Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
i. Các yếu tố khác

i. Các yếu tố khác

Tải bản đầy đủ - 0trang

16

toán viên của Gramling (1999) cho thấy rằng chất lượng kiểm tốn có thể bị

suy giảm do sự sụt giảm thời gian kiểm tốn để duy trì lợi nhuận [22].

1.2.3. Mối quan hệ giữa chất lượng kiểm toán và chất lượng báo cáo

tài chính

a. Mối quan hệ giữa chất lượng kiểm tốn và chất lượng báo cáo tài

chính.

Chất lượng kiểm toán là một phần của chất lượng báo cáo tài chính

(trong nghiên cứu này tác giả ngầm định báo cáo tài chính là báo cáo tài chính

sau kiểm tốn) vì chất lượng kiểm toán làm tăng chất lượng báo cáo tài chính

(Defond và Zhang, 2013) [17]. Tuy nhiên chất lượng kiểm tốn khơng phải là

thành phần duy nhất của chất lượng báo cáo tài chính, chất lượng báo cáo tài

chính còn bị ảnh hưởng bởi chất lượng báo cáo tài chính trước kiểm tốn

được quyết định bởi hệ thống báo cáo tài chính hay hệ thống thơng tin tài

chính của công ty. Mối quan hệ này được Defond và Zhang (2013) biểu diễn

quan cơng thức [17]:

FRQ = f(AQ,R,I)

Trong đó:

FRQ: Chất lượng báo cáo tài chính

AQ: Chất lượng kiểm tốn

R: Hệ thống báo cáo tài chính

I: Đặc điểm nội tại của cơng ty

Chất lượng kiểm tốn theo đó chỉ đảm bảo chất lượng báo cáo tài chính

phù hợp với với hệ thống báo cáo tài chính và đặc điểm nội tại của doanh

nghiệp.

Chất lượng kiểm tốn có thể được suy ra từ chất lượng lợi nhuận, chất

lượng kiểm toán cao hơn là sự giảm bớt mức độ điều chỉnh lợi nhuận và gia

tăng tính thơng tin của báo cáo tài chính (Jueming Bing, Chu, X.H , Anqui Li,



17

Xinyi Zhu, 2014) [24]. Balsam (2003, trích dẫn bởi Jueming Bing, Chu, X.H,

Anqui Li, Xinyi Zhu, 2014) cho rằng tồn tại mối quan hệ thuận giữa chất

lượng kiểm toán và chất lượng báo cáo tài chính được đo lường bằng chất

lượng lợi nhuận [24]. Nếu chất lượng lợi nhuận là cao, tính thơng tin và hữu

dụng của lợi nhuận sẽ mang tính phù hợp cao hơn. Các nghiên cứu gần đây

đồng ý rằng chất lượng kiểm toán là chất lượng lợi nhuận của báo cáo tài

chính đã được kiểm tốn (Francis, 2011) [19]. Nhiều nghiên cứu sử dụng chất

lượng báo cáo tài chính đo lường bằng chất lượng lợi nhuận làm đại diện cho

chất lượng kiểm toán bao gồm: Balsam (2003), Carey và Simnett (2006),

Francis and Yu (2009), Choi (2010), Francis (2011), Gunny và Zhang (2012),

Svanstrom (2013) (Jueming Bing, Chu, X.H, Anqui Li, Xinyi Zhu, 2014) [24]



b. Chất lượng lợi nhuận

Chất lượng lợi nhuận có được khi báo cáo lợi nhuận đảm bảo cung cấp

thông tin trung thực về chỉ tiêu lợi nhuận cũng như hoạt động kinh doanh của

doanh nghiệp. Koh (2013; trích dẫn bởi Jueming Bing, Chu, X.H, Anqui Li,

Xinyi Zhu, 2014) cho rằng tồn tại hệ thống khen thưởng cho nhà quản lý dựa

vào việc liệu cơng ty có đạt được hay vượt qua mục tiêu lợi nhuận đặt ra

không [24]. Do đó có một khả năng rõ ràng rằng các nhà quản lý có động lực

để thực hiện điều chỉnh lợi nhuận. Francis and Yu (2009, trích dẫn bởi

Jueming Bing, Chu, X.H, Anqui Li, Xinyi Zhu, 2014) công bố kết quả nghiên

cứu rằng có một tỷ lệ cao bất thường các công ty vừa đủ mức đạt mục tiêu lợi

nhuận và một tỷ lệ thấp bất thường các công ty gần đạt mức mức chỉ tiêu lợi

nhuận và Francis and Yu (2009) cũng cho rằng đây là bằng chứng cho việc

các công ty đang thực hiện quản trị lợi nhuận, điều chỉnh lợi nhuận nhằm đạt

mục tiêu lợi nhuận đề ra [24]. Jueming Bing, Chu, X.H, Anqui Li, Xinyi Zhu

(2014) cho rằng chất lượng kiểm tốn là cao nếu khơng có việc điều chỉnh lợi



18

nhuận này; và do đó, nếu kiểm tốn viên phát hiện việc điều chỉnh lợi nhuận

thì báo cáo tài chính sẽ trung thực hơn [24]. Tuy nhiên nếu doanh nghiệp

không tiến hành quản trị lợi nhuận thì sẽ ít khả năng đạt được hay vượt mức

mục tiêu lợi nhuận đề ra (Francis and Yu, 2009, trích dẫn bởi Jueming Bing,

Chu, X.H, Anqui Li, Xinyi Zhu, 2014) [24]. Vì vậy theo Jueming Bing, Chu,

X.H, Anqui Li, Xinyi Zhu (2014) thì việc “đạt hay vượt mức lợi nhuận” tương

ứng với khả năng tồn tại hay không tồn tại quản trị lợi nhuận là một cách thức

logic để đo lường chất lượng lợi nhuận cũng như chất lượng kiểm toán [24].

Jueming Bing, Chu, X.H, Anqui Li, Xinyi Zhu (2014) cũng cho rằng quản trị

lợi nhuận liên quan chặt chẽ đến việc điều chỉnh mức độ dồn tích kế tốn hay

các nhà quản lý thường điều chỉnh mức độ dồn tích kế tốn để đạt hay vượt

mục tiêu lợi nhuận đề ra [24].

1.2.4. Đo lường chất lượng kiểm toán

Các nghiên cứu trước đây về chất lượng kiểm toán sử dụng nhiều biến

quan sát khác nhau để đo lường chất lượng kiểm tốn. Chất lượng kiểm tốn

là một khái niệm khó quan sát và định lượng cũng như việc người sử dụng

báo cáo tài chính khơng thể hồn tồn nhìn thấy các mức độ bảo đảm được

cung cấp bởi các công ty kiểm toán (DeFond & Zhang, 2013) [17]. Phần dưới

đây trình bày các quan sát đại diện để đo lường chất lượng kiểm toán. Các

quan sát đại diện này được chia làm hai loại là đo lường dựa vào yếu tố đầu

vào và đo lường dựa vào yếu tố đầu ra.

a. Phép đo dựa vào yếu tố đầu vào

Đo lường dựa vào các yếu tố đầu vào được sử dụng cho các nghiên cứu

chú ý đến yếu tố đầu vào của kiểm tốn. Nhưng vì đầu vào kiểm tốn khơng

đảm bảo rằng chúng tương ứng với kết quả kiểm toán và do đó quan sát này

khá khơng ổn để do lường chất lượng kiểm toán (Defond & Zhang, 2013)

[17]. Dưới đây là các yếu tố đầu vào dùng để đo lường chất lượng kiểm toán.

 Đặc điểm kiểm toán



19

Đặc điểm kiểm tốn như là độ lớn của cơng ty kiểm tốn; thường được

chia thành nhóm BIG 4 hay khơng phải BIG 4, tức trong nhóm 4 cơng ty

kiểm tốn lớn nhất thế giới hay ngồi nhóm này; hoặc chun ngành kiểm

tốn (khách hàng tập trung vào nhóm ngành nào). DeAngelo (1981) cho rằng

các cơng ty kiểm tốn lớn độc lập tài chính hơn các cơng ty kiểm tốn nhỏ vì

họ khơng phụ thuộc vào một nguồn tài chính duy nhất nào và họ có danh

tiếng có thể bị mất đi và họ phải duy trì sự độc lập để tránh đánh mất danh

tiếng này hay dính vào các cuộc kiện tụng [16]. Các cơng ty kiểm tốn lớn

chịu chi phí vô cùng lớn để xây dựng thương hiệu và uy tín (Francis &

Wilson, 1988) [20]. Do đó chất lượng kiểm tốn được cung cấp bởi các cơng

ty kiểm tốn lớn được cho rằng thường cao hơn nhóm còn lại. Đặc điểm kiểm

tốn bao gồm độ lớn của cơng ty thường được sử dụng như một biến độc lập

để biểu diễn chất lượng kiểm toán hoặc một biến phụ thuộc trong mơ hình

nghiên cứu chất lượng kiểm tốn. Nhưng biến này có nhược điểm là đây là

một biến nhị phân hay chất lượng kiểm toán theo quan sát này được cho rằng

như nhau trong hai nhóm chất lượng thấp và cao (Defond và Zhang, 2013)

[17].

 Phí kiểm tốn

Phí kiểm tốn là một quan sát phổ biến thường được sử dụng để đo

lường chất lượng kiểm toán. Các nghiên cứu sử dụng phí kiểm tốn để đo

lường chất lượng kiểm tốn cho rằng phí kiểm tốn đại diện cho cả hai yếu tố

cung và cầu kiểm toán hay khách hàng sẵn sàng trả phí kiểm tốn cao hơn cho

kết quả kiểm tốn chất lượng hơn. Đồng thời họ cũng cho rằng lợi thế của

quan sát này là nó là phép đo liên tục có thể nắm bắt được sự thay đổi nhỏ

trong chất lượng kiểm toán. Một nhược điểm lớn của quan sát này đó là chi

phí kiểm tốn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác (Defond & Zhang, 2013

[17]).



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

i. Các yếu tố khác

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x