Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b.Kiểm tra hiện tượng tự tương quan

b.Kiểm tra hiện tượng tự tương quan

Tải bản đầy đủ - 0trang

70

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Kết quả nghiên cứu được thực hiện đối với mẫu nghiên cứu gồm 77

công ty niêm yết giao dịch trong giai đoạn 2005 – 2009 cho thấy mối quan hệ

thuận giữa biến ABSDA đo lường cho chất lượng kiểm toán và biến CRISIS

đại diện cho giai đoạn khủng hoảng tài chính tồn cầu. Điều này cho thấy

rằng trong khủng hoảng thì chất lượng kiểm tốn báo cáo tài chính các cơng

ty niêm yết trên thị trường chứng khốn Việt Nam suy giảm. Kết quả phân

tích còn cho thấy mối quan hệ giữa biến ABSDA và biến LOSS, biến ROA là

các biến đo lường cho hiệu quả hoạt động của đơn vị. Biến LOSS có mối

quan hệ thuận với biến ABSDA tương ứng với nhận định rằng các cơng ty

niêm yết có kết quả kinh doanh thua lỗ có chất lượng kiểm tốn báo cáo tài

chính của cơng ty này suy giảm. Biến ROA có mối quan hệ thuận với biến

ABSDA tương ứng với nhận định rằng các cơng ty niêm yết có hiệu quả hoạt

động kinh doanh suy giảm thì có chất lượng kiểm tốn báo cáo tài chính các

cơng ty này suy giảm theo. Một mối quan hệ đáng lưu ý trong nghiên cứu này

là mối quan hệ giữa biến LNASSET đại diện cho quy mô cơng ty và biến

ABSDA, mối quan hệ này khơng có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 5% tuy

nhiên có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 10%. Điều này để mở một câu hỏi

về mối quan hệ giữa quy mô công ty niêm yết và chất lượng kiểm tốn mà

nhiều nghiên cứu sau này có thể tìm hiểu. Các biến khơng tìm thấy mối quan

hệ có ý nghĩa thống kê với biến ABSDA bao gồm biến GROWTHASSET và

biến BIG 4. Mối quan hệ khơng được tìm thấy giữa biến BIG4 và chất lượng

kiểm toán tương ứng với nhận định rằng không tồn tại sự khác biệt trong chất

lượng kiểm tốn giữa nhóm BIG 4 và nhóm cơng ty kiểm tốn bên ngồi BIG

4 tương ứng với việc kết luận chất lượng kiểm tốn báo cáo tài chính các công

ty niêm yết suy giảm trong khủng hoảng tài chính đối với bối cảnh tồn bộ

Việt Nam là phù hợp.



71



CHƯƠNG 4

KẾT LUẬN TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ KIẾN

NGHỊ NHẰM GIẢM THIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA KHỦNG

HOẢNG TÀI CHÍNH TỒN CẦU TỚI CHẤT LƯỢNG KIỂM

TỐN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC CƠNG TY NIÊM ́T

TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHỐN VIỆT NAM

4.1. KẾT LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu với mục đích tìm hiểu tác động của cuộc khủng hoảng tài

chính tồn cầu giai đoạn 2008 – 2009 tới chất lượng kiểm tốn báo cáo tài

chính các cơng ty niêm yết trên thị trường chứng khốn Việt Nam có kết quả

đạt được rằng chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các cơng ty niêm yết

được đo lường bằng biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh (DA) đã suy giảm

trong giai đoạn khủng hoảng. Kết quả này là ngược với kết quả trong nghiên

cứu của Sotheara Riel và Carl Tano (2014) khi nghiên cứu của Sotheara Riel và

Carl Tano cho kết quả rằng chất lượng kiểm toán được đo lường bằng DA tăng

lên trong giai đoạn khủng hoảng [32]. Khủng hoảng tài chính tác động đến chất

lượng kiểm tốn vì tình trạng khó khăn của khách hàng tạo ra rủi ro kiểm toán

lớn hơn (Cameran, 2005) [11] và vì thế cách thức các cơng ty kiểm tốn, kiểm

tốn viên ứng xử với rủi ro đó quyết định chất lượng kiểm toán. Sotheara Riel

và Carl Tano (2014) cho rằng trong giai đoạn khủng hoảng thì các cơng ty kiểm

toán, kiểm toán viên tại Thụy Điển đã tăng cường chất lượng kiểm tốn nhằm

đối phó với những rủi ro từ khủng hoảng tài chính tồn cầu [32]. Trong khi các

kiểm tốn viên, cơng ty kiểm tốn tại Thụy Điển tăng cường chất lượng kiểm

toán như một biện pháp đối phó với rủi ro mà khủng hoảng mang lại thì tại Việt

Nam với sự suy giảm của chất lượng kiểm tốn thì có cơ sở cho rằng các kiểm

tốn viên, cơng ty kiểm tốn tại Việt Nam đã khơng có biện pháp đối phó với



72

rủi ro mà khủng hoảng tài chính tồn cầu mang lại hay biện pháp mà họ lựa

chọn là khơng phù hợp. Vì thế chính sự khác biệt trong cách thức ứng xử với

rủi ro từ khủng hoảng tài chính mang lại giữa kiểm tốn viên, cơng ty kiểm

toán hai nước dẫn đến sự khác biệt trong biến đổi chất lượng kiểm toán tại hai

nước trong bối cảnh khủng hoảng tài chính tồn cầu. Khác biệt trong kết quả

nghiên cứu này so với kết luận của Sotheara Riel và Carl Tano còn do sự khác

biệt trong mẫu nghiên cứu của hai nghiên cứu. Sotheara Riel và Carl Tano thực

hiện nghiên cứu đối với các công ty niêm yết tại Thụy Điển là nền kinh tế thuộc

Châu Âu với thị trường chứng khoán lâu đời, các quy định và khn khổ pháp

lý liên quan đến chứng khốn, kế tốn, kiểm tốn, cơng bố thơng tin đã được

xây dựng gần như hồn thiện. Bên cạnh đó, chất lượng kiểm toán khi hoạt động

kiểm toán được thực hiện bởi các cơng ty kiểm tốn tại Thụy Điển theo tác giả

cho rằng có sự khác biệt so với chất lượng kiểm tốn khi hoạt động kiểm tốn

thực hiện bởi các cơng ty kiểm toán tại Việt Nam bởi yếu tố kinh nghiệm hoạt

động lâu đời và chất lượng kiểm tốn, tính độc lập, chun nghiệp của kiểm

tốn viên, cơng ty kiểm toán tại Thụy Điển là khác biệt so với Việt Nam. Việt

Nam là nền kinh tế non trẻ, thị trường chứng khoán vừa mới hoạt động từ năm

2000. Sau 8 năm hoạt động đã phải đón nhận ảnh hưởng của khủng hoảng tài

chính tồn cầu. Các quy định pháp lý liên quan đến hoạt động kế tốn, kiểm

tốn, cơng bố thơng tin còn hết sức mới mẻ, chưa hồn thiện và phù hợp với

thực tế trong nước khi chủ yếu là vay mượn các quy định trên thế giới. Mặt

khác hoạt động kế toán, kiểm toán liên quan đến thị trường chứng khốn cũng

còn hết sức mới. Tính chun nghiệp, kinh nghiệm, độc lập của kiểm tốn viên,

cơng ty kiểm toán tại Việt Nam cũng là một dấu hỏi trong bối cảnh non trẻ

chung của nền kinh tế vừa mới hội nhập với thế giới như Việt Nam. Vì vậy,

theo tác giả những khác biệt nêu trên góp phần tạo ra những khác biệt trong sự



73

thay đổi chất lượng kiểm tốn trong bối cảnh ảnh hưởng của khủng hoảng tài

chính toàn cầu tại hai quốc gia, khác biệt trong kết quả của hai nghiên cứu.

Biến DA được sử dụng trong nghiên cứu của tác giả vì nó thỏa mãn quan

điểm của tác giả về đo lường chất lượng kiểm toán như một sự biến đổi liên tục

từ thấp đến cao chứ không phải là một biến nhị phân đơn thuần và DA cũng

biểu diễn được sự thay đổi nhỏ trong chất lượng kiểm tốn. Và vì một sự điều

chỉnh lợi nhuận theo hướng khai khống hay điều chỉnh giảm lợi nhuận đều là

biểu hiện của chất lượng kiểm toán thấp nên giá trị tuyệt đối của DA là ABSDA

được sử dụng để đo lường cho chất lượng kiểm toán trong nghiên cứu này.

Mẫu nghiên cứu của tác giả gồm 77 cơng ty thuộc hai sàn chứng khốn HNX

và HOSE của Việt Nam sau khi đã loại trừ các công ty thuộc khối tài chính,

ngân hàng do cấu trúc tài sản, vốn khác biệt. Với 77 cơng ty thì có tổng cộng

318 quan sát trong nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu cũng đồng thời cho thấy ảnh hưởng của hiệu quả và

kết quả hoạt động kinh doanh của công ty niêm yết đến chất lượng kiểm tốn

báo cáo tài chính các cơng ty này thông qua hai biến quan sát là LOSS và

ROA. Mối quan hệ thuận giữa hiệu quả hoạt động ROA và chất lượng kiểm

tốn được đo lường thơng qua biến ABSDA được tìm thấy trong nghiên cứu

này khác biệt với kết quả nghiên cứu của Sotheara Riel và Carl Tano (2014) khi

Sotheara Riel và Carl Tano khơng tìm thấy mối quan hệ giữa biến ROA và DA

tuy nhiên kết quả về mối quan hệ giữa DA và ROA trong nghiên cứu này lại

phù hợp với kết luận của Camera (2005) và Choi (2011) khi cho rằng các công

ty hoạt động kém hiệu quả hơn sẽ tăng cường điều chỉnh lợi nhuận; tương ứng

với chất lượng kiểm toán suy giảm [11], [15], [32]. Mối quan hệ giữa biến

LOSS và biến ABSDA trong nghiên cứu này cho thấy các công ty niêm yết nếu

có kết quả kinh doanh lỗ thường có mức độ điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo

tài chính tăng lên tương ứng với chất lượng kiểm toán suy giảm, kết quả này



74

đồng nhất với kết quả nghiên cứu của Sotheara Riel và Carl Tano (2014) và

Ashbaugh (2003, trích dẫn bởi Sotheara Riel và Carl Tano, 2014) [32]. Các

phân tích, đánh giá về mối qua hệ giữa biến ROA, LOSS và biến ABSDA đã

dẫn tác giả đến kết luận rằng: Hiệu quả hoạt động và kết quả kinh doanh yếu

kém của các công ty niêm yết trong khủng hoảng tài chính tồn cầu là một

trong những ngun nhân khiến chất lượng kiểm tốn báo cáo tài chính các

cơng ty niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam suy giảm trong

khủng hoảng tài chính tồn cầu.

Kết quả nghiên cứu cũng dẫn đến kết luận rằng các công ty kiểm toán và

kiểm toán viên tại Việt Nam đã thất bại trong việc đối phó với rủi ro của khủng

hoảng tài chính tồn cầu, dẫn đến chất lượng kiểm tốn báo cáo tài chính các

cơng ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam suy giảm trong khủng

hoảng. Mối quan hệ nghịch giữa hiệu quả hoạt động và mức độ điều chỉnh lợi

nhuận trên báo cáo tài chính được đo lường thông qua biến ABSDA được

chứng minh trong nghiên cứu cho thấy rằng khủng hoảng đi cùng với việc gia

tăng điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết tuy nhiên kiểm tốn viên và

cơng ty kiểm tốn đã thất bại trong việc phát hiện các hành vi này do đó khiến

chất lượng kiểm tốn suy giảm. Kết quả này là phù hợp với những chỉ trích của

Sikka (2009) nhằm vào chất lượng kiểm toán trong bối cảnh khủng hoảng tài

chính tồn cầu [30]. Thất bại của các kiểm tốn viên và cơng ty kiểm tốn khi

đối phó với khủng hoảng tài chính tồn cầu dẫn đến sự suy giảm chất lượng

kiểm toán tại Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng có thể do các kiểm tốn

viên, cơng ty kiểm tốn khơng có biện pháp đối phó với khủng hoảng tài chính

tồn cầu hoặc những biện pháp đối phó mà họ đưa ra là khơng phù hợp.

Biến BIG 4 được kiểm nghiệm trong nghiên cứu nhưng cho thấy kết quả

khơng có ý nghĩa về mặt thống kê, điều này chỉ ra rằng không tồn tại hay tồn

tại khoảng cách khơng q lớn về chất lượng lượng kiểm tốn giữa nhóm BIG



75

4 và Non BIG 4. Điều này cũng là cơ sở để kết luận rằng chất lượng kiểm tốn

suy giảm trong khủng hoảng tài chính tồn cầu trong bối cảnh tồn Việt Nam

mà khơng phân biệt giữa các cơng ty nhóm BIG 4 và Non BIG 4. Các biến

khác cũng được kiểm tra trong nghiên cứu bao gồm biến LNASSET và

GROWTHASSET cho thấy không tồn tại ảnh hưởng của hai yếu tố độ lớn của

doanh nghiệp được đo lường bằng tổng tài sản và tốc độ tăng trưởng tài sản

đến chất lượng kiểm tốn báo cáo tài chính các công ty niêm yết. Tuy nhiên với

biến LNASSET như đã đề cập với mức ý nghĩa 10% thì mối quan hệ giữa biến

LNASSET và ABSDA là có ý nghĩa thống kê nên để ngỏ khả năng mà các

nghiên cứu sau này cần làm rõ rằng liệu các công ty niêm yết có quy mơ lớn

hơn có ảnh hưởng đến chất lượng kiểm tốn báo cáo tài chính hay khơng.

Nghiên cứu này cũng nhằm tìm hiểu vấn đề đại diện trong điều kiện

khủng hoảng tài chính tồn cầu. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc tăng mức độ

điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính của các cơng ty niêm yết trong bối

cảnh khủng hoảng tài chính tồn cầu và chỉ rõ hiệu quả hoạt động và kết quả

kinh doanh ảnh hưởng đến mức độ điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp. Do

đó cho thấy khả năng rằng ban quản lý sẽ theo đuổi lợi ích của bản thân mình

và đi ngược lại lợi ích của chủ sở hữu khi tiến hành điều chỉnh lợi nhuận nhằm

phù hợp với mục đích của mình. Chất lượng kiểm tốn báo cáo tài chính suy

giảm cũng cho thấy khả năng kiểm tốn viên đã đứng về phía lợi ích của nhà

quản lý và khơng duy trì được vai trò độc lập của mình. Vì vậy vai trò quan

trọng của kiểm tốn trong việc giải quyết vấn đề bất đối xứng thông tin, mâu

thuẫn lợi ích giữa nhà quản lý và chủ sở hữu doanh nghiệp đặc biệt trong điều

kiện khủng hoảng tài chính bị suy yếu hay thậm chí khơng phát huy được vai

trò của mình. Chất lượng thơng tin trên thị trường chứng khốn vì thế cũng có

thể bị suy giảm trong điều kiện khủng hoảng tài chính tồn cầu. Tác giả cũng

khơng phủ định khả năng rằng có sự thơng đồng của cả ban quản lý và bên chủ



76

sở hữu nhằm điều chỉnh lợi nhuận để nhằm vào các mục tiêu khác nhau bao

gồm giá trị cổ phiếu công ty... Tuy nhiên khả năng này bị hạn chế bởi sự thơng

đồng này có thể chỉ được tiến hành bởi hội đồng quản trị tức bên đại diện

thường trực của cổ đơng và ban quản lý và vì vậy tức khơng phải đại diện cho

tồn bộ các cổ đơng cơng ty.

4.2. CÁC KIẾN NGHỊ

Kết quả của nghiên cứu đã chứng minh cuộc khủng hoảng tài chính tồn

cầu khơng chỉ tác động đến thị trường chứng khoán Việt Nam qua sự lao dốc

của các chỉ số chứng khốn mà còn tác động làm suy giảm chất lượng thông tin

trên thị trường chứng khốn. Khủng hoảng tài chính tồn cầu vừa tác động đến

hoạt động kinh doanh của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán

Việt Nam vừa thúc đẩy các công ty này tăng cường mức điều chỉnh lợi nhuận.

Và các kiểm tốn viên, các cơng ty kiểm tốn phải chịu trách nhiệm chính cho

việc suy giảm chất lượng kiểm tốn cáo tài chính trong điều kiện khủng hoảng

tài chính tồn cầu khi thất bại trong việc đối phó với những rủi ro mà khủng

hoảng mang đến. Những chỉ trích rộng rãi mà các cơng ty kiểm tốn phải nhận

liên quan đến chất lượng kiểm toán trong khủng hoảng tài chính tồn cầu

(Sikka, 2009) là cơ sở để các bên liên quan cần có những biện pháp, chính sách

thích hợp để nâng cao chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính trong điều kiện

khủng hoảng tài chính tồn cầu vì theo nhiều nghiên cứu kinh tế thì khủng

hoảng có tính chu kỳ vì vậy việc xây dựng các chính sách, biện pháp này là cần

thiết nhằm nâng cao chất lượng kiểm tốn báo cáo tài chính nhằm hạn chế ảnh

hưởng của khủng hoảng là cần thiết [30].

Với sự cấp thiết đó thì tác giả xin đưa một số kiến nghị cho các bên liên

quan nhằm mục đích nâng cao chất lượng kiểm tốn báo cáo tài chính các cơng

ty niêm yết trong khủng hoảng. Cải thiện chất lượng hoạt động kiểm tốn đòi

hỏi cả sự gia tăng kiểm sốt, quản lý đối với chất lượng kiểm toán từ cả bên



77

trong và bên ngồi. Do đó các kiến nghị được đưa ra đối với cả nhóm đối tượng

bên trong tức đối với các kiểm tốn viên, cơng ty kiểm tốn và nhóm đối tượng

bên ngồi bao gồm: Bộ Tài chính, Hiệp hội nghề nghiệp kế toán – kiểm toán và

các cơ quan ban hành chính sách, kiểm sốt liên quan khác.

- Đối với các kiểm tốn viên và cơng ty kiểm tốn:

+ Các cơng ty kiểm tốn và kiểm tốn viên cần xây dựng một chương

trình kiểm tốn riêng biệt, phù hợp nhằm đối phó với những rủi ro đặc thù

trong điều kiện khủng hoảng kinh tế mà các kiểm toán viên và cơng ty kiểm

tốn có thể gặp phải như trong cuộc khủng hoảng tài chính tồn cầu giai đoạn

2008 – 2009; đặc biệt khi kết quả thực hiện chương trình kiểm tốn đã áp dụng

là sự suy giảm chất lượng kiểm tốn trong khủng hoảng tài chính tồn cầu

tương ứng với thất bại của kiểm tốn viên và cơng ty kiểm tốn trong đối phó

với rủi ro từ cuộc khủng hoảng này.

+ Cơng ty kiểm tốn cần xây dựng chương trình kiểm tra chất lượng kiểm

tốn trong nội bộ đơn vị theo định kỳ hoặc đột xuất trong và sau mùa kiểm toán

như một cách thức nhằm ngăn ngừa các trường hợp có thể tồn tại các cuộc

kiểm tốn khơng đúng quy định, các ý kiến kiểm tốn khơng chính xác được

đưa ra. Trong giai đoạn khủng hoảng, cần tiến hành các cuộc kiểm tra chuyên

đề, tập trung vào các rủi ro kiểm toán mà khủng hoảng mang lại như rủi ro hoạt

động liên tục, rủi ro về điều chỉnh lợi nhuận …

+ Nghi vấn về khả năng của kiểm toán viên khi họ tiến hành hoạt động

kiểm toán chính xác và hiểu được các cơng cụ tài chính phức tạp, hiện đại

trong bối cảnh hiện nay (Sikka, 2009) là cơ sở để yêu cầu các kiểm toán viên

cần nâng cao kiến thức về chứng khốn, các cơng cụ tài chính hiện đại hiện nay

và các cơng ty kiểm tốn có trách nhiệm tài trợ hoặc xây dựng chương trình

cập nhật kiến thức này cho các kiểm tốn viên [30].



78

+ Nghi vấn về tính độc lập của kiểm tốn viên khi có khả năng các kiểm

tốn viên đứng về phía lợi ích của nhà quản lý trong bối cảnh khủng hoảng đặt

u cầu cho các cơng ty kiểm tốn cần nâng cao đạo đức nghề nghiệp của kiểm

toán viên thơng qua các chương trình phù hợp.

- Đối với Hiệp hội nghề nghiệp kế toán – kiểm toán và Bộ Tài chính

cùng các bên liên quan khác:

+ Thất bại của kiểm tốn viên và cơng ty kiểm tốn trong việc đối phó với

rủi ro từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu dẫn đến một sự suy giảm chất

lượng kiểm tốn báo cáo tài chính các cơng ty niêm yết tại Việt Nam được

chứng minh trong nghiên cứu này là minh chứng cho những đòi hỏi rằng cần

có những cơ chế, quy định phải được ban hành nhằm nâng cao vai trò, trách

nhiệm của kiểm tốn viên, cơng ty kiểm toán trong hoạt động kiểm toán cũng

như những quy định nhằm gia tăng hoạt động giám sát, kiểm soát chất lượng

kiểm tốn từ bên ngồi nhằm phát hiện, xử lý kịp thời các cơng ty kiểm tốn,

kiểm tốn viên khơng hồn thành đầy đủ vai trò, trách nhiệm của mình, như:

Cần thành lập một ủy ban giám sát hoạt động kiểm tốn đối với các cơng ty đại

chúng tương tự như ủy ban PCAOB (Ủy ban giám sát hoạt động kiểm tốn cho

các cơng ty đại chúng tại Hoa Kỳ). Ủy ban PCABOB được thành lập theo đạo

luật Sarbanes – Oxley như một nổ lực của chính phủ Hoa Kỳ nhằm nâng cao

chất lượng kiểm toán sau thất bại kiểm tốn nghiêm trọng tại Enron. Sự thành

lập và mơ thức hoạt động của ủy ban PCAOB có thể là mơ hình cho một ủy

ban tương tự tại Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng kiểm tốn đối với các

cơng ty niêm yết. Bên cạnh đó, Hiệp hội nghề nghiệp kiểm tốn và Bộ tài chính

cần tăng cường mức độ các hoạt động kiểm tra chất lượng hoạt động kiểm

toán, đặc biệt đối với các cơng ty kiểm tốn cho các công ty niêm yết. Trong

khủng hoảng, các cuộc kiểm tra này có thể tập trung vào những rủi ro mà

khủng hoảng mang lại, như về chuyên đề hoạt động liên tục hay điều chỉnh lợi



79

nhuận… Bộ Tài chính cần cơng bố rõ ràng cũng như gia tăng trách nhiệm của

kiểm tốn viên và cơng ty kiểm tốn nếu kết quả kiểm toán mà họ tiến hành là

một thất bại kiểm toán hay một sự suy giảm nghiêm trọng chất lượng kiểm

toán, đặc biệt khi thất bại này liên quan đến các công ty niêm yết khi mà thông

tin trên báo cáo tài chính của cơng ty niêm yết ảnh hưởng quan trọng đến nhiều

đối tượng khác nhau, như là một sự răng đe đối với các kiểm toán viên và cơng

ty kiểm tốn phải thực hiện đầy đủ vai trò và phận sự của mình nhằm đưa ra

một ý kiến kiểm tốn chính xác.

+ Hiệp hội nghề nghiệp kế tốn – kiểm tốn và Bộ Tài chính cần tổ chức

thường xuyên các khóa tập huấn, bồi dưỡng kiến thức chuyên mơn kế tốn –

kiểm tốn, tài chính – chứng khốn, nhằm nâng cao năng lực của kiểm toán

viên khi kiểm tốn trong bối cảnh mơi trường tài chính, chứng khốn ngày

càng phức tạp, đa dạng hóa như hiện nay. Đặc biệt, Hiệp hội nghề nghiệp cần

hướng dẫn kiểm toán viên về các rủi ro mà kiểm tốn viên có thể gặp phải khi

kiểm toán trong điều kiện khủng hoảng hay tổ chức các hội thảo trao đổi kinh

nghiệm giữa các kiểm tốn viên, cơng ty kiểm tốn nhằm chia sẽ những kinh

nghiệm trong đối phó với rủi ro kiểm tốn trong điều kiện khủng hoảng.

+ Các khuôn khổ mà các hoạt động kiểm toán tuân thủ, ảnh hưởng đến

chất lượng kiểm toán (Francis, 2011) nên việc Hiệp hội nghề nghiệp và các cơ

quan chính phủ cần hồn thiện hơn nữa hệ thống các quy định, văn bản, các cơ

chế nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kế toán, kiểm toán, tính minh bạch

hay chất lượng thơng tin cơng bố là yếu cần thiết để cải thiện chất lượng hoạt

động kiểm tốn [19]. Ví dụ như ban hành một “Khn khổ chất lượng kiểm

toán” như cách mà Hội đồng báo cáo tài chính Anh (FRC) đã ban hành nhằm

khơi phục lòng tin đối với nghề nghiệp kiểm toán sau khủng hoảng.

Các cổ đông, ngân hàng, nhà đầu tư là các đối tượng chính sử dụng báo

cáo tài chính như một trong những kênh để quyết định việc đầu tư, cho vay hay

đánh giá việc doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn của mình đầu tư như thế nào



80

nên đây cũng là những đối tượng chính chịu ảnh hưởng nếu có sự suy giảm

chất lượng báo cáo tài chính, chất lượng kiểm tốn. Như kết quả nghiên cứu

cho thấy thì trong khủng hoảng thì các doanh nghiệp có một động lực lớn hơn

để điều chỉnh lợi nhuận và báo cáo kiểm toán chứa đựng rủi ro lớn về khả năng

chứa đựng các sai phạm trọng yếu. Chất lượng kiểm toán cũng được xác định

rằng đã suy giảm trong khủng hoảng do đó vai trò của kiểm tốn như cơng cụ

giải quyết vấn đề đại diện đã suy giảm trong khủng hoảng. Các cổ đông, ngân

hàng, nhà đầu tư và các đối tượng khác cần có các biện pháp nhằm hạn chế ảnh

hưởng của việc suy giảm hiệu quả của kiểm toán đến hoạt động đầu tư, cho vay

của mình. Tác giả đưa ra một số ý kiến nhằm giúp các đối tượng trên như là

một cơng cụ bổ trợ cho kiểm tốn trong việc giải quyết vấn đề đại diện trong

doanh nghiệp dưới ảnh hưởng suy giảm hiệu quả của kiểm toán trong khủng

hoảng:

- Hội đồng cổ đông phải yêu cầu ban quản lý doanh nghiệp cung cấp

thêm các báo cáo nội bộ với những khoản thời gian ngắn hơn trong điều kiện

khủng hoảng. Các báo cáo có thể bao gồm: Báo cáo khả năng thanh tốn, báo

cáo chi phí đầu vào, báo cáo doanh thu, báo cáo hiệu quả sản xuất, báo cáo thay

đổi thị phần, báo cáo tác động của khủng hoảng … Các báo cáo này được yêu

cầu cung cấp cho các thành viên hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị theo các

khoản thời gian cố định mà các cổ đông thấy là phù hợp.

- Các ngân hàng, nhà đầu tư cần sử dụng báo cáo tài chính trong giai đoạn

khủng hoảng một cách cẩn trọng hơn khi quyết định các hoạt động cho vay hay

đầu tư. Ngân hàng cần nâng cao chuẩn cho vay và yêu cầu doanh nghiệp cung

cấp một bảng cáo bạch thông tin rõ ràng để quyết định hoạt động cho vay. Nhà

đầu tư cần quyết định sáng suốt hơn và dựa vào nhiều kênh thông tin khác hơn

là chỉ sử dụng các số liệu trên báo cáo tài chính khi đầu tư.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b.Kiểm tra hiện tượng tự tương quan

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x