Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI TRÊN CỔ PHIẾU

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI TRÊN CỔ PHIẾU

Tải bản đầy đủ - 0trang

39



Hình 2.1. Cơ cấu các cơng ty trong ngành

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)

Tính đến thời điểm 31/12/2016, quy mơ các cơng ty trong nhóm ngành là

6.514.100.329 cổ phiếu, với tổng tài sản là 258.119.386 triệu đồng.

Quy mô doanh thu, lợi nhuận, tổng tài sản của các công ty niêm yết

trong nhóm ngành liên tục tăng qua các năm. Cụ thể như sau:

Bảng 2.1. Quy mô doanh thu, lợi nhuận, tổng tài sản của các cơng ty niêm

yết nhóm ngành chế biến lương thực, thực phẩm từ năm 2013-2016

Chỉ tiêu

Doanh thu

(triệu đồng)

Lợi nhuận sau

thuế

(triệu đồng)

Tổng tài sản

(triệu đồng)



Năm 2013



Năm 2014



Năm 2015



Năm 2016



150.024.614 165.215.358



198.598.878



228.989.128



14.410.756



16.664.211



23.985.683



22.468.376



164.097.435 188.882.605



239.096.017



258.119.386



(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)



40

Quy mô tổng tài sản liên tục tăng qua các năm, năm 2015 có tốc độ tăng

trưởng cao nhất. Riêng lợi nhuận sau thuế năm 2015 so với năm trước giảm

đáng kể. Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản, doanh thu và lợi nhuận của các cơng

ty niêm yết trong nhóm ngành được thể hiện qua biểu đồ sau:



Hình 2.2. Tốc độ tăng trưởng các chỉ tiêu cơ bản của các công ty trong

nhóm ngành từ 2014-2016

(Nguồn: tác giả tự tổng hợp)

Tốc độ hội nhập cao của nền kinh tế cùng với sự thay đổi thói quen ăn

uống của một thị trường tiêu dùng rộng lớn Việt Nam là động cơ để nhiều

doanh nghiệp trong lĩnh vực chế biến thực phẩm nhanh chóng lớn mạnh. Số

lượng các cơng ty trong nhóm ngành niêm yết trên TTCK ngày càng tăng. Dù

là ngành đã tăng trưởng tốt trong thời gian qua, các công ty trong nhóm vẫn

được đánh giá có nhiều triển vọng tăng trưởng. Cổ phiếu của các cơng ty

thuộc nhóm ngành này thường nhận được sự quan tâm lớn từ công chúng.

Nghiên cứu ảnh hưởng của hành vi quản trị lợi nhuận đến tỷ suất sinh lợi trên

cổ phiếu sẽ giúp cho nhà đầu tư có cái nhìn đúng đắn hơn về chỉ tiêu lợi

nhuận của doanh nghiệp cũng như có quyết định tốt hơn trong việc lựa chọn

các cổ phiếu đầu tư.



41

2.2. CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ MƠ HÌNH NGHIÊN CỨU

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng TSSL trên cổ phiếu. Từ các yếu tố bên

trong, đến các yếu tố bên ngồi, đến các yếu tố thuộc về mơi trường vĩ mô của

doanh nghiệp.

Tuy nhiên trong phạm vi của đề tài, tác giả tập trung nghiên cứu ảnh

hưởng của quản trị lợi nhuận và một số nhân tố tài chính chủ yếu đến TSSL

trên cổ phiếu của các công ty niêm yết nhóm ngành chế biến lương thực, thực

phẩm. Biến phụ thuộc được xác định là tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu. Biến

độc lập trong nghiên cứu là biến dồn tích có thể điều chỉnh phản ánh hành vi

quản trị lợi nhuận, biến dồn tích khơng thể điều chỉnh, dòng tiền thuần từ

HĐKD và các biến nhân tố tài chính chủ yếu được tác giả tham khảo từ các

nghiên cứu trước đây ở trong và ngoài nước. Tác giả chọn những nhân tố sau

là những nhân tố ảnh hưởng đến TSSL trên cổ phiếu, đó là Quy mơ doanh

nghiệp (SIZE), Tỷ số giá trị sổ sách giá trị thị trường (BM), Tỷ suất cổ tức

(DY), tỷ suất nợ (LEV) và tỷ số thanh toán hiện hành (CR). Lý do cho việc

lựa chọn các biến này đưa vào mơ hình là vì các biến này có tần suất xuất

hiện nhiều trong nghiên cứu trong các mơ hình nghiên cứu trước đây về TSSL

trên cổ phiếu. Các biến này đều có ý nghĩa thống kê và có tác động đến TSSL

trên cổ phiếu các bài nghiên cứu trước đây trên thế giới.

2.2.1. Các giả thuyết chính của nghiên cứu

Nhà quản lý thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận thông qua việc điều

chỉnh các khoản dồn tích trong BCTC bởi vì các khoản dồn tích thường rất

linh hoạt. Bằng cách này, nhà quản lý có thể làm tăng lợi nhuận ở thời điểm

hiện tại, điều này làm giá cổ phiếu tăng hơn giá trị thực của nó. Cuối cùng sẽ

dẫn đến tăng tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu.

Các nghiên cứu trước đây trên thế giới đề chỉ ra có mối quan hệ giữa

quản trị lợi nhuận và tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu. Cụ thể như nghiên cứu của



42

Sloan (1996) cho các công ty trên TTCK New York, Sayari (2013) tại Tunisa

hay Cotten (2015) cũng chỉ ra rằng có những bằng chứng về việc gia tăng

TSSL có tác động từ quản trị lợi nhuận.

Nghiên cứu của Oduma (2015) đưa ra mơ hình ảnh hưởng của nhân tố

quản trị lợi nhuận đo lường thơng qua biến dồn tích có thể điều chỉnh, quy mô

doanh nghiệp và tỷ số giá trị thị trường và giá trị sổ sách của công ty đến

TSSL trên cổ phiếu. Tác giả chỉ ra hành vi quản trị lợi nhuận có ảnh hưởng

cùng chiều và đáng kể đến TSSL trên cổ phiếu.

Nhà quản lý thường rất linh hoạt và chủ động trong việc lựa chọn các

chính sách để thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận. Khi nhà quản lý làm tăng

lợi nhuận ở thời điểm hiện tại, họ thường kỳ vọng giá cổ phiếu cũng sẽ tăng

lên tương ứng. Những nhà đầu tư, người thường đưa ra quyết định đầu tư dựa

trên lợi nhuận của công ty, sẽ dựa trên dựa trên những thông tin đã được điều

chỉnh theo ý muốn của nhà quản lý. Cuối cùng sẽ dẫn đến tăng tỷ suất sinh lợi

của cổ phiếu.

Giả thuyết đặt ra là:

H1 : Quản trị lợi nhuận đo lường thơng qua biến dồn tích có thể điều

chỉnh DA ảnh hưởng cùng chiều đến tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu của các

cơng ty niêm yết nhóm ngành chế biến lương thực thực phẩm.

Như đã đề cập ở trên, các mơ hình nhận diện quản trị lợi nhuận đều dựa

trên nguyên tắc cơ sở dồn tích của kế toán để chia lợi nhuận trong kỳ của

doanh nghiệp thành hai loại là lợi nhuận thực thu bằng tiền và lợi nhuận dồn

tích. Khoản dồn tích trong lợi nhuận được tính bằng cách lấy tổng lợi nhuận

kế tốn sau thuế trừ dòng tiền thuần từ HĐKD. Tuy nhiên, khoản dồn tích

trong lợi nhuận còn bao gồm các khoản dồn tích phù hợp với tình hình kinh

doanh thực tế của doanh nghiệp được gọi là các khoản dồn tích khơng thể

điều chỉnh NDA là các khoản dồn tích được thực hiện theo những định,



43

nguyên tắc của chuẩn mực và chế độ kế tốn.

Phần lợi nhuận thực thu bằng tiền được tính bằng dòng tiền thuần từ

HĐKD (CFO). Nếu CFO có chiều hướng sụt giảm mạnh, thậm chí là âm liên

tục trong nhiều quý nhiều năm liền sẽ khiến những nhà đầu tư không khỏi

nghi ngờ về khả năng tạo tiền từ HĐKD chính của doanh nghiệp. Nhà đầu tư

thường e dè trong việc đầu tư vào các cơng ty có dòng tiền âm, vì họ nghi ngờ

về khả năng phát triển bền vững, lâu dài của doanh nghiệp khi khơng có tiền

thanh tốn cho các hoạt động chính của doanh nghiệp.

Như vậy biến dồn tích khơng thể điều chỉnh (NDA) và dòng tiền thuần

từ HĐKD (CFO) cũng là một phần của lợi nhuận kế toán. Xem xét quan hệ

giữa NDA, CFO và TSSL trên cổ phiếu bên cạnh mối quan hệ giữa DA và

TSSL là để phân tích yếu tố nào ảnh hưởng nhiều hơn đến TSSL.

Giả thuyết đặt ra là:

H2 : Ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đo lường thơng qua biến dồn tích

có thể điều chỉnh DA là thấp hơn ảnh hưởng của biến dồn tích khơng điều

chỉnh NDA và dòng tiền từ HĐKD đến tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu của các

cơng ty niêm yết nhóm ngành chế biến lương thực thực phẩm.

Việc xem xét thêm giả thuyết trên có ý nghĩa giúp làm rõ hơn mức độ

ảnh hưởng của hành vi quản trị lợi nhuận đến tỷ suất sinh lời trên cổ phiếu và

các đánh giá của thị trường về tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu.

2.2.2. Các giả thuyết liên quan đến các biến kiểm sốt trong mơ hình

- Quy mơ cơng ty

Quy mơ của một cơng ty còn được gọi là mức độ vốn hóa thị trường đại

diện độ lớn của cơng ty đó. Mối quan hệ giữa quy mơ của cơng ty và TSSL

trên cổ phiếu đã được nhiều nghiên cứu chỉ rõ. Banz (1981) đã giới thiệu khái

niệm "hiệu ứng tác độngcủa quy mơ" (size ffect) trên Sở Giao dịch Chứng

khốn New York (NYSE) và xác định rằng quy mô của một cơng ty và TSSL



44

trên cổ phiếu có mối liên hệ ngược chiều. Ngồi ra, ơng cũng nhận thấy rằng

các cơng ty nhỏ hơn ln ln có được TSSL cao hơn các công ty lớn trên

NYSE. Nghiên cứu sau này của Basu (1983) cũng đồng ý với kết quả này và

ông cũng kết luận rằng hiệu ứng quy mô công ty chỉ ra các cổ phiếu có quy

mơ cơng ty nhỏ có khuynh hướng cho ra TSSL cao hơn cổ phiếu có quy mơ

cơng ty lớn.

Giả thuyết đặt ra là:

H3 : Quy mơ cơng ty có ảnh hưởng ngược chiều đến TSSL trên cổ phiếu

- Tỷ số giá trị sổ sách và giá trị thị trường

Giá sổ sách của một cố phiếu được xem như giá trị thực của cổ phiếu

được tính bằng cơng thức vốn chủ sở hữu chia cho khối lượng cổ phiếu.

Tỷ số giá trị sổ sách và giá trị thị trường (BM) so sánh giá trị sổ sách của

cổ phiếu và giá trị thị trường của cổ phiếu đó. Tỷ số giá trị sổ sách so với giá

trị thị trường được sử dụng rộng rãi sau nghiên cứu của Fama và French

(1995). Nghiên cứu đã chỉ ra tỷ số giá trị sổ sách so với giá trị thị trường của

cổ phiếu có thể giải thích được TSSL trên cổ phiếu qua các năm, tỷ số này sẽ

chỉ ra cổ phiếu đang bị đánh giá cao hơn hay thấp hơn giá trị thực của nó. Tỷ

số này thấp, thì TSSL được dự đốn là thấp và ngược lại.

Tuy nhiên, một số nghiên cứu về ảnh hưởng của tỷ số giá trị sổ sách và

giá trị thị trường (BM) lại cho kết quả trái ngược, tức mối quan hệ ngược chiều

giữa BM và TSSL trên cổ phiếu. Một cổ phiếu có giá sổ sách lớn hơn giá thị

trường hay giá hiện tại đang giao dịch có thể được xem như cổ phiếu bị định

giá thấp hơn so với giá giao dịch hiện tại. Nhà đâu tư tin rằng khi một cổ phiếu

có giá sổ sách thấp hơn giá thị trường, đây có thể được xem như là cổ phiếu

tiềm năng vì nhà đầu tư tin rằng cổ phiếu sẽ có tiềm năng phát triển. Do đó nếu

tỷ số giá trị sổ sách và giá trị thị trường thấp, thì TSSL được dự đốn cao.

Có thể nhận thấy các quan điểm trái ngược về ảnh hưởng của tỷ số giá trị



45

sổ sách và giá trị thị trường đến TSSL trên cổ phiếu, tuy nhiên tác giả nhận

thấy lý giải về mối quan hệ ngược chiều hợp lý hơn. Do đó, tác giả sẽ kiểm

chứng mối quan hệ ngược chiều giữa của tỷ số giá trị sổ sách và giá trị thị

trường đến TSSL trên cổ phiếu trên thị trường Việt Nam.

Giả thuyết đặt ra là:

H4: Tỷ số giá trị sổ sách và giá trị thị trường có ảnh hưởng ngược chiều

đến TSSL trên cổ phiếu

- Tỷ suất nợ trên tổng tài sản

Hệ số nợ trên tổng tài sản (D/A) đo lường mức độ sử dụng nợ vay của

doanh nghiệp để tài trợ cho tổng tài sản. Hệ số này cao thể hiện sự bất lợi đối

với các chủ nợ nhưng lại có lợi cho chủ sở hữu nếu đồng vốn được sử dụng có

khả năng sinh lợi cao. Tuy nhiên, chỉ số này quá thấp cũng có hàm ý doanh

nghiệp chưa tận dụng kênh huy động vốn bằng nợ, tức chưa khai thác tốt đòn

bẩy tài chính.

Theo Pandey (1981), Kumar và Hundal (1986), tỷ suất nợ là một trong

các nhân tố ảnh huởng đến giá cổ phiếu và TSSL trên cổ phiếu. Nghiên cứu

của Birjandi, Kaveh và Kharrami (2015) về mối quan hệ giữa quản trị lợi

nhuận và TSSL trên cổ phiếu tại Tehran cho thấy mối quan hệ nghịch chiều

giữa TSSL trên cổ phiếu và tỷ suất nợ. Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên

cứu trước đây về mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ suất nợ và tỷ suất sinh lợi

trên cổ phiếu, như nghiên cứu của Korteweg (2004), Nissim and Penman

(2003), Artikis and Nifora (2011).

Tỷ suất nợ càng cao thì rủi ro càng cao. Nhà đầu tư thường rất thận trọng

với các chỉ tiêu này, do đó kỳ vọng vào giá trị cổ phiếu của các cơng ty này

thường khơng cao. Do đó, tỷ suất nợ trên tổng tài sản ảnh hưởng ngược chiều

đến tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu.

Giả thuyết đặt ra là:



46

H5 : Tỷ suất nợ trên tổng tài sản có ảnh hưởng ngược chiều đến TSSL

trên cổ phiếu

-



Tỷ suất cổ tức



Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây đều chỉ ra tỷ suất cổ tức có thể dự

đốn được TSSL trên cổ phiếu.Theo nghiên cứu của Hodrick (1992), Tỷ suất

cổ tức có thể dự đoán được TSSL trên cổ phiếu ở 36 thị trường nghiên cứu.

Các kết quả nghiên cứu của Y. Wang, and A.D. Iorio (2007) ở Trung quốc,R.

Deaves, P. Miu, and C. B. White (2008) ở Canada và S. W. Chen, and C. H.

Shen (2009) ở Mỹ đều có kết luận tương tự.

Chỉ tiêu này đặt biệt quan trọng đối với các nhà đầu tư dài hạn. Các nhà

đầu tư dài hạn thường mong muốn thu hồi được dòng tiền nhất định từ việc

đầu tư cổ phiếu nên sẽ đánh giá cao các DN có tỉ suất cổ tức cao và ổn định.

Do đó, tỷ suất cổ tức có tác động cùng chiều đến tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu.

Tỷ suất cổ tức có tác động tích cực đến dự đoán TSSL trên cổ phiếu.

Giả thuyết đặt ra là:

H6 : Tỷ suất cổ tức có ảnh hưởng cùng chiều đến TSSL trên cổ phiếu

- Tỷ số thanh toán hiện hành

Theo Stefano (2015), khi nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ số lợi nhuận, tỷ

số nợ, tỷ số thanh toán đến tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu, đã đưa ra kết luận tỷ

số thanh tốn hiện hành có tác động ngược chiều đến TSSL của cổ phiếu.

Điều này được giải thích là do, tỷ số thanh tốn hiện hành cao, đồng nghĩa với

việc, cơng ty có tài sản ngắn hạn hay tài sản có khả năng chuyển hóa thành

tiền cao. Trong mắt nhà đầu tư, điều này không hẳn là tốt, vì cơng ty có lượng

tiền mặt hoặc tài sản có khả năng chuyển hóa thành tiền lớn và khi đó có thể

khó khăn trong việc đầu tư các nguồn vốn khác. Bên cạnh đó, cơng ty có khả

năng thanh tốn cao khơng đồng nghĩa với việc có tính thanh khoản cao nếu

phải tốn nhiều thời gian cho việc chuyển hóa tài sản ngắn hạn thành tiền (ví



47

dụ như hàng tồn kho hay khoản phải thu khách hàng). Do đó, tác giả cho

rằng, khả năng thanh tốn hiện hành có tác động ngược chiều đến tỷ suất sinh

lợi trên cổ phiếu

Giả thuyết đặt ra là:

H7 :Tỷ số thanh toán hiện hành có ảnh hưởng ngược chiều đến TSSL

trên cổ phiếu

Xuất phát từ các giả thuyết nêu trên, tác giả đề xuất mơ hình để kiểm

định giả thuyết về ảnh hưởng của hành vi quản trị lợi nhuận đến tỷ suất sinh

lợi trên cổ phiếu – trường hợp các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành chế

biến lương thực, thực phẩm như sau:

SR = β0 + β1DA+ β2NDA + β3CFO – β4SIZE - β5BM - β6LEV+ β7DY - β8CR+εi



Trong đó:

• SR: Tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu của các công ty niêm yết nhóm

ngành chế biến lương thực thực phẩm giai đoạn 2013-2015

• DA: Biến đồn tích có thể điều chỉnh

• NDA: Biến dồn tích khơng thể điều chỉnh

• CFO: Dòng tiền thuần từ HĐKD

• SIZE: Quy mơ cơng ty

• BM: Tỷ suất giữa giá trị sổ sách và giá trị thị trường

• DY: Tỷ suất cổ tức

• LEV: Tỷ suất nợ trên tổng tài sản

• CR: Tỷ số thanh tốn hiện hành

Bảng dưới đây tóm tắt mơ tả các biến trong mơ hình được thể hiện qua

bảng sau:



48

Bảng 2.2. Mơ tả quan hệ các biến trong mơ hình

Giả thuyết mối

Biến



Giải thích biến



quan hệ với biến

phụ thuộc



SR



DA



NDA



CFO



SIZE



BM



LEV

DY

CR



Biến phụ thuộc

Biểu thị Tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu

Biến độc lập

Biểu thị Biến dồn tích có thể điều chỉnh ,



Quan hệ cùng



xác định cơng ty có quản trị lợi nhuận hay



chiều (+)



khơng

Biến độc lập



Quan hệ cùng



Biểu thị Biến dồn tích khơng thể điều chỉnh

Biến độc lập

Biểu thị dòng tiền thuần từ hoạt động kinh

doanh

Biến độc lập



chiều (+)

Quan hệ cùng

chiều (+)

Quan hệ ngược



Biểu thị Quy mô công ty

Biến độc lập



chiều (-)



Biểu thị Tỷ suất Giá trị sổ sách so với giá trị



Quan hệ cùng

chiều (-)



thị trường của công ty

Biến độc lập



Quan hệ ngược



Biểu thị Tỷ suất Tỷ suất Nợ trên tổng tài sản

Biến độc lập



chiều (-)

Quan hệ cùng



Biểu thị Tỷ suất cổ tức của công ty

Biến độc lập



chiều (+)

Quan hệ ngược



Biểu thị Tỷ số thanh toán hiện hành



chiều (-)

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)



2.3. ĐO LƯỜNG CÁC BIẾN TRONG MƠ HÌNH

2.3.1. Đo lường biến phụ thuộc

Biến phụ thuộc trong mơ hình được xác định là Tỷ suất sinh lợi trên cổ



49

phiếu, được kí hiệu là SR.

SR được đo lường bởi công thức sau:

SR =



(P1 – P0) + D1

P0



Trong đó:





SR: TSSL của cổ phiếu







P1: Giá cổ phiếu tại thời điểm t







P0: Giá cổ phiếu tại thời điểm 0







D1: Cổ tức chi trả trong năm



Tác giả chọn thời điểm t là tại ngày 15/05 của năm hiện tại và thời điểm

0 là ngày 15/5 của năm trước liền kề.

Theo tác giả, đến 31/03 các doanh nghiệp mới cơng bố BCTC của năm

trước đó, tuy nhiên tại thời điểm này nhà đầu tư chưa quan tâm nhiều đến

BCTC của doanh nghiệp. Sau kì đại hội cổ đông, các vấn đề trên BCTC mới

được nhà đầu tư quan tâm đúng mức. Tại Việt Nam, các kì đại hội cổ đông

thường tổ chức vào tháng 4 hằng năm. Do đó, tác giả lấy thời điểm ngày 15/5

để xác định giá cổ phiếu. Giai đoạn xem xét là 1 năm.

D1 là cổ tức nhận được trong giai đoạn đó.

2.3.2. Đo lường biến độc lập

a. Đo lường biến dồn tích có thể điều chỉnh DA

Các mơ hình đo lường hành vi quản trị lợi nhuận đã được các tác giả

trong nước nghiên cứu để áp dụng cho thị trường Việt Nam. Mơ hình Kothari,

Leone and Wasley (2005) được cho là mơ hình thích hợp nhất để nhận diện

hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty tại Việt Nam qua các nghiên cứu

của tác giả Phùng Anh Thư (2016) hay Nguyễn Anh Hiền, Phạm Thanh Trung

(2015). Do đó, trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng mơ hình của Kothari,

Leone and Wasley (2005) để nhận diện biến dồn tích có thể điều chỉnh trong



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI TRÊN CỔ PHIẾU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×