề cập

ở trên cũng là một chỉ tiêu cấu thành nên lợi nhuận trong mơ hình đo lường

biến dồn tích DA. CFO cũng có quan hệ cùng chiều với TSSL trên cố phiếu.

Từ hai kết quả trên cho thấy bất cứ sự biến động về chỉ tiêu lợi nhuận đều ảnh

hưởng đến nhìn nhận của NĐT về cổ phiếu của doanh nghiệp. Nếu NDA hay

CFO tăng lên thì SR cũng gia tăng tương ứng.

Trong mơ hình nghiên cứu ở trên biến đồn tích có thể điều chỉnh DA,

biến dồn tích khơng thể điều chỉnh NDA và biến Dòng tiền từ hoạt động kinh

doanh CFO đều có ý nghĩa thống kê và đều ảnh hưởng cùng chiều đến TSSL



74

trên cổ phiếu.

Để nhận xét về so sánh mức độ ảnh hưởng của các biến trên lên TSSL

trên cổ phiếu, tác giả so sánh các hệ số ước lượng mơ hình. Hệ số ước lượng

mơ hình của biến DA là 3,9335, của biến NDA là 5,4452 và của biến CFO là

4,5613. Từ kết quả trên cho thấy, ảnh hưởng biến dồn tích có thể điều chỉnh

DA thấp hơn hai biến còn lại. Điều này có nghĩa rằng, biến dồn tích có thể

điều chỉnh ảnh hưởng đến nhìn nhận của NĐT, tuy nhiên ảnh hưởng chưa đến

mức nghiêm trọng, chưa thể đánh lừa hoàn toàn NĐT và thị trường vì biến

dồn tích NDA và CFO ảnh hưởng lớn hơn, đây là thành phần không thể điều

chỉnh, phản ảnh trung thực hoạt động của công ty. Như vậy giả thuyết H2:

Ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đo lường thơng qua biến dồn tích có thể

điều chỉnh DA là thấp hơn ảnh hưởng của biến dồn tích khơng điều chỉnh

NDA và dòng tiền từ HĐKD đến tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu của các cơng ty

niêm yết nhóm ngành chế biến lương thực thực phẩm đã được chứng minh.

Tuy nhiên, độ lớn của hệ số ước lượng của biến DA, dù nhỏ hơn hệ số ước

lượng của NDA và CFO, nhưng vẫn là khá đáng kể, 3,9335 của DA so với

4,5613 của CFO. Điều này, cho thấy hành vi quản trị lợi nhuận của các công

ty này là thực sự đáng quan tâm.

Tỷ suất cổ tức DY có hệ số - 2,8115 với mức ý nghĩa 5%. Vậy tỷ suất cổ

tức DY có mối tương quan ngược chiều với TSSL trên cổ phiếu với mức ý

nghĩa 5%. Một sự biến động tăng lên về tỷ suất cổ tức làm giảm tỷ suất sinh

lợi trên cổ phiếu. Điều này bác bỏ giả thuyết H 6 về ảnh hưởng cùng chiều của

tỷ suất cổ tức và TSSL trên cổ phiếu. NĐT khi đầu tư vào một cổ phiếu đều

mong muốn tỷ suất sinh lợi từ khoản đầu tư ở mức cao. Khả năng sinh lợi từ

cổ phiếu đến từ hai yếu tố, đó là: sự tăng lên của giá cổ phiếu và giá trị cổ tức

mà nhà đầu tư nhận được. Tại thị trường Việt Nam, khả năng sinh lợi chủ yếu

đến từ sự gia tăng của giá cổ phiếu hơn là đến từ cổ tức NĐT nhận được. Cụ



75

thể trong số liệu nghiên cứu, các quan sát có TSSL trên cổ phiếu cao nhất đều

do từ sự gia tăng của giá cổ phiếu. Bởi vì nếu NĐT chỉ trơng chờ vào DY thì

rất khó có khả năng thu hồi vốn trong thời gian ngắn. Do vậy, những cơng ty

có giá cổ phiếu cao, với mức cổ tức ổn định vẫn hấp dẫn nhà đầu tư hơn là

những công ty có giá cố phiếu thấp mà có cổ tức cao. Nếu DY của một công

ty là cao, nhưng giá cổ phiếu của của cơng ty đó vẫn ở mức thấp hoặc khiêm

tốn, thì điều đó có nghĩa là thị trường vẫn đánh giá tiềm năng và khả năng

sinh lời của cơng ty đó khơng cao (cổ tức trả cao trong một năm có thể khơng

phản ánh được hết triển vọng dài hạn của cơng ty đó), và do đó, tỷ suất sinh

lời trên cổ phiếu của cơng ty đó khó có thể ở mức cao.

Những biến độc lập còn lại của mơ hình là: Biến Quy mơ cơng ty

(SIZE), Tỷ số Giá trị sổ sách và Giá trị thị trường (BM), Biến Tỷ suất nợ

(LEV) và Tỷ số thanh toán hiện hành (CR) khơng có ý nghĩa đối với mơ hình.

Những biến độc lập này khơng thực sự ảnh hưởng trực tiếp đến Tỷ suất

sinh lợi của các công ty trong nhóm ngành chế biến lương thực, thực phẩm.

Mặt khác, cũng có thể do các yếu tố kĩ thuật ảnh hưởng đến mơ hình thống kê

nên các biến độc lập kể trên khơng có ý nghĩa. Những yếu tố kĩ thuật có thể

kể ra như là số lượng mẫu còn nhỏ, số lượng quan sát còn ít, khơng có sự

khác biệt nhiều giữa các DN được điều tra quan sát. Vì vậy mơ hình khơng

thể có ý nghĩa ở mức cao nhất.Và những giả thuyết H 3, H4, H5, H7 đã không

được chứng minh.

Bảng sau đây so sánh kết quả và giả thuyết nghiên cứu ban đầu.

Bảng 3.7. Bảng so sánh kết quả và giả thuyết nghiên cứu

Nhân tố kiểm định



Theo giả thuyết



Kết quả nghiên cứu



DA

NDA

CFO

SIZE



+

+

+

-



+

+

+

Khơng có ý nghĩa



76



BM

LEV

DY

CR



+

-



thống kê

Khơng có ý nghĩa

thống kê

Khơng có ý nghĩa

thống kê

Khơng có ý nghĩa

thống kê



3.1.4. Kiểm định các giả thuyết ước lượng mô hình

a. Đa cộng tuyến

Khi xem xét mối tương quan giữa các biến độc lập ở phần trên của đề

tài, tác giả nhận thấy giữa các biến trong mơ hình cuối cùng không tồn tại mối

tương quan nào lớn (lớn hơn 0,8). Hầu hết sự tương quan giữa các biến độc

lập rất nhỏ hoặc khơng có ý nghĩa. Do đó, mơ hình khơng xuất hiện dấu hiệu

của hiện tượng đa cộng tuyến.

b. Kiểm định tự tương quan

Để kiểm tra hiện tượng tự tương quan, tác giả sử dụng kiểm định thống

kê Durbin-Watson.

Với mức ý nghĩa 5%, ta có:





Số quan sát của mơ hình: n= 138







Số biến bên vế phải của phương trình: k’= 8



Tra bảng thống kê Durbin-Watson ta được:

DL= 1,622; DU = 1,846

 4 - DL = 2,282; 4 - DU = 2,18

Hệ số Durbin-Watson = 2,1467 (mơ hình FEM ở trên)

Ta thấy hệ số này bé hơn 4 – DU = 2,18 và lớn hơn DU=1,846 vì vậy mơ

hình không bị hiện tượng tự tương quan.



77

c. Phân phối chuẩn

24



Series: SR

Sample 2013 2015

Observations 138



20

16

12

8

4



Mean

Median

Maximum

Minimum

Std. Dev.

Skewness

Kurtosis



0.187823

0.102311

2.866171

-0.625514

0.465213

2.293387

12.28724



Jarque-Bera

Probability



616.9246

0.000000



0

-0.5



0.0



0.5



1.0



1.5



2.0



2.5



Hình 3.1. Biểu đồ kiểm tra phân phối chuẩn của biến phụ thuộc

(Nguồn: Tác giả tự tính tốn)

Dựa vào hình dáng của biểu đồ như trên và các số liệu trên kết luận: Mơ

hình khơng hồn toàn phân phối chuẩn, nhưng cũng tương đối chuẩn, các ước

lượng mơ hình có thể tin cậy được

Tiếp tục chạy biểu đồ phần dư bằng phần mềm Eviews: , ta có biểu đồ

như sau:

16



Series: Standardized Residuals

Sample 2013 2015

Observations 138



14

12

10

8

6

4

2

0

-0.8



-0.6



-0.4



-0.2



0.0



0.2



0.4



0.6



0.8



Mean

Median

Maximum

Minimum

Std. Dev.

Skewness

Kurtosis



9.25e-18

-0.023168

0.999341

-0.851445

0.316842

0.252540

4.209122



Jarque-Bera

Probability



9.873223

0.007179



1.0



Hình 3.2. Biểu đồ kiểm tra mức độ phù hợp của mơ hình



78

(Nguồn: Tác giả tự tính tốn)

Tác giả tiếp tục sử dụng phần mềm Eviews để chạy biểu đồ phân phối

chuẩn của phần dư. Dựa vào hình dáng và số liệu của biểu đồ ta có thể kết

luận rằng mơ hình khá phù hợp.

Các kiểm định các điều kiện ước lượng mơ hình ở trên cho thấy: mơ hình

nghiên cứu được ước lượng với kết quả khá tin cậy.

3.2. HÀM Ý TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KIẾN NGHỊ

3.2.1. Hàm ý từ kết quả nghiên cứu

Từ kết quả phân tích, có thể thấy được quản trị lợi nhuận đo lường thơng

qua biến dồn tích DA có ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu của các

công ty niêm yết nhóm ngành chế biến lương thực thực phẩm.

Kết quả nghiên cứu chỉ ra quản trị lợi nhuận ảnh hưởng cùng chiều đến

TSSL trên cổ phiếu. Tức là khi công ty điều chỉnh lợi nhuận theo hướng làm

tăng lợi nhuận, DAt/At-1 > 0 sẽ làm tăng TSSL trên cổ phiếu. Như vậy, việc

gia tăng lợi nhuận sẽ đem đến cái nhìn lạc quan về triển vọng của cơng ty,

điều này làm tăng giá trị cổ phiếu, làm tăng tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu.

Điều này đồng nghĩa với việc nhà đầu tư khơng nhìn nhận được hành vi quản

trị lợi nhuận của nhà quản lý và dễ dàng bị đánh lừa bởi sự gia tăng lợi nhuận

do bị điều chỉnh. Với kết quả như vậy, có thể thấy nhà đầu tư dễ dàng bị đánh

lừa bởi chỉ tiêu lợi nhuận bị điều chỉnh.

Khi xem xét ảnh hưởng của biến dồn tích khơng thể điều chỉnh NDA và

dòng tiền từ HĐKD với TSSL trên cổ phiếu, tác giả nhận thấy mối quan hệ

cùng chiều. Điều này dễ hiểu bởi vì NDA và dòng tiền từ HĐKD đều là yếu

tố thuộc về lợi nhuận, mà bất cứ sự gia tăng về lợi nhuận đều ảnh hưởng đến

NĐT. Hệ số ước lượng của 2 biến NDA và dòng tiền từ HĐKD như phân tích

ở trên thể hiện ảnh hưởng cao hơn của hai yếu tố này đến TSSL trên cổ phiếu

so với biến DA. Từ kết quả này, có thể nhận thấy mặc dù biến dồn tích có thể



79

điều chỉnh làm sai lệch nhìn nhận của NĐT, tuy nhiên ảnh hưởng này chưa

đến mức nghiêm trọng, vì lợi nhuận khơng thể điều chỉnh và dòng tiền từ

HĐKD ảnh hưởng nhiều hơn đến nhìn nhận của NĐT. Mặc dù vậy, như đã

phân tích ở phần trước, ảnh hưởng của hành vi quản trị lợi nhuận của các

cơng ty niêm yết trong nhóm ngành chế biến lương thưc thực phẩm vẫn rất

đáng kể.

Biến dồn tích khơng thể điều chỉnh và dòng tiền từ HĐKD là thành phần

không thể điều chỉnh trong lợi nhuận. Nếu dòng tiền từ HĐKD là quy mơ

dòng tiền ln chun trong q khứ, thì NDA thể hiện quy mơ dòng tiền có

thể chuyển hố trong tương lai. Vì NDA là thành phần khơng thể điều chỉnh,

giá trị này có ý nghĩa là thể hiện được lợi nhuận thực sự của cơng ty, đồng

thời còn thể hiện được năng lực thực sự, hay chính là quy mơ tiềm năng của

cơng ty. Coi trọng NDA chính là coi trọng sự tiếp diễn của hoạt động tương

lai. Do đó, việc NDA ảnh hưởng nhiều hơn so tới DA là một tín hiệu tốt. Và

cũng có thể nói, đánh giá của thị trường trong trường hợp này là đúng.

Kết quả nghiên cứu còn cho thấy tỷ suất cổ tức ảnh hưởng ngược chiều

đến tỷ suất sinh lợi của NĐT. Có thể nhận thấy những cơng ty có mức cổ tức

thấp nhưng giá cổ phiếu cao vẫn thu hút được sự quan tâm của NĐT vì NĐT

vẫn đang kì vọng vào sự gia tăng của giá cổ phiếu. Điều này cho thấy tại Việt

Nam, khả năng sinh lợi chủ yếu đến từ sự gia tăng của giá cổ phiếu hơn là đến

từ cổ tức NĐT nhận được. Cổ tức được xem là cách duy nhất để nhà đầu tư

lấy được lợi nhuận từ việc sở hữu cổ phiếu mà không phải bán chúng đi. Tuy

nhiên trơng chờ vào cổ tức để thu hồi vốn thì không thể thực hiện được trong

thời gian ngắn. Cổ tức thường khơng ổn định, do vậy, những cơng ty có giá cổ

phiếu cao, với mức cổ tức thấp vẫn hấp dẫn nhà đầu tư hơn là những cơng ty

có giá cố phiếu thấp mà có cổ tức cao.



80

3.2.2. Kiến nghị

a. Đối với nhà đầu tư

Động cơ để nhà quản lý thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận là luôn hiện

hữu và rất rõ ràng. Nhà đầu tư thường rất quan tâm đến chỉ tiêu lợi nhuận. Do

vậy, NQL chịu sức ép từ việc gia tăng giá trị công ty, gia tăng lợi nhuận, nhằm

đem đến cho nhà đầu tư cái nhìn lạc quan về triển vọng doanh nghiệp. Chính

sức ép này làm cho NQL có thể vận dụng nhiều thủ thuật kế toán để quản trị

lợi nhuận, làm đẹp BCTC nhằm tăng giá cổ phiếu, tránh sức ép của cổ đông,

thu hút nhà đầu tư để chống đỡ lại những khó khăn tài chính. Vì vậy, các nhà

đầu tư nên cân nhắc đến hành vi quản trị lợi nhuận khi đưa ra quyết định đầu

tư vào các công ty niêm yết.

Để giảm thiểu rủi ro, nhà đầu tư cần nắm rõ tình hình cơng ty qua nhiều

năm để nhận diện các biến động về chỉ tiêu lợi nhuận, bên cạnh đó cần có

kiến thức về BCTC, phân tích kỹ các yếu tố cấu thành nên các chỉ tiêu trên

BCTC và đánh giá các sự kiện của doanh nghiệp để có cái nhìn chính xác hơn

về chỉ tiêu lợi nhuận.

Ngồi ra, NĐT cũng cần nắm rõ về tình hình chung của ngành, các chỉ

số cơ bản của ngành để có thể dễ dàng nhận diện những khác biệt của công ty

so với các cơng ty khác trong ngành.

Ngồi ra, nhà đầu tư còn cần có hiểu biết về quản trị lợi nhuận trên báo

cáo tài chính. Các NĐT có thể tính tốn các chỉ tiêu lợi nhuận dồn tích bằng

các mơ hình nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận có để cái nhìn tổng quan về

quản trị lợi nhuận trong nhóm ngành hay một cơng ty cụ thể. Đây cũng sẽ là

một cơ sở để NĐT đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn.

b. Đối với kiểm toán viên và cơng ty kiểm tốn

Hầu như tất cả các báo cáo tài chính của các cơng ty niêm yết cơng bố đã

được kiểm tốn bởi các cơng ty kiểm tốn độc lập. Chỉ có những thơng tin tài



81

chính đã được kiểm toán mới là căn cứ đáng tin cậy để NĐT đưa ra các quyết

định đầu tư hiệu quả và hợp lý. Dựa vào kết quả kiểm toán, người sử dụng

báo cáo tài chính được kiểm tốn có thể đánh giá một cách đúng đắn tình hình

tài chính cũng như kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy,

để nâng cao khả năng phát hiện hành vi quản trị lợi nhuận của các cơng ty

niêm yết thì kiểm toán độc lập phải nâng cao chất lượng các cuộc kiểm toán

tại doanh nghiệp nhằm phát hiện những sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài

chính.

Nhà đầu tư và cổ đơng ln mong muốn kiểm tốn BCTC thật sự có chất

lượng, điều này đồng nghĩa các kiểm toán viên và cơng ty kiểm tốn phải tn

thủ các chuẩn mực kiểm toán, để nâng cao chất lượng kiểm toán nhằm phát

hiện được quản trị lợi nhuận, các kiểm toán viên và các cơng ty kiểm tốn độc

lập cần coi trọng việc lập kế hoạch kiểm toán để đánh giá đúng đắn về các

khả năng quản trị lợi nhuận.

Bên cạnh đó, các cuộc kiểm tốn phải thể hiện được tính chun nghiệp,

các kiểm tốn viên phải đảm bảo trình độ chun mơn và trách nhiệm nghề

nghiệp. Để làm được như vậy, các kiểm tốn viên cần khơng ngừng trao dồi

chun mơn nghiệp vụ, các cơng ty kiểm tốn cũng cần thường xun kiểm

tra khảo sát năng lực, nghiệp vụ của đội ngũ kiểm toán viên.

Để bảo đảm chất lượng kiểm toán, nhằm đảm bảo và nâng cao chất

lượng kiểm toán một giải pháp quan trọng bắt buộc phải thực hiện là kiểm

soát chất lượng. Các biện pháp kiểm soát chất lượng cần phải được thực hiện

một cách có hiệu quả trong suốt q trình kiểm tốn.

c. Đối với cơ quan quản lý nhà nước

Các cơ quan quản lý nhà nước cần tạo môi trường đầu tư lành mạnh cho

các nhà đầu tư, không ngừng quản lý chất lượng công bố thông tin để tăng

tính hiệu quả của thơng tin tài chính.



82

Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng có thẩm quyền cần kiểm tra đối với

các cơng ty có dấu hiệu khơng trung thực trên BCTC và đưa ra hình thức xử

phạt đối với các công ty vi phạm trong việc công bố thơng tin tài chính.



83

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Trong chương này, tác giả đã nêu tổng quan về nhóm ngành chế biến

lương thực thực phẩm trên TTCK. Tiếp đó, tác giả đưa ra kết quả nghiên cứu

bằng phần mềm Eviews theo mơ hình nghiên cứu được thiết lập ở chương 2

và đưa ra các kết quả về mô tả thống kê, phân tích tương quan và phân tích

hồi qui. Tác giả đã kiểm chứng lại các giả thuyết đã đưa ra ở chương 2 với số

liệu được thu thập từ BCTC của 46 doanh nghiệp trong nhóm ngành chế biến

lương thực, thực phẩm trong 3 năm 2013 - 2015. Từ đó tác giả đưa ra được

mơ hình nghiên cứu cuối cùng và kiểm định mơ hình, xác định rằng mơ hình

khơng có lỗi đa cộng tuyến, tự tương quan và mơ hình có phân phối khá

chuẩn. Kết quả thực nghiệm nghiên cứu, tác giả nhận thấy biến dồn tích DA

có ảnh hưởng cùng chiều đến tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b. Giải thích kết quả hồi quy theo mô hình FEM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×