Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
GIẢ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

GIẢ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

38

nghiệp khác có một động lực để thực hiện điều chỉnh lợi nhuận trong khủng

hoảng nhằm che dấu lợi nhuận hoặc lỗ thực tế của doanh nghiệp, đặc biệt

trong các tình huống khi hiệu quả kinh tế kém của doanh nghiệp đặt họ vào

các tình huống vi phạm các điều khoản kinh tế hoặc các giao ước nợ liên quan

[15]. Khủng hoảng tài chính có thể tác động đến chất lượng kiểm tốn vì tình

trạng khó khăn của khách hàng tạo ra rủi ro kiểm toán lớn hơn (Cameran,

2005) [11] và chính cách thức các cơng ty kiểm tốn, kiểm toán viên ứng xử

với những rủi ro này quyết định chất lượng kiểm toán biến đổi như thế nào

trong khủng hoảng. Các rủi ro mà doanh nghiệp thực hiện các hành vi khơng

minh bạch trong khủng hoảng tài chính tương ứng với các rủi ro mà kiểm tốn

viên có thể đưa ra các ý kiến khơng chính xác về thực trạng của doanh nghiệp

được kiểm toán hay rủi ro về chất lượng kiểm toán suy giảm dưới tác động

của khủng hoảng tài chính. Đặc biệt đối với các cơng ty niêm yết thì động cơ

điều chỉnh lợi nhuận của nhóm này rõ ràng hơn khi mà tác động của hiệu quả

kinh doanh, lợi nhuận được trình bày trên báo cáo tài chính ảnh hưởng mạnh

tới giá trị thị trường, nguồn vốn, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, do

đó rủi ro về việc đưa ra ý kiến kiểm tốn khơng chính xác hay rủi ro chất

lượng kiểm tốn đối với nhóm cơng ty niêm yết suy giảm là nghiêm trọng

hơn. Nhiều nhận định của các nhà nghiên cứu trên thế giới nêu rõ ảnh hưởng

tiêu cực của khủng hoảng tài chính tới chất lượng kiểm tốn. Holm & Zaman

(2012) đánh giá rằng khủng hoảng tài chính tồn cầu và những thất bại, sụp

đổ của các công ty mà cuộc khủng hoảng tài chính tồn cầu gây ra đã dấy lên

nhiều lời chỉ trích về nghề nghiệp kiểm tốn và tạo áp lực nhằm nâng cao chất

lượng kiểm toán [23]. Quy trình kiểm tốn và khả năng của kiểm tốn viên bị

đặt dấu hỏi trong cuộc khủng hoảng (Sikka, 2009) [30]. Liệu chất lượng kiểm

tốn báo cáo tài chính các cơng ty niêm yết trên thị trường chứng khoán tại



39

Việt Nam sẽ suy giảm dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tồn

cầu. Giả thuyết nghiên cứu được đặt ra là:

H1: Chất lượng kiểm tốn báo cáo tài chính các cơng ty niêm yết trên

thị trường chứng khốn Việt Nam suy giảm trong cuộc khủng hoảng tài chính

tồn cầu.

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Chọn mẫu và dữ liệu thực hiện nghiên cứu

Mẫu nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên từ tổng thể là các công ty niêm

yết giao dịch trên hai sàn giao dịch chứng khoán HNX và HOSE trong giai

đoạn 2005 – 2009 nhưng không bao gồm các công ty tài chính và ngân hàng.

Phương pháp chọn mẫu:

- Nghiên cứu chỉ tập trung vào các cơng ty niêm yết vì các cơng ty này

có sự tách biệt giữa chủ sở hữu và nhà quản lý và vì thế thơng tin kiểm tốn là

rất quan trọng và mục đích của nghiên cứu này cũng đồng thời tìm hiểu vấn

đề đại diện trong điều kiện khủng hoảng tài chính tồn cầu nên các công ty

niêm yết là đối tượng phù hợp nhất để nghiên cứu vấn đề này.

- Các công ty được lựa chọn phải bắt đầu niêm yết trên thị trường

chứng khốn từ năm 2006 trở về trước và khơng có hành động hủy niêm yết

trong giai đoạn nghiên cứu. Từ hơn 150 công ty niêm yết từ năm 2006 trở về

trước, sau khi loại trừ các cơng ty thuộc nhóm tài chính và ngân hàng thì có

khoảng 130 cơng ty niêm yết phù hợp. Và báo cáo kiểm toán mà các công ty

này nhận được trong giai đoạn nghiên cứu phải có ý kiến kiểm tốn chấp nhận

tồn phần hoặc ý kiến chấp nhận từng phần (ngoại trừ) và yếu tố ngoại trừ

được cơng bố trong báo cáo kiểm tốn không ảnh hưởng trọng yếu đến lợi

nhuận của công ty. Sau khi loại trừ các yếu tố trên tổng thể còn lại 110 cơng

ty – đây là tổng thể cuối cùng phù hợp để thực hiện chọn mẫu trong nghiên

cứu.



40

- Chọn mẫu ngẫu nhiên 80 công ty trong tổng thể này bằng hàm ngẫu

nhiên không lặp của phần mềm Microsoft Excel. Như vậy số mẫu được chọn

đảm bảo trên mức 50% số công ty trong tổng thể.

- Kết quả mẫu chọn được bao gồm 26 công ty niêm yết trên sàn HNX

và 54 công ty niêm yết trên sàn HOSE. Tổng cộng là 80 công ty được chọn

trong mẫu.

Dữ liệu thu thập để thực hiện nghiên cứu được lấy từ bảng cân đối kế

toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ đã

được kiểm toán và báo cáo kiểm toán tương ứng trong giai đoạn 2004 – 2009

được công bố bởi các công ty trong mẫu được chọn. Đối tượng của nghiên

cứu này là các công ty niêm yết trong giai đoạn 2005 – 2009, tuy nhiên để

tính tốn được dữ liệu trong mơ hình nghiên cứu thì số liệu được thu thập đối

với các công ty này trong giai đoạn 2004 – 2009 như đã trình bày.

Trong quá trình thu thập dữ liệu nếu công ty nào mà tác giả không thể

thu thập được dữ liệu đầy đủ hoặc dữ liệu không phù hợp thì cơng ty đó sẽ bị

loại ra khỏi mẫu.

2.2.2. Đo lường chất lượng kiểm toán

a. Đo lường chất lượng kiểm toán

Jueming Bing, Chu, X.H, Anqui Li, Xinyi Zhu (2014) cho rằng việc đo

lường mức độ điều chỉnh lợi nhuận là một phương thức phù hợp để đo lường

chất lượng lợi nhuận cũng như chất lượng kiểm toán [24]. Và Jueming Bing,

Chu, X.H, Anqui Li, Xinyi Zhu (2014) cũng nhận định rằng biến kế tốn dồn

tích có thể điều chỉnh (DA) là một trong những quan sát phổ biến nhất để đại

diện cho chất lượng lợi nhuận cũng như chất lượng kiểm toán [24]. Tác giả

nhận thấy rằng biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh (DA) là một biến đại

diện phù hợp để để đo lường chất lượng kiểm tốn trong nghiên cứu này. Tuy

rằng có những hạn chế như chưa thống nhất về cách thức đo lường DA cũng



41

như đây không phải là một quan sát trực tiếp đo lường chất lượng kiểm toán

như là ý kiến kiểm toán (Defond và Zhang, 2013) [17], tuy nhiên quan sát này

có những ưu điểm mà nhiều phép đo khác khơng có được như đo lường được

sự thay đổi nhỏ của chất lượng kiểm toán kể cả trong phạm vi chuẩn mực kế

toán như đã đề cập bởi Defond và Zhang (2013) [17], cũng như phù hợp với

nhận định của tác giả rằng chất lượng kiểm toán là sự biến đổi liên tục từ cao

xuống thấp. Đồng thời phép đo này phù hợp với một cỡ mẫu nhỏ và một

khung thời gian nghiên cứu ngắn (Sotheara Riel và Carl Tano, 2014) [32], như

trong nghiên cứu của tác giả nên tác giả cho rằng phù hợp khi sử dụng biến kế

toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) để đo lường cho chất lượng kiểm toán

trong nghiên cứu này.

Chất lượng kiểm tốn có thể được suy ra từ chất lượng lợi nhuận, chất

lượng kiểm toán cao hơn là sự giảm bớt mức độ điều chỉnh lợi nhuận và gia

tăng tính thơng tin của báo cáo tài chính (Jueming Bing, Chu, X.H, Anqui Li,

Xinyi Zhu, 2014) [24]. Nhận định rằng báo cáo tài chính đã được kiểm tốn

nhưng vẫn tồn tại hành vi điều chỉnh lợi nhuận là sự phản ánh không thực tế

tình hình lợi nhuận cũng như hoạt động kinh tế của đơn vị tương ứng với sự

suy giảm chất lượng kiểm toán. Mức độ điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài

chính sau kiểm tốn đi ngược lại với mức độ trung thực của thông tin mà báo

cáo tài chính sau kiểm tốn truyền tải tới cổ đơng, nhà đầu tư và đối tượng sử

dụng khác về tình hình lợi nhuận và thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh tại

đơn vị, đo đó mức độ gia tăng điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính sau

kiểm tốn là đi ngược lại với chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính. Trong

nghiên cứu này, tác giả tính tốn biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh (DA)

dựa trên báo cáo tài chính đã được kiểm tốn của đơn vị nhằm đo lường cho

chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính. Điều này là thống nhất và phù hợp

với nhiều nghiên cứu khác trên thế giới khi đo lường chất lượng kiểm toán.



42

Đồng thời, trong phạm vi nghiên cứu này thì tác giả ngầm định rằng báo cáo

tài chính là báo cáo tài chính sau kiểm tốn và các số liệu được đưa ra tính

tốn, trình bày đều được ngầm định là số liệu cuối cùng trên báo cáo tài chính

đã được kiểm tốn của đơn vị.

b. Mơ hình tính tốn biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh

Như đã đề cập, biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh (DA) được sử

dụng để làm quan sát đại diện cho chất lượng kiểm toán trong nghiên cứu này

vì nó phù hợp với nhận định của tác giả về chất lượng kiểm tốn cũng như

tính phù hợp của phương pháp đo lường này với một nghiên cứu có cỡ mẫu

nhỏ và thời gian nghiên cứu ngắn như nghiên cứu này. Nhiều mơ hình nghiên

cứu được sử dụng để đo lường biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh (DA).

Trong những nghiên cứu này, nhiều biến được sử dụng để đo lường bao gồm:

Tài sản (Healy 1985, DeAngelo 1986), Doanh thu (Friedlan 1994, Aharony,

Lee và Wong, 2000), sự thay đổi trong doanh thu và mức độ khấu hao tài sản,

máy móc, thiết bị (Jones, 1991) (Tianran, 2000) [34]. Trong đó mơ hình phổ

biến nhất để đo lường biến kế tốn dồn tích là mơ hình Modified Jones

(1995). Mơ hình này cũng được chứng minh là hiệu quả nhất trong việc phát

hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận (Tianran, 2000) [34]. Tuy nhiên việc áp

dụng mơ hình Jones (1991) hay Modified Jones (1995) đối với nghiên cứu

này đòi hỏi việc thu thập và phân tích một quy mơ dữ liệu lớn với số lượng

quan sát rất nhiều trong thời gian dài, đây là điều vơ cùng khó khăn đối với

quy mô của nghiên cứu này cũng như thực tế tại điều kiện Việt Nam khi hoạt

động chứng khoán vừa mới được hình thành năm 2000 và các cơng ty niêm

yết tại Việt Nam còn hết sức non trẻ. Việc thu thập số liệu phù hợp để sử dụng

mô hình Jones (1991) hay Modified Jones (1995) nhằm tính tốn biến kế tốn

dồn tích có thể điều chỉnh (DA) trong bối cảnh thời gian của nghiên cứu này

tức giai đoạn 2005 – 2009 là khơng thể thực hiện. Tìm kiếm một mơ hình hiệu



43

quả để thay thế mơ hình Modified Jones (1995) cũng như mơ hình Jones

(1991) trong việc đo lường biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh DA, tác giả

nhận thấy mơ hình Friedlan (1994), điều chỉnh từ mơ hình DeAngelo (1986)

là phù hợp khi so sánh hiệu quả của mơ hình này với những mơ hình còn lại

trong việc tính tốn biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh (DA). Lựa chọn

mơ hình Friedlan (1994) nhằm thay thế cho mơ hình Jones (1991) để tính tốn

biến kế tốn đồn tích có thể điều chỉnh DA khi có những hạn chế trong việc

thu thập, phân tích dữ liệu đã được tiến hành trong các nghiên cứu của

Nguyễn Thị Minh Trang (2012), Nguyễn Thị Uyên Phương (2014) [4], [5] và

được chứng minh hoàn toàn phù hợp và hiệu quả trong việc đo lường biến kế

tốn dồn tích có thể điều chỉnh (DA).

Mơ hình Friedlan (1994) được sử dụng để phát hiện hành vi điều chỉnh

lợi nhuận thông qua việc đo lường biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh.

Biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh (DA) trong mơ hình này được tính

tốn theo cơng thức:

Biến kế tốn



Biến kế tốn dờn tícht



dờn tích có thể



(TAt)



=



điều chỉnht



Biến kế tốn dờn tícht-1

(TAt-1)



-



Doanh thut



Doanh thut-1



(DAt)

Trong đó:

Biến kế tốn dờn tích

(Total Accruals)



=



Lợi nḥn

sau thuế



-



Lưu chuyển tiền th̀n từ

hoạt động kinh doanh



Biến kế tốn dồn tích TA bao gồm biến kế tốn dồn tích khơng điều

chỉnh NDA và biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh DA.

Biến kế tốn

dờn tích



=



Biến kế tốn dờn tích

có thể điều chỉnh được



+



Biến kế tốn dờn tích

khơng thể điều chỉnh



44

được

(Total



(Discretionary



(Non Discretionary



Accruals-TA)



Accruals-DA)



Accruals-NDA)



Ước tính NDA trong mơ hình của DeAngelo chỉ chính xác khi mà NDA

khơng thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên, mức độ hoạt động kinh doanh của

doanh nghiệp ảnh hưởng đến NDA. Nếu hoạt động kinh doanh của doanh

nghiệp đang ở kỳ tăng trưởng với việc đầu tư thêm tài sản, thiết bị và mở rộng

quy mơ kinh doanh thì sẽ dẫn đến NDA biến động. Do đó, mơ hình của

DeAngelo có thể khơng chính xác trong đo lường NDA khi các doanh nghiệp

đang trong thời kỳ phát triển, mở rộng sản xuất. Nhận định rõ nhược điểm của

mơ hình DeAngelo nên Friedlan đã cải tiến mơ hình bằng cách kiểm sốt

phần NDA thay đổi do thay đổi mức độ hoạt động kinh doanh của doanh

nghiệp. Mơ hình của Friedlan là điều chỉnh mơ hình DeAngelo theo biến

doanh thu nhằm kiểm sốt mức độ hoạt đơng của doanh nghiệp. Do đó, nhược

điểm tính tốn giá trị NDA trong thời kì tăng trưởng của doanh nghiệp của mơ

hình DeAngelo (1986) được khắc phục. So sánh tính hiệu quả và phù hợp của

mơ hình Friedlan (1994) điều chỉnh từ mơ hình DeAngelo (1986) với các mơ

hình phổ biến khác đã nêu ra trong nghiên cứu như đã được phân tích trước

đó, nhận thấy đây là mơ hình phù hợp với điều kiện của nghiên cứu cũng như

thực tế hạn chế của cơ sở dữ liệu các công ty niêm yết tại Việt Nam, tác giả

quyết định sử dụng mơ hình này nhằm tính tốn biến kế tốn dồn tích có thể

điều chỉnh (DA) trên báo cáo tài chính đã kiểm tốn của các cơng ty niêm yết

tại Việt Nam nhằm đo lường cho chất lượng kiểm tốn báo cáo tài chính các

cơng ty niêm yết trong nghiên cứu này.

2.2.3. Mơ hình nghiên cứu

Nhiều nghiên cứu sử dụng biến DA để đo lường chất lượng kiểm toán bao

gồm: Balsam (2003), Carey và Simnett (2006), Francis and Yu (2009), Choi



45

(2010), Francis (2011), Gunny và Zhang (2012), Svanstrom (2013) (Jueming

Bing, Chu, X.H, Anqui Li, Xinyi Zhu, 2014) [24]… và nghiên cứu này cũng sử

dụng biến DA để đo lường chất lượng kiểm tốn do tính phù hợp của phép đo với

nhận định của tác giả về chất lượng kiểm toán và thời gian ngắn cũng như cỡ mẫu

nhỏ của nghiên cứu này. Việc sử dụng giá trị tuyệt đối của biến kế tốn dồn tích có

thể điều chỉnh (DA) có thể nắm bắt được cả việc điều chỉnh lợi nhuận theo hướng

tăng và giảm (Koh, 2013, trích dẫn bởi Jueming Bing, Chu, X.H, Anqui Li,

Xinyi Zhu, 2014). Do việc điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính theo hướng

khai khống hay làm giảm lợi nhuận thực tế thì đều là biểu hiện của báo cáo tài

chính chất lượng thấp hay chất lượng kiểm toán thấp nên chất lượng kiểm toán

được đo lường theo giá trị tuyệt đối của biến DA. Giá trị tuyệt đối DA - ABSDA

càng lớn biểu hiện cho chất lượng kiểm toán càng thấp và ngược lại.

Vì nghiên cứu này nhằm mục đích kiểm tra ảnh hưởng của khủng hoảng tài

chính tồn cầu tới chất lượng kiểm toán nên biến khủng hoảng CRISIS là một

trong những biến độc lập của mơ hình. Tìm kiếm mối quan hệ giữa biến CRISIS

với biến đo lường chất lượng kiểm tốn là mối quan tâm chính của nghiên cứu

nhằm trả lời câu hỏi nghiên cứu xem liệu khủng hoảng tài chính tồn cầu có gây

suy giảm chất lượng kiểm tốn hay khơng. Mối quan hệ giữa biến CRISIS và biến

ABSDA nếu được tìm thấy chỉ kết luận rằng trong giai đoạn khủng hoảng tài

chính tồn cầu thì chất lượng kiểm toán thay đổi mà chưa kết luận được nguyên

nhân thay đổi này. Do vậy các biến quan sát khác được thêm vào mơ hình nhằm

tìm hiểu thêm về các nguyên nhân của sự thay đổi chất lượng kiểm tốn có thể

được tìm thấy này.

Cơng ty với hiệu quả hoạt động kinh doanh kém thường có xu hướng tăng

cường điều chỉnh lợi nhuận (Defond và Jiambalvo, 1994, trích dẫn bởi Sotheara

Riel và Carl Tano, 2014) nên các biến đại diện cho hiệu quả hoạt động kinh

doanh bao gồm biến tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản (ROA), biến thua lỗ (LOSS) được



46

đưa vào mơ hình để kiểm tra ảnh hưởng của hiệu quả kinh doanh đến chất lượng

kiểm toán. Bằng việc thêm biến quan sát ROA và LOSS vào mơ hình ta có thể tìm

hiểu xem liệu có phải các doanh nghiệp có hiệu quả hoạt động càng kém thì chất

lượng kiểm tốn các doanh nghiệp này càng kém không, liệu hiệu quả hoạt động

yếu kém của các doanh nghiệp trong khủng hoảng có phải là nguyên nhân khiến

cho chất lượng kiểm tốn suy giảm.

Biến quy mơ khách hàng LNASSET được đo lường bằng logarit cơ số tự

nhiên e của tài sản cũng được bao gồm trong mơ hình khi có những hồi nghi cho

rằng kiểm tốn viên có thể thỏa hiệp tính độc lập của mình khi kiểm toán cho

những khách hàng lớn (Reynolds và Francis, 2000) [29], do đó ảnh hưởng đến

chất lượng kiểm tốn. Mối quan hệ giữa biến LNASSET và biến ABSDA nếu

được phát hiện là bằng chứng cho khả năng có sự suy giảm tính độc lập của kiểm

tốn viên khi kiểm tốn cho các cơng ty có quy mơ lớn hay trong khủng hoảng tài

chính tồn cầu, sự thỏa hiệp tính độc lập của kiểm tốn viên khi kiểm tốn cho các

cơng ty lớn hơn có thể là một trong những nguyên nhân làm suy giảm chất lượng

kiểm toán.

Một biến khác cũng được bao gồm trong nghiên cứu này là biến tăng trưởng

tài sản (GROWTHASSET), một nghiên cứu của Madhogarhia (2009) cho rằng

các cơng ty tăng trưởng cao hơn thường có xu hướng tăng cường điều chỉnh lợi

nhuận [27]. Mối quan hệ nếu được tìm thấy giữa biến GROWTHASSET và biến

đo lường chất lượng kiểm toán sẽ là bằng chứng cho khả năng rằng việc công ty

mở rộng quy mô là một trong những động lực làm công ty tăng cường điều chỉnh

lợi nhuận khiến cho chất lượng BCTC suy giảm hay việc gia tăng quy mô của các

doanh nghiệp trong khủng hoảng tài chính tồn cầu có tác động đến việc suy giảm

chất lượng kiểm tốn báo cáo tài chính.

Các nghiên cứu của DeAngelo (1981), Choi (2010), … cho rằng chất lượng

kiểm tốn được thực hiện bởi nhóm bốn cơng ty kiểm toán lớn BIG 4 bao gồm



47

KPMG, PricewaterhouseCoopers (PWC), Deloitte Touche Tohmatsu (D&T),

Ernst and Young (E&Y) cao hơn các công ty kiểm tốn khác nên biến BIG4 được

đưa vào mơ hình nhằm kiểm tra xem liệu chất lượng kiểm toán của nhóm BIG 4

có thực sự cao hơn các cơng ty bên ngồi BIG 4 – Non BIG 4 khơng [14], [16].

Nếu chất lượng kiểm tốn BCTC giữa nhóm BIG 4 và Non BIG 4 là khác biệt thì

câu hỏi được đặt ra rằng liệu khủng hoảng tài chính tồn cầu có ảnh hưởng đến

chất lượng BCTC của các cơng ty được BIG 4 kiểm tốn như đối với nhóm còn

lại hay khơng hay có sự khác biệt trong thay đổi chất lượng kiểm tốn trong bối

cảnh khủng hoảng tài chính tồn cầu giữa nhóm BIG 4 và Non – BIG 4. Do vậy

biến BIG 4 được bao gồm trong mô hình nhằm kiểm tra có hay khơng sự khác

biệt này.

Mơ hình nghiên cứu được phát triển trong nghiên cứu này là:

ABSDA = β1 + β2ROA + β3BIG4 + β4LOSS + β5LNASSET +

β6GROWTHASSET + β7CRISIS + εi

Bảng 2.1. Bảng tổng hợp các biến trong mơ hình

Biến số

ABSDA



Định nghĩa

Chất lượng kiểm tốn



Đo lường/ Mã hóa

Giá trị tuyệt đối của biến kế toán

dồn tích có thể điều chỉnh DA

(Giá trị ABSDA càng cao thì chất

lượng kiểm tốn càng thấp)

CRISIS

Quan sát đã được thực hiện 0= không trong thời gian khủng

(KHỦNG HOẢNG) trong giai đoạn khủng

khoảng

hoảng hay không (2008- 1= trong thời gian khủng hoảng.

2009)

ROA

Đo lường hiệu quả hoạt

Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản

động của cơng ty được

kiểm tốn

BIG4

Nếu các cơng ty kiểm tốn 0= khơng được kiểm tốn bởi 4

là một trong 4 cơng ty kiểm cơng ty kiểm tốn lớn

tốn lớn: KPMG, E&Y,

1= được kiểm toán bởi một trong



48

D&T hoặc PWC.

4 cơng ty kiểm tốn lớn.

LOSS (LỖ)

Đo hiệu quả hoạt động của 0 = lợi nhuận sau thuế>0

công ty được kiểm toán

1 = lợi nhuận sau thuế<0

GROWTH ASSET Đo lường tăng trưởng của (Tổng tài sản t/ tổng tài sản t-1) -1

(TĂNG TRƯỞNG công ty khách hàng

TÀI SẢN)

LNASSET

Quy mô của các công ty

Logarit tự nhiên của tổng tài sản

( LN TÀI SẢN)

khách hàng theo tổng tài

công ty

sản

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng khủng hoảng tài chính tồn cầu cùng với

điều kiện khó khăn của các doanh nghiệp tạo động lực cho các doanh nghiệp

này tiến hành các hành vi điều chỉnh lợi nhuận tương ứng với rủi ro của kiểm

toán viên khi tiến hành kiểm toán cho các doanh nghiệp này khi có thể bỏ

qua, khơng phát hiện các hành vi điều chỉnh lợi nhuận dẫn đến chất lượng

kiểm tốn suy giảm. Khủng hoảng tài chính có thể tác động đến chất lượng

kiểm tốn vì tình trạng khó khăn của khách hàng tạo ra rủi ro kiểm tốn lớn

hơn (Cameran, 2005) [11] và chính cách thức các cơng ty kiểm tốn, kiểm

tốn viên ứng xử với những rủi ro này quyết định chất lượng kiểm toán biến

đổi như thế nào trong khủng hoảng. Nhiều nghiên cứu trên thế giới chỉ trích

rằng kiểm tốn viên phải chịu trách nhiệm chính trong việc suy giảm chất

lượng kiểm tốn trong bối cảnh khủng hoảng. Do đó giả thuyết nghiên cứu

được đặt ra là: “Chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các cơng ty niêm yết

trên thị trường chứng khốn Việt Nam suy giảm trong cuộc khủng hoảng tài

chính tồn cầu”.

Nghiên cứu được thực hiện dựa trên mẫu được chọn ngẫu nhiên từ

công ty niêm yết giao dịch trên hai sàn HNX và HOSE trong giai đoạn 2005 –

2009. Kết quả chọn mẫu chọn được 80 cơng ty trong đó có 26 cơng ty trên



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

GIẢ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x