Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
d. Phân tích kết quả

d. Phân tích kết quả

Tải bản đầy đủ - 0trang

63

biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh ABSDA. Hệ số của biến CRISIS là

0.084 cho thấy trong giai đoạn khủng hoảng tài chính tồn cầu thì các cơng ty

niêm yết có mức độ điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính tăng cao như

là một biểu thị cho sự suy giảm chất lượng kiểm toán hay khủng hoảng tài

chính tồn cầu đã có tác động làm suy giảm chất lượng kiểm tốn báo cáo tài

chính các cơng ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Kết quả

này tuy không đồng nhất với kết quả trong nghiên cứu của Sotheara Riel và

Carl Tano (2014) khi mà Sotheara Riel và Carl Tano tìm thấy mối quan hệ

thuận giữa chất lượng kiểm tốn và khủng hoảng tài chính toàn cầu [32], tuy

nhiên kết luận về mối quan hệ giữa chất lượng kiểm tốn và khủng hoảng tài

chính tồn cầu trong nghiên cứu này lại phù hợp với những chỉ trích đối với

chất lượng kiểm tốn trong giai đoạn khủng hoảng tài chính tồn cầu mà

Sikka (2009) và Holm & Zaman (2012) đã nêu ra trong các nghiên cứu của

mình [23], [30].

Kết quả phân tích hồi quy cho thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê

giữa biến ROA và biến LOSS với biến ABSDA. Hệ số hồi quy của biến ROA

-0.334 và đây cũng là biến tác động mạnh nhất đến ABSDA trong mơ hình,

điều này cho thấy nếu hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty niêm yết bị

suy giảm thì cơng ty sẽ có động lực lớn để tăng cường điều chỉnh lợi nhuận

tương ứng với chất lượng báo cáo tài chính bị suy giảm. Kết quả này là phù

hợp với khẳng định của Choi (2011) và Cameran (2005) rằng các công ty hoạt

động kém hiệu quả sẽ có động lực lớn hơn để điều chỉnh lợi nhuận [11], [15].

Trong khủng hoảng thì có khả năng nhiều cơng ty hoạt động kém hơn bình

thường và điều này dẫn đến khả năng rằng nhiều công ty niêm yết sẽ tăng

cường điều chỉnh lợi nhuận trong khủng hoảng tài chính hay chính hiệu quả

hoạt động yếu kém của công ty là một trong những động lực làm nhiều công

ty tăng cường điều chỉnh lợi nhuận khiến cho chất lượng kiểm toán suy giảm



64

trong bối cảnh khủng hoảng tài chính tồn cầu. Tương tự như biến ROA,

nhưng biến LOSS là chỉ báo mạnh hơn về sự kém hiệu quả trong hoạt động

kinh doanh của công ty. Hệ số hồi quy của biến LOSS là 0.312 chỉ ra rằng nếu

cơng ty có kết quả hoạt động kinh doanh thua lỗ thì cơng ty sẽ tăng cường

điều chỉnh lợi nhuận tương ứng với sự suy giảm chất lượng kiểm toán và điều

này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Ashbaugh (2003, trích dẫn bởi

Sotheara Riel và Carl Tano, 2014) [32]. Mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa

biến LOSS và biến ABSDA cũng đặt ra cơ sở cho khả năng rằng nhiều công

ty chủ ý làm trầm trọng hóa tác động của khủng hoảng nhằm che dấu kết quả

kinh doanh yếu kém từ trước. Điều này phù hợp với lập luận của Kousenidis

(2013) khi cho rằng trong khủng hoảng các cơng ty có thể lựa chọn tăng

cường mức độ dồn tích kế tốn và tham gia vào các vụ tẩy rửa kế toán lớn,

chủ ý tạo lập một khoản lỗ lớn trong điều kiện kinh tế xấu của cuộc khủng

hoảng [26]. Do đó, bối cảnh khủng hoảng tài chính tồn cầu cùng với nhiều

cơng ty niêm yết có kết quả kinh doanh thua lỗ hơn đã khiến các công ty niêm

yết này tăng cường điều chỉnh lợi nhuận hay việc thua lỗ trong hoạt động kinh

doanh của công ty là một trong những động lực khiến doanh nghiệp tăng

cường điều chỉnh lợi nhuận khiến cho chất lượng kiểm tốn suy giảm trong

bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và chất lượng

kiểm toán trong bối cảnh suy giảm chất lượng kiểm tốn trong khủng hoảng

tài chính tồn cầu dẫn đến câu hỏi về vai trò của kiểm tốn viên, cách thức

kiểm tốn viên và các cơng ty kiểm tốn đối phó với khủng hoảng. Nhiều

nghiên cứu đã chỉ rõ rằng trong khủng hoảng thì các cơng ty có một động lực

lớn hơn để tăng cường điều chỉnh lợi nhuận do đó đe dọa đến chất lượng kiểm

tốn và đặt các cơng ty kiểm tốn, kiểm tốn viên vào một rủi ro kiểm tốn

lớn hơn. Nếu các cơng ty kiểm tốn khơng có cách thức ứng phó phù hợp



65

trong điều kiện khủng hoảng tài chính tồn cầu thì rõ ràng có một rủi ro to lớn

rằng các hành vi tăng cường điều chỉnh lợi nhuận do tác động của khủng

hoảng trên báo cáo tài chính của các cơng ty, doanh nghiệp sẽ bị bỏ sót, khơng

bị phát hiện dẫn đến việc suy giảm chất lượng kiểm toán trong bối cảnh

khủng hoảng. Sự suy giảm chất lượng kiểm toán trong khủng hoảng tài chính

tồn cầu tại Việt Nam đã được kết luận cùng mối quan hệ nghịch có ý nghĩa

giữa hiệu quả hoạt động và chất lượng kiểm toán được phát hiện ở trên là

bằng chứng rõ ràng chứng minh rằng các cơng ty kiểm tốn, kiểm tốn viên

đã thất bại trong việc đối phó với rủi ro gia tăng hành vi điều chỉnh lợi nhuận

dẫn đến sự suy giảm chất lượng kiểm toán trong bối cảnh hoảng tài chính tồn

cầu. Hay thất bại của kiểm tốn viên và cơng ty kiểm tốn tại Việt Nam trong

việc ứng phó với rủi ro suy giảm chất lượng kiểm toán mà khủng hoảng tài

chính tồn cầu mang đến là một trong những nguyên nhân làm suy giảm chất

lượng kiểm toán báo cáo tài chính các cơng ty niêm yết tại Việt Nam trong

giai đoạn này.

Một điều đáng quan tâm rằng không có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê

được tìm thấy giữa biến BIG4 và biến phụ thuộc ABSDA và kết quả này là

không giống với các nghiên cứu trước đó được thực hiện bởi DeAngelo

(1981), Choi (2010) [14], [16]. Tuy nhiên kết quả này lại đồng nhất với kết

quả nghiên cứu của Vander Bauwhede (2013, trích dẫn bởi Sotheara Riel và

Carl Tano, 2014) rằng không tồn tại sự khác biệt trong chất lượng kiểm tốn

giữa nhóm khách hàng được kiểm tốn bởi nhóm BIG 4 và bên ngồi nhóm

BIG 4 [32]. Những bê bối kiểm toán gần đây của các đại gia kiểm toán BIG 4

tại Tesco (Pwc), Tier One (KPMG), Lehman Brother (E&Y), ... khẳng định

rằng kết quả của nghiên cứu này là có cơ sở khi hình ảnh của các ơng lớn

kiểm tốn đang ngày càng lu mờ với các bê bối liên tục mà họ mắc phải. Kết

quả này là cơ sở cho kết luận rằng khơng có sự khác biệt trong chất lượng



66

kiểm tốn giữa nhóm BIG 4 và Non BIG 4 trong bối cảnh tại Việt Nam. Qua

đó nghiên cứu có ý nghĩa khi kết luận đối chất lượng kiểm tốn BCTC các

cơng ty niêm yết trên toàn Việt Nam trong bối cảnh, giai đoạn nghiên cứu đã

đề cập mà khơng có sự khác biệt giữa hai nhóm BIG 4 và Non BIG4.

Nghiên cứu này khơng phát hiện ra mối quan hệ có ý nghĩa giữa biến

GROWTHASSET và biến ABSDA. Tuy kết quả này không phù hợp với kết

luận của Madhogarhia (2009) hay Sotheara Riel và Carl Tano (2014) về mối

quan hệ giữa tăng trưởng tài sản và mức độ điều chỉnh lợi nhuận nhưng kết

quả này là phù hợp với nghiên cứu trước đó được thực hiện bởi Manry (2008)

khi kết quả nghiên cứu của Manry khơng tìm thấy mối quan hệ giữa tăng

trưởng tài sản và mức độ điều chỉnh lợi nhuận [27], [28], [32]. Một mối quan

hệ không được kiểm chứng trong nghiên cứu này mà rất đáng lưu ý đó là mối

quan hệ giữa biến LNASSET và biến ABSDA. Như đã đề cập với mức ý

nghĩa 10% thì mối quan hệ này sẽ có ý nghĩa thống kê và biến LNASSET sẽ

là một biến độc lập trong mơ hình và điều này để ngõ khả năng rằng các cơng

ty có quy mơ càng lớn thì mức độ điều chỉnh lợi nhuận trên báo tài chính càng

lớn hơn hay khả năng tính độc lập của kiểm tốn viên bị ảnh hưởng khi kiểm

tốn cho các cơng ty lớn. Và độ lớn của cơng ty có thể là một nhân tố ảnh

hưởng tiêu cực đến chất lượng kiểm toán mà các nghiên cứu khác sau này có

thể làm rõ hơn khi mà nghiên cứu này chưa kết luận được.

3.2. KIỂM ĐỊNH GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

3.2.1. Kiểm định giả thuyết

Nhiều lý do để các doanh nghiệp thực hiện điều chỉnh lợi nhuận trong

điều kiện kinh tế khó khăn như khủng hoảng tài chính tồn cầu, theo

Kousenidis (2013) thì điều kiện kinh tế khó khăn là một “chậu rửa lớn” khi

các doanh nghiệp dựa vào yếu tố khó khăn này để đưa ra một kết quả kinh

doanh nghèo nàn hơn, hay theo Choi (2011) rằng việc điều chỉnh lợi nhuận



67

nhằm che dấu kết quả kinh doanh kém hiệu quả, đặc biệt khi kết quả yếu kém

này đặt doanh nghiệp vào các tình huống phải chịu các cam kết bất lợi hay vi

phạm các giao ước nợ đã ký kết [15], [26]. Cameran (2005) cho rằng khủng

hoảng tài chính có thể tác động đến chất lượng kiểm tốn vì tình trạng khó

khăn của khách hàng tạo ra rủi ro kiểm toán lớn hơn [11]. Cách thức các kiểm

tốn viên, cơng ty kiểm tốn ứng xử với những rủi ro này sẽ quyết định chất

lượng kiểm tốn trong bối cảnh khủng hoảng. Tìm hiểu tác động của khủng

hoảng tài chính tồn cầu lên chất lượng kiểm toán mà Camera đã đề cập hay

mối quan hệ giữa khủng hoảng tài chính và chất lượng kiểm tốn, các phân

tích và đánh giá đã được tiến hành trong nghiên cứu này cho cơ sở để kết luận

rằng trong khủng hoảng tài chính tồn cầu thì các cơng ty niêm yết trên thị

trường chứng khốn Việt Nam có mức độ điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo

tài chính gia tăng hay chất lượng kiểm tốn báo cáo tài chính các cơng ty

niêm yết trên thị trường chứng khốn Việt Nam suy giảm trong khủng hoảng

tài chính tồn cầu.

Mối quan hệ nghịch được tìm thấy giữa biến ABSDA với biến ROA và

mối quan hệ thuận giữa biến ABSDA với biến LOSS đã chứng minh rằng hiệu

quả hoạt động của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến mức độ điều chỉnh lợi

nhuận trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp hay chất lượng kiểm toán thực

sự bị ảnh hưởng bởi hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Điều này phù hợp

với khẳng định của Cameran (2005) và Choi (2011) rằng các công ty hoạt

động kém hiệu quả sẽ có động lực lớn hơn để điều chỉnh lợi nhuận trong điều

kiện kinh tế khó khăn [11], [15]. Trong bối cảnh tác động của khủng hoảng tài

chính tồn cầu thì nhiều doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả và đạt kết quả

kinh doanh thua lỗ và các công ty niêm yết tại Việt Nam không nằm ngồi

tình trạng chung đó. Mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động kinh doanh và chất

lượng kiểm toán trong bối cảnh chất lượng kiểm tốn báo cáo tài chính các



68

công ty niêm yết suy giảm trong khủng hoảng, cùng các phân tích, đánh giá,

nghiên cứu trước đó đã được đề cập đã đặt ra cơ sở cho khẳng định rằng hiệu

quả hoạt động yếu kém của các công ty niêm yết trong bối cảnh khủng hoảng

tài chính tồn cầu là một trong những nguyên nhân làm chất lượng kiểm tốn

báo cáo tài chính suy giảm trong khủng hoảng tài chính.

Mối quan hệ nghịch giữa ABSDA và hiệu quả hoạt động kinh doanh

được chứng minh ở trên cũng tương ứng với nhận định rằng các cơng ty có

kết quả hoạt động yếu kém thường có mức độ điều chỉnh lợi nhuận trên báo

cáo tài chính cao hơn. Điều này đặt ra câu hỏi về vai trò của các kiểm tốn

viên, cơng ty kiểm tốn trong việc đối phó với rủi ro của khủng hoảng tài

chính tồn cầu khi các doanh nghiệp có kết quả hoạt động khơng thuận lợi

thường có một mức độ điều chỉnh lợi nhuận cao hơn trên báo cáo tài chính

của mình. Chất lượng kiểm tốn suy giảm trong bối cảnh khủng hoảng tài

chính tồn cầu do đó có nguyên nhân quan trọng bởi sự thất bại trong việc đối

phó với rủi ro mà cuộc khủng hoảng này mang lại của kiểm tốn viên và cơng

ty kiểm tốn.

Kết quả phân tích các biến trong mơ hình bao gồm biến LOSS, ROA và

biến CRISIS cho thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê với biến ABSDA như

đã phân tích ở trên đây chứng minh cho giả thuyết được đưa ra rằng: “Chất

lượng kiểm toán báo cáo tài chính các cơng ty niêm yết trên thị trường chứng

khốn Việt Nam suy giảm trong khủng hoảng tài chính tồn cầu” là đúng.

3.2.2 Kiểm tra các điều kiện vận dụng mơ hình

a.Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến

 Giả thuyết:

Ho: Mơ hình nghiên cứu khơng tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến

H1: Mơ hình nghiên cứu có tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến

 Kiểm định giả thuyết về hiện tượng đa cộng tuyến



69

Ta sử dụng giá trị nhân tử phóng đại phương sai VIF để kiểm tra hiện

tượng đa cộng tuyến trong mơ hình. Theo Hồng Trọng – Chu Nguyễn Mộng

Ngọc (2008) thì nếu giá trị VIF vượt quá 10 thì đó là dấu hiệu tồn tại đa cộng

tuyến nên nếu giá trị VIF của các nhân tố đều nhỏ hơn 10 thì chấp nhận giả

thuyết Ho tức thừa nhận mơ hình khơng tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến [6].

Từ bảng 3.7 ta có thấy giá trị VIF của các nhân tố đều nhỏ hơn 10 tức

thừa nhận rằng mơ hình đang nghiên cứu khơng tồn tại hiện tượng đa cộng

tuyến.

b.Kiểm tra hiện tượng tự tương quan

 Giả thuyết:

Ho: Mơ hình nghiên cứu có tồn tại hiện tượng tự tương quan

H1: Mơ hình nghiên cứu khơng tồn tại hiện tượng tự tương quan

 Kiểm định giả thuyết sự tự tương quan

Để kiểm tra có hay khơng tồn tại hiện tượng tự tương quan trong mơ

hình ta sử dụng kiểm định Dubin Waston. Từ bảng 3.7 trên ta có thể thấy

được giá trị d: Durbin – Waston của mô hình là 2.002 gần xấp xỉ bằng với giá

trị 2 nên có cơ sở để thừa nhận rằng mơ hình không tồn tại hiện tượng tự

tương quan.

Vậy thừa nhận giả thuyết H1 rằng mơ hình nghiên cứu khơng tồn tại hiện

tượng tự tương quan.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

d. Phân tích kết quả

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x