Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI TRÊN CỔ PHIẾU

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI TRÊN CỔ PHIẾU

Tải bản đầy đủ - 0trang

11

Nhà quản lý có quyền sử dụng các xét đốn chủ quan của mình trong

việc lựa chọn chính sách và thực hiện các ước tính để phản ánh một cách

đúng đắn bản chất kinh tế và kết quả hoạt động của DN. Tuy nhiên, có thể

nhận thấy, hành vi quản trị lợi nhuận thường mang nghĩa tiêu cực vì thường

làm sai lệch thông tin về lợi công bố trên BCTC do vận dụng khơng đúng đắn

các chính sách và ước tính kế tốn và thời điểm ghi nhận nghiệp vụ làm sai

lệch bản chất của nghiệp vụ.

NQL sử dụng các đánh giá chủ quan của mình trong việc thực hiện các

ước tính về các sự kiện kinh tế tương lai được phản ánh trong BCTC của DN,

chẳng hạn ước tính về thời gian sử dụng kinh tế của tài sản cố định, tổn thất

có thể của các khoản phải thu không thu hồi được, hoặc tổn thất từ việc giảm

giá của hàng tồn kho. Cùng với việc thực hiện nhiều ước tính, NQL cũng phải

sử dụng đánh giá chủ quan của mình để quyết định việc lựa chọn các chính

sách kế toán. Cùng xử lý một vấn đề của một đối tượng kế tốn, NQL có thể

nhiều lựa chọn khác nhau, chẳng hạn, việc lựa chọn giữa phương pháp khấu

hao bình quân hay khấu hao nhanh, giữa phương pháp nhập trước - xuất trước

hay phương pháp bình quân gia quyền trong tính giá xuất kho hàng tồn kho.

Đánh giá chủ quan của NQL cũng được vận dụng trong việc thực hiện các

nghiệp vụ kinh tế. Các quyết định liên quan đến quản trị vốn lưu động thường

sẽ ảnh hưởng đến việc ghi nhận các đối tượng kế toán, chẳng hạn, NQL phải

quyết định về thời điểm giao hàng hay nhận hàng. NQL cũng có thể quyết

định thực hiện hay hỗn lại các khoản chi tiêu không bắt buộc như chi phí

nghiên cứu và phát triển, quảng cáo, hay bảo trì.

Hiển nhiên, việc thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận là nhằm thu được

những lợi ích nhất định cho DN hoặc cho NQL và thường gây tác động tiêu

cực đến nhà đầu tư và các bên có lợi ích liên quan đến DN. Trường hợp phổ

biến là người sử dụng thơng tin BCTC của DN để ra quyết định có thể dẫn



12

đến quyết định không tối ưu.

Như vậy, quản trị lợi nhuận đã trình bày ở trên chúng ta có thể thấy được

những đặc điểm chung trong các khái niệm về quản trị lợi nhuận như sau:

- Là hành vi phụ thuộc vào quyết định có chủ ý của nhà quản lý

- Là sự can thiệp làm thay đổi các thông tin trên BCTC của nhà quản lý

- Là sự công bố thông tin liên quan đến các thời điểm trình bày báo cáo.

1.1.2



Cơ sở lý thuyết của quản trị lợi nhuận



Cơ sở của hành vi quản trị lợi nhuận chính là kế tốn theo cơ sở dồn tích

(Đường Nguyễn Hưng, 2013). Điểm khác nhau mấu chốt giữa kế toán theo cơ

sở dồn tích và kế tốn theo cơ sở tiền là cách thức doanh thu và chi phí được

ghi nhận. Kế tốn theo cơ sở dồn tích có nghĩa là mọi giao dịch kinh tế liên

quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí

được ghi nhận tại thời điểm phát sinh giao dịch, không quan tâm đến thời

điểm thực tế thu hoặc chi tiền (Chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS số 01) [3].

Chênh lệch giữa lợi nhuận trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

và dòng tiền trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ hình thành nên biến kế toán mà

các nhà nghiên cứu gọi là biến kế toán dồn tích. Hay nói cách khác, biến kế

tốn dồn tích là phần lợi nhuận kế tốn khơng bằng tiền được trình bày trong

báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.

Do phản ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp một cách xác thực, kế

tốn theo cơ sở dồn tích chính là cơ sở quan trọng chi phối phương pháp ghi

nhận các đối tượng kế toán trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, do doanh thu và

chi phí có thể được ghi nhận khi tiền chưa được thu hay chi, dẫn đến vấn đề

quan trọng ln cần phải xem xét đó là doanh thu và chi phí đã thực sự phát

sinh chưa và nếu đã phát sinh rồi thì đã được ghi nhận chưa.

Kế toán cần phải ghi nhận doanh thu khi doanh thu đã thực sự phát sinh

và chi phí cần phải được ghi nhận phù hợp với việc tạo ra doanh thu trong kỳ



13

kế toán. Việc áp dụng nguyên tắc phù hợp bảo đảm cho lợi nhuận được đo

lường một cách xác thực, phản ánh đúng đắn kết quả hoạt động của DN. Việc

thực hiện kế toán theo cơ sở dồn tích dẫn đến thời điểm các khoản doanh thu

và chi phí được nhận khác với kế tốn theo cơ sở tiền như sau:

- Doanh thu chưa thu tiền: Doanh thu phát sinh được ghi nhận trước khi

tiền thu được.

- Chi phí chưa chi tiền: Chi phí phát sinh được ghi nhận trước khi tiền

được chi ra.

- Doanh thu chưa thực hiện: Doanh thu được ghi nhận sau khi tiền đã

thu vào.

- Chi phí trả trước: Chi phí được ghi nhận sau khi tiền đã chi trả.

Việc ghi nhận doanh thu và chi phí trong trường hợp này có thể chịu ảnh

hưởng bởi quyết định chủ quan của nhà quản lý. Nếu nhà quản lý có động lực

muốn thay đổi kết quả lợi nhuận, việc điều chỉnh thời điểm ghi nhận doanh

thu và chi phí có thể dẫn đến lợi nhuận cơng bố thay đổi. Đây chính là hành vi

quản trị lợi nhuận.

Theo đó, quản trị lợi nhuận được thực hiện dựa trên việc điều chỉnh thời

điểm và mức độ ghi nhận các khoản doanh thu, chi phí và từ đó tác động đến

lợi nhuận.

1.1.3



Mục đích của quản trị lợi nhuận



Nhà quản lý có thể có nhiều động lực để thực hiện hành vi quản trị lợi

nhuận nhằm đặt được một mục tiêu nào đó.

Theo Healy and Wahlen (1999), nhà quản lý quản trị lợi nhuận vì những

động cơ sau:

a. Tránh vi phạm điều khoản thoả thuận với bên ngoài

Bên cạnh mối quan hệ với cổ đơng, doanh nghiệp cũng có mối quan hệ

chặt chẽ với các bên có lợi ích liên quan khác, đặc biệt là mối quan hệ với nhà



14

cung cấp tín dụng. Các hợp đồng bên ngồi là hợp đồng vay nợ, hợp đồng

cung cấp… Trong mối quan hệ với người cấp tín dụng cho DN như các ngân

hàng, các cơng ty tài chính, DN phải ký kết hợp đồng với nhiều điều khoản

ràng buộc dựa trên các chỉ tiêu tài chính. NQL có thể có các hành vi quản trị

lợi nhuận để tránh vi phạm các điều khoản.

Ví dụ như hợp đồng vay nợ, các ngân hàng có thể u cầu các cơng ty

duy trì hạn mức vay cụ thể so với vốn chủ hoặc vốn lưu động. Nếu các điều

khoản này bị vi phạm, các ngân hàng có thể áp dụng những hình phạt như lãi

suất cao hơn, hoặc những hạn chế về vay thêm hoặc yêu cầu trả nợ ngay lập

tức. Do đó, khi các cơng ty đang gần hạn mức và có khả năng vi phạm chúng

thì các nhà quản lý có động cơ sử dụng các kỹ thuật quản trị lợi nhuận để tăng

thu nhập nhằm nới lỏng hoặc trì hỗn sự hạn chế áp đặt bởi các thỏa thuận

vay nợ dựa trên thu nhập.

b. Đạt được những yêu cầu trong hợp đồng thù lao nhà quản lý

Hầu hết các hợp đồng giữa với nhà quản lý doanh nghiệp đo lường thành

quả của nhà quản lý bằng các con số kế toán như doanh thu hoặc lợi nhuận,

các điều khoản này có thể hướng nhà quản trị đến việc quản trị lợi nhuận để

đạt được các thỏa thuận trong hợp đồng. Trong trường hợp này, quản trị lợi

nhuận được thực hiện vì những lợi ích cá nhân, NQL sẽ được hưởng nhiều

quyền lợi khi hoàn thành các chỉ tiêu được giao, chẳng hạn như các khoản

thưởng, đề bạt, tăng lương, và cả việc giữ được vị trí của mình. Do đó, nếu

khơng hồn thành các chỉ tiêu lợi nhuận, NQL có thể điều chỉnh tăng lợi

nhuận để đạt được các chỉ tiêu này, hoặc khi đã đạt vượt chỉ tiêu lợi nhuận

nhưng mức thưởng có giới hạn, NQL có thể điều chuyển bớt lợi nhuận sang

năm sau. Mặt khác, NQL cũng có thể sở hữu cổ phiếu của DN. Khi này, nếu

muốn bán đi số cổ phiếu nắm giữ và thu lợi được mức cao, NQL cũng có thể

điều chỉnh lợi nhuận tăng để tác động vào giá cổ phiếu nhằm thu lợi.



15

c. Tránh các điều khoản quy định và tối thiểu hóa chi phí pháp lý,

chi phí thuế hiện hành

Liên quan đến thuế, DN phải đóng thuế thu nhập DN dựa trên lợi nhuận

phải chịu thuế. Mặc dù, ngày nay, kế toán cho mục đích thuế và kế tốn cho

mục đích cung cấp thơng tin đã có sự tách biệt, nếu muốn giảm thuế, một khả

năng xảy ra là DN tránh báo cáo lợi nhuận kế toán ở mức cao để hợp lý hóa

hành vi điều chỉnh giảm lợi nhuận chịu thuế, từ đó giảm số thuế thu nhập phải

nộp.

DN cũng có thể điều chỉnh lợi nhuận nhằm tránh công bố các mức lợi

nhuận cao, để tránh cơ quan quản lý Nhà nước có những hành động chính

sách điều tiết hoạt động của DN như rút bớt các ưu đãi đang đem lại lợi ích

quá cao cho DN.

d. Đạt hiệu quả trên TTCK

Đối với các DN niêm yết, mối quan hệ giữa cổ đông, NQL và nhà đầu tư

luôn là mối quan hệ chủ đạo trong hoạt động của DN. Đối với cổ đơng, NQL

được giao những trách nhiệm phải hồn thành, cụ thể hồn thành các chỉ tiêu

kinh doanh, trong đó, quan trọng nhất là chỉ tiêu về lợi nhuận tạo ra áp lực lớn

mà có thể khiến cho NQL thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận khi lợi nhuận

không đạt được như kỳ vọng. Bên cạnh đó, DN một khi đã niêm yết tức là

mong muốn có được cơ hội tiếp cận các nguồn vốn từ thị trường một cách dễ

dàng hơn. Để có thể thuyết phục được nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư DN phải

chứng minh được triển vọng về lợi nhuận trong tương lai của DN. Đây cũng

là một động lực lớn thúc đẩy NQL có hành vi quản trị lợi nhuận nhằm mục

tiêu huy động vốn với chi phí vốn thấp hơn.

1.1.4 Các mơ hình nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận

Trong các mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận cơng bố ở

nước ngoài, các tác giả đã dựa trên nguyên tắc cơ sở dồn tích của kế tốn để



16

chia lợi nhuận trong kỳ của doanh nghiệp thành hai loại là lợi nhuận thực thu

bằng tiền và lợi nhuận dồn tích. Trong đó, lợi nhuận thực thu bằng tiền hình

thành từ các khoản doanh thu và chi phí bằng tiền mà doanh nghiệp đã thu và

chi trong kỳ. Riêng lợi nhuận dồn tích là lợi nhuận được tính trong kỳ của

doanh nghiệp nhưng chưa thu được bằng tiền như các khoản doanh thu bán

chịu cho khách hàng sau khi đã trừ các khoản chi phí khơng phải chi trả bằng

tiền; các khoản chi phí phải trả; chi phí trích trước; các khoản dự phòng giảm

giá tài sản; dự phòng phải trả, khấu hao tài sản cố định trong kỳ...

Các nhà quản lý thường không thể thực hiện hành vi điều chỉnh trên các

khoản lợi nhuận bằng tiền. Tuy nhiên, đối với khoản lợi nhuận dồn tích thì

nhà quản lý có thể điều chỉnh khi sử dụng nguyên tắc cơ sở dồn tích trong kế

tốn. Trên lý thuyết, ngun tắc cơ sở dồn tích nhằm đảm bảo doanh nghiệp

phản ánh đúng doanh thu, chi phí trong kỳ nhằm bảo đảm lợi nhuận được

phản ánh một cách trung thực và hợp lý. Trong thực tế, nguyên tắc này có thể

bị lợi dụng để thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận như ghi nhận doanhthu

khi chưa phát sinh nghiệp vụ bán hàng, cung cấp dịch vụ hoặc sử dụng việc

trích lập các khoản dự phòng, chi phí phải trả, phân bổ chi phí trả trước nhằm

gia tăng hay giảm bớt chi phí trong kỳ.

Do đó, các nghiên cứu trên thế giới đều cho rằng hành vi quản trị lợi

nhuận của các công ty xuất phát từ các khoản lợi nhuận dồn tích hay còn gọi

là các khoản dồn tích trong lợi nhuận (TA). TA còn được gọi tắt là biến kế

tốn dồn tích.

Khoản dồn tích trong lợi nhuận (TA) được tính bằng cách lấy tổng lợi

nhuận kế tốn sau thuế trừ dòng tiền thuần HĐKD:

TA = Lợi nhuận sau thuế - dòng tiền thuần HĐKD

Tuy nhiên, không thể sử dụng biến TA để đo lường mức độ điều chỉnh

lợi nhuận một cách trực tiếp do trong đó có các khoản dồn tích phù hợp với



17

tình hình kinh doanh thực tế của doanh nghiệp như các khoản doanh thu bán

chịu trong kỳ, các khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá

hàng tồn kho, các khoản chi phí phải trả được trích lập đúng qui định... Do đó,

các nhà nghiên cứu đã tách biến TA ra làm hai thành phần gồm:

-



Các khoản dồn tích khơng thể điều chỉnh (Nondiscretionary accruals



viết tắt là NDA) là các khoản dồn tích được thực hiện theo những định,

nguyên tắc của chuẩn mực và chế độ kế tốn.

-



Các khoản dồn tích có thể điều chỉnh (Discretionay accruals viết tắt



là DA) hay còn gọi là các khoản dồn tích bất thường (abnormal accruals) là

các khoản dồn tích do nhà quản lý thực hiện nhằm mục đích điều chỉnh lợi

nhuận trong kỳ.

Do đó, biến DA mới chính là thước đo phù hợp để đánh giá các nhà quản

lý doanh nghiệp có điều chỉnh lợi nhuận hay khơng. Về nguyên tắc, khi DA

mang giá trị dương thì nhiều khả năng nhà quản lý thổi phồng lợi nhuận.

Ngược lại, trường hợp DA mang giá trị âm thì có khả năng nhà quản lý che

giấu lợi nhuận. Như vậy, biến DA cho thấy có sự điều chỉnh chủ quan từ nhà

quản lý đến lợi nhuận của doanh nghiệp và được xác định như sau:

DA = TA - NDA

Do đó, để xác định DA ta phải ước lượng NDA, các nhà nghiên cứu trên

thế giới đã đưa ra nhiều mơ hình khác nhau, trong đó có ba mơ hình ước

lượng NDA nổi tiếng nhất là: mơ hình của Jones (1991), mơ hình Jones cải

tiến của Dechow, Sloan và Sweeney (1995) và mô hình của Kothari, Leone

and Wasley (2005)

a. Mơ hình Jones (1991)

Mơ hình Jones xác định biến kế dồn tích khơng thể điều chỉnh

(NDA) theo phương trình sau:

NDAt / At-1 = α / At-1 + β1 ∆REVt/At-1 + β2PPEt / At-1



18

Trong đó:

NDAt : Biến dồn tích khơng thể điều chỉnh được năm t.

At-1: Tổng tài sản cuối năm t-1.

∆REVt : Biến động doanh thu thuần năm t.

PPEt : Nguyên giá của tài sản cố định hữu hình năm t.

Trong cơng thức trên tất cả các biến của phương trình đều chia cho A t-1

(tài sản cuối năm t-1) để giảm thiểu rủi ro do phương sai không thuần nhất.

α , β1 , β2 trong công thức trên là những tham số được ước lượng bằng

phương pháp bình phương bé nhất (OLS) của các hệ số a 1, a2, a3 trong mơ

hình sau:

TAt / At-1 = a1 / At-1 + a2 ∆REVt/At-1 + a 3PPEt /At-1 + ε

Phần dư ε trong mơ hình trên đại diện cho biến chưa thể nhận diện được,

bao gồm cả biến dồn tích có thể điều chỉnh (DAt).

Sau khi ước lượng biến dồn tích khơng thể điều chỉnh (NDA), từ phương

trình:

DAt = TAt – NDAt

Ta có:

DAt / At-1 = TAt / At-1 – NDAt / At-1

Từ đó xác định biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh như sau:

DAt / At-1 = TAt / At-1 - a1/ At-1 - a2ΔREVt / At-1- a3PPEt /At-1

Trong mơ hình gốc, Jones (1991) đưa vào phương trình hồi quy chỉ có

hai biến là ΔREV và PPE. Tác giả cho rằng giá trị ΔREV thể hiện sự biến

động doanh thu thuần của doanh nghiệp trong kỳ kế tốn, nó phản ánh tình

hình và mơi trường HĐKD và là khoản mục mang tính khách quan không bị

nhà quản lý lợi dụng để điều chỉnh lợi nhuận trong kỳ. Còn giá trị PPE thể

hiện nguồn lực nội tại của đơn vị trong việc tạo ra doanh thu, đồng thời khoản

mục chi phí khấu hao là một khoản chi phí dồn tích khơng tự ý lớn ảnh hưởng



19

đến tổng lợi nhuận trong kỳ. Bên cạnh đó, hạn chế của mơ hình là khi chọn

REV làm biến nghiên cứu thì có thể doanh thu thuần cũng bị tác động thông

qua các khoản doanh thu bị ghi nhận khơng đúng niên độ và các khoản này có

thể là doanh thu khống của doanh nghiệp.

b. Mơ hình Dechow, Sloan and Sweeney (1995)

Xuất phát từ hạn chế kể trên của mơ hình gốc, các nhà nghiên cứu sau

này đưa thêm biến tăng giảm khoản phải thu khách hàng (ΔREC) vào phương

trình nhằm loại bỏ ảnh hưởng của các khoản doanh thu dồn tích do sự tăng lên

của tài khoản phải thu khách hàng trong kỳ. Qua đó, giá trị doanh thu thuần

tăng thêm phản ánh chính xác hơn mơi trường kinh doanh của doanh nghiệp

trong năm đó. Dechow, Sloan and Sweeney (1995) đã cải tiến mơ hình của

Jones (1991) bằng cách bổ sung thêm sự thay đổi của tài khoản nợ phải thu

(ΔREC) vào mơ hình. Mơ hình Jones được cải tiến như sau:

NDAt / At-1 = α / At-1 + β1 (∆REVt - ∆RECt) /At-1 + β2PPEt / At-1

Trong đó:

ARECt là sự thay đổi trong tài khoản phải thu khách hàng.

c. Mơ hình của Kothari, Leone and Wasley (2005)

Tiếp tục phát triển mơ hình của Jones (1991) và Dechow, Sloan and

Sweeney (1995), Kothari, Leone and Wasley (2005) đã bổ sung thêm biến về

kết quả hoạt động kinh doanh trên tổng tài sản (ROA) vào mơ hình gốc của

Jones (1991) nhằm xem xét mối quan hệ tuyến tính giữa biến kế tốn dồn tích

và kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Mơ hình Kothari, Leone and Wasley

(2005) đề xuất như sau:

NDAt / At-1 = α / At-1 + β1 (∆REVt - ∆RECt) /At-1 + β2PPEt / At-1 + β3ROAt-1

Trong đó:

ROAt-1: Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản của năm t-1



20

1.2. TỶ SUẤT SINH LỢI TRÊN CỔ PHIẾU

1.2.1. Đo lường tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu

Tỷ suất sinh lợi của một tài sản là mức thu nhập mà nhà đầu tư sẽ thu

được trong tương lai trên mỗi đồng vốn đầu tư ban đầu vào tài sản đó. Tỷ suất

sinh lợi được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm giữa lợi nhuận thu được và giá trị

khoản đầu tư bỏ ra.

Tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu là phần lợi nhuận hoặc tổn thất khi đầu tư

vào một danh mục chứng khoán (Jones, 2000). Tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu

đơn giản là sự thay đổi trong giá trị cổ phiếu trong kỳ xem xét chia cho giá

của cổ phiếu đó tại thời điểm đầu kỳ. Hay nói cách khác, tỷ suất sinh lợi được

tính tốn thơng qua khoản thu hồi khi đầu tư vào một cổ phiếu thông thường,

tuân theo giá trị cổ phiếu giữa đầu và cuối của kỳ và thu nhập mà chủ sở hữu

có được từ cổ phiếu đó.

Cơng thức tính TSSL của cổ phiếu



R=



S

+ D1



(P1 – P0)

P0



P1: Giá cổ phiếu tại thời điểm t

Po: Giá cổ phiếu tại thời điểm 0

D1: Giá trị cổ tức nhận được trong khoảng thời gian trên.

Theo nghiên cứu của Moridi và Mousavi (2009), TSSL trên cổ phiếu là

một trong những yếu tố quan trọng nhất để có được lựa chọn đầu tư tốt nhất.

Nhà đầu tư ln tìm cách để có được TSSL cổ phiếu là cao nhất [22].

TSSL trên cổ phiếu được xác định trên thị trường tài chính bởi nhà đầu

tư và các thành phần khác trên thị trường, những người dựa trên thông tin trên

BCTC để đánh giá giá trị và rủi ro của dòng tiền dự kiến của NĐT. Do

đó,TSSL trên cổ phiếu cũng được cho là một chỉ số quan trọng của TTCK

nhằm dự báo tăng trưởng kinh tế trong tương lai. TTCK là nơi để huy động



21

vốn qua việc bán cổ phiếu hoặc phát hành thêm cổ phiếu mới. NQL thường

dựa vào các chỉ tiêu TSSL để có những hành vi quản trị lợi nhuận thích hợp

trước khi cơng bố BCTC nhằm mục đích tác động đến TSSL trên cổ phiếu

theo hướng có lợi nhất cho mình.

1.2.2. Mối quan hệ giữa hành vi quản trị lợi nhuận và mức sinh lợi

trên cổ phiếu

a. Lý thuyết nền tảng về mối quan hệ giữa quản trị lợi nhuận và tỷ

suất sinh lợi trên cổ phiếu

-



Lý thuyết đại diện



Lý thuyết đại diện có nguồn gốc từ lý thuyết kinh tế, được phát triển bởi

Alchian và Demsetz năm 1972, sau đó được Jensen và Meckling phát triển

thêm vào năm 1976.

Lý thuyết đại diện ra đời khi các nhà kinh tế nghiên cứu việc phân chia

rủi ro giữa người ủy quyền và người đại diện do họ có mục tiêu và sự phân

cơng lao động khác nhau. Người ủy quyền (chủ sở hữu) giao phó cơng việc

cho người đại diện thông qua một hợp đồng. Những vấn đề mà lý thuyết

người đại diện nghiên cứu chỉ xuất hiện trong chừng mực mà lợi ích người ủy

quyền và người đại diện có sự khác nhau và nhất là giữa họ có thơng tin

khơng hồn hảo về trạng thái và hành vi của các tác nhân, thông tin không đối

xứng giữa các tác nhân (thường thì người đại diện biết nhiều hơn người ủy

quyền về cơng việc mình phải làm). Sự tồn tại của thơng tin khơng hồn hảo

và thông tin không đối xứng dẫn tới hành vi cơ hội của người đại diện. Sự

khơng hồn hảo, khơng đối xứng về thông tin giữa người ủy quyền và người

đại diện dẫn đến chi phí đại diện. Lý thuyết người đại diện tập trung nghiên

cứu việc xây dựng hợp đồng giữa người ủy quyền và người đại diện. Lý

thuyết đại diện được tiến hành theo hai hướng: nghiên cứu thực chứng và

nghiên cứu chuẩn tắc.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI TRÊN CỔ PHIẾU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×