Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Có nhiều mô hình nghiên cứu quản trị lợi nhuận thông qua đo lường biến toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) trên thế giới nhưng những mô hình phổ biến nhất bao gồm: The Healy Model (1985), The DeAngelo Model (1986), The Jones Model (1991), Modified Jones

Có nhiều mô hình nghiên cứu quản trị lợi nhuận thông qua đo lường biến toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) trên thế giới nhưng những mô hình phổ biến nhất bao gồm: The Healy Model (1985), The DeAngelo Model (1986), The Jones Model (1991), Modified Jones

Tải bản đầy đủ - 0trang

25

The Jones Model (1991), Modified Jones Model (1995), The Friedlan (1994).

Dưới đây tác giả trình bày tóm tắt các mơ hình phổ biến trên và ưu nhược

điểm của từng mơ hình để tìm ra mơ hình phù hợp cho sử dụng trong nghiên

cứu này.

 The Healy Model (1985)

Discretionary accrualst (DAt) = TAt/At-1 - NDAt

Trong đó:

NDAit



: Non discretionary accruals năm sự kiện t của công ty i



Taiit



: Total accruals năm t của công ty i



Ait



: Tổng tài sản năm t của cơng ty i



n



: Số năm trong kỳ ước tính



t



: t-n; t-n+1; ...; t-1 trong kỳ ước tính



Nghiên cứu của Healy (1985) là nghiên cứu đầu tiên trình bày biến kế

tốn dồn tích như một biến để đo lường quản trị lợi nhuận (Awidat Marai và

Vladan Pavlovic, 2014) [8]. Trong nghiên cứu này Healy chỉ ra rằng biến kế

tốn dồn tích bao gồm biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh (DA) và biến

kế tốn dồn tích khơng thể điều chỉnh (NDA). Nhưng Healy (1985) lại khơng

trình bày sự khác biệt giữa biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh và biến kế

tốn dồn tích khơng thể điều chỉnh (Awidat Marai và Vladan Pavlovic, 2014)

[8]. Healy (1985) cho rằng giá trị trung bình của biến kế tốn dồn tích có thể

điều chỉnh bằng 0 và tổng giá trị biến kế tốn dồn tích bằng tổng giá trị biến

kế tốn dồn tích khơng thể điều chỉnh và do đó giá trị NDA trong mơ hình

khơng đổi theo thời gian.

DeAngelo (1986, trích dẫn bởi Awidat Marai và Vladan Pavlovic, 2014)

cho rằng áp dụng mơ hình Healy (1985) khi giá trị biến kế tốn dồn tích

khơng thể điều chỉnh (NDA) q lớn thì việc tính tốn bằng mơ hình trên có



26

thể đưa ra kết quả sai lầm trong nhận định hành vi quản trị lợi nhuận [8] .Mơ

hình Healy (1985) giả định rằng giá trị biến kế tốn dồn tích khơng thể điều

chỉnh (NDA) không đổi theo thời gian nhưng thực tế giá trị NDA bị biến đổi

khi doanh nghiệp, công ty thay đổi mức độ hoạt động. Mơ hình Healy (1985)

do đó khơng kiểm sốt được được những thay đổi trong mức độ hoạt động

của doanh nghiệp như tăng trưởng quy mơ, mở rộng sản xuất …Do đó việc

tính tốn giá trị biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh (DA) trong mơ hình có

thể khơng chính xác, bị sai lệch nhiều so với thực tế. Tuy nhiên ưu điểm dễ

nhận thấy của mơ hình này đó là việc tính tốn đơn giản.

 The DeAngelo Model (1986)

Biến kế tốn khơng thể điều chỉnh của công ty i tại năm sự kiện t:

Biến kế tốn có thể điều chỉnh của cơng ty i tại năm sự kiện t:

Tương tự như Healy thì DeAngelo cho rằng biến kế tốn dồn tích là biến

đại diện phù hợp để đo lường quản trị lợi nhuận và được đo lường bằng chênh

lệch giữa lợi nhuận sau thuế và dòng tiền thuần từ hoạt động sản xuất kinh

doanh (Awidat Marai và Vladan Pavlovic, 2014) [8]. Trong mơ hình này

DeAngelo giả định rằng năm đầu tiên của kì ước tính thì doanh nghiệp khơng

có hành vi điều chỉnh lợi nhuận hay giá trị biến kế toán dồn tích có thể điều

chỉnh (DA) là 0. Mơ hình của DeAngelo (1986) khác biệt với mơ hình Healy

(1985) khi giá trị biến kế tốn dồn tích khơng thể điều chỉnh (NDA) được đo

lường theo giá trị biến kế dồn tích năm liền trước thay vì trung bình biến kế

tốn dồn tích trong giai đoạn nghiên cứu. DeAngelo (1986) cho rằng sự biến

đổi về mức dộ dồn tích giữa hai kỳ chính là mức độ điều chỉnh lợi nhuận nên

phần biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh (DA) được đo lường bằng chênh

lệch biến kế tốn dồn tích giữa hai kỳ.



27

Mơ hình DeAngelo (1986) cũng giả định rằng giá trị biến kế tốn dồn

tích khơng thể điều chỉnh (NDA) khơng đổi theo thời gian. Do đó tính tốn

trong mơ hình của DeAngelo (1986) cũng chỉ thực sự chính xác khi biến kế

tốn dồn tích khơng thể điều chỉnh khơng đổi theo thời gian. Như đã biết, giá

trị biến kế tốn dồn tích khơng thể điều chỉnh lại chịu ảnh hưởng bởi mức độ

hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nên nếu doanh nghiệp đang trong

thời gian đoạn tăng trưởng, mở rộng quy mơ hoạt động sản xuất kinh doanh

thì giá trị biến kế tốn dồn tích khơng thể điều chỉnh (NDA) có thể biến động

do đó ảnh hưởng đến kết quả tính tốn của mơ hình. Vì vậy mơ hình

DeAngelo (1986) tương tự như mơ hình Healy (1985) có giá trị tính tốn biến

kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh (DA) có thể khơng đúng, sai lệch nhiều so

với thực tế. Đồng thời tương tự như mơ hình Healy (1985) thì ưu điểm dễ

nhận thấy của mơ hình DeAngelo (1986) là dễ dàng trong việc tính tốn giá

trị các biến trong mơ hình.

 The Jones Model (1991)

Trong đó:

REVt



= Doanh thu thuầnt – Doanh thu thuầnt-1



PPEt



: Nguyên giá TSCĐ hữu hình cuối năm t



At-1



: Tổng tài sản cuối năm t-1



α1, α2, α3 : các tham số của từng công ty

Ước tính các tham số α1, α2, α3 thơng qua mơ hình sau ở kỳ ước tính:

Trong đó:

a1, a2, a3 : Kết quả ước tính α1, α2, α3 thơng qua ước tính OLS

TAit



: Total accruals của năm t của cơng ty i



ε



: Residual, tương đương với phần discretionary accruals



28

Nghiên cứu của Jones là một trong những nghiên cứu đầu tiên trình bày

mơ hình trong đó ước lượng sự thay đổi của biến kế tốn dồn tích được dự

đốn thơng qua các biến khác (Awidat Marai và Vladan Pavlovic, 2014) [8].

Jones cho rằng biến doanh thu và mức độ khấu hao tài sản cố định có ảnh

hưởng đến mức độ dồn tích nên Jones thêm hai biến này vào mơ hình tính

tốn biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh (Tianran, 2010) [34]. Theo Jones

(1991, trích dẫn bởi Tianran, 2010) thì biến kế tốn dồn tích khơng thể điều

chỉnh (NDA) biến đổi dựa vào mức độ biến đổi của doanh thu và nguyên giá

tài sản cố định giữa năm sự kiện và năm liền trước [34].

Mơ hình Jones khắc phục được nhược điểm quan trọng của mơ hình

Healy (1985) và mơ hình DeAngelo (1986) khi loại bỏ được giả thuyết rằng

biến kế tốn dồn tích khơng thể điều chỉnh (NDA) khơng thay đổi qua các

năm. Trong mơ hình Jones (1991) thì doanh thu được xem là phần khơng thể

điều chỉnh được tuy nhiên nhà quản lý có thể sử dụng các khoản phải thu

khách hàng để điều chỉnh lợi nhuận (Tianran, 2010) [34]. Do đó việc tính tốn

giá trị biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh (DA) trong mơ hình Jones

(1991) do đó vẫn còn bị sai lệch, khơng chính xác nếu nhà quản trị thực hiện

các hành vi quản trị doanh thu thông qua việc thay đổi kì giao dịch kinh tế mà

các khoản doanh thu phát sinh.

 The Modified Jones Model (1995)

Trong đó:

RECt



= Phải thu khách hàng nett – Phải thu khách hàng nett-1



Dechow (1995) và các cộng sự của mình đã đề xuất một mơ hình điều

chỉnh của mơ hình Jones (1991) bằng việc thay biến doanh thu bằng biến

doanh thu bằng tiền. Trong đó, biến doanh thu bằng tiền là phần chênh lệch

giữa biến động doanh thu và biến động khoản phải thu khách hàng. Thay đổi



29

của Dechow và cộng sự đã khắc phục được nhược điểm của mơ hình Jones

(1991) khi loại bỏ ngầm định rằng biến doanh thu là biến không thể điều

chỉnh. Mơ hình Modified Jones (1995) là mơ hình phổ biến nhất và hiệu quả

nhất để đo lường biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh (DA) hay phát hiện

hành vi điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp (Tianran, 2010) [34].

Tuy nhiên, hạn chế của mơ hình Modified Jones (1995) cũng như mơ

hình Jones (1991) là để ước tính các tham số trong mơ hình tính tốn tại mỗi

cơng ty, doanh nghiệp thì đòi hỏi phải thu thập một lượng dữ liệu thời gian lâu

dài trong quá khứ của doanh nghiệp. Khó khăn này là điểm yếu của mơ hình

khi áp dụng mơ hình vào tính tốn trong thực tế đối với các doanh nghiệp,

cơng ty có cơ sở dữ liệu quá khứ ngắn. Bối cảnh tại Việt Nam thì thị trường

chứng khốn vừa mới được tạo lập từ năm 2000 và các công ty niêm yết tại

Việt Nam thậm chí còn non trẻ hơn vậy rất nhiều do đó việc áp dụng mơ hình

Jones (1991) hay Modified Jones (1995) tại Việt Nam là vơ cùng khó khăn.

 Industry Model (Mơ hình ngành) của Dechow và Sloan (1991)

Trong đó:

β1, β2: Các ước tính OLS trong kỳ ước tính

Industry Model là một biến thể của mơ hình Jones (1991). Mơ hình này

cũng loại bỏ giả thuyết rằng biến kế tốn dồn tích khơng thể điều chỉnh

(NDA) là khơng đổi theo thời gian tuy nhiên mơ hình này lại đưa ra giả thuyết

rằng giá trị biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh (NDA) trong cùng khoản

thời gian là giống nhau giữa các cơng ty cùng ngành. Mơ hình Industry Model

ước tính giá trị biến kế tốn dồn tích khơng thể điều chỉnh thông qua nghiên

cứu đối với các doanh nghiệp cùng ngành.



30

Hạn chế lớn nhất của mơ hình mà chính Dechow (1991) đã nhận ra đó là

quy gộp biến động của các doanh nghiệp cùng ngành là như nhau, khơng tính

đến biến động cụ thể trong hoạt động, tình hình thực tế khác nhau của các

doanh nghiệp cùng ngành. Nếu trong cùng một ngành mà các doanh nghiệp

có sự khác nhau trong tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh thì kết quả

tính tốn của mơ hình sẽ tồn tại những sai biệt rõ ràng so với thực tế. Điểm

yếu khác của mơ hình là việc tính tốn các tham số trong mơ hình đòi hỏi phải

có một lượng dữ liệu khá nhiều các doanh nghiệp cùng ngành, tuy nhiên

nhiều ngành nghề, nhiều nền kinh tế thì tồn tại số lượng hạn chế các doanh

nghiệp thật sự đúng ngành với nhau do đó ảnh hưởng đến kết quả tính tốn

của mơ hình.

 Friedlan Model (1994)

Mơ hình Friedlan (1994) là một biến thể của mơ hình DeAngelo với:

Trong đó:

Salesit: Doanh thu năm t của cơng ty i

Mơ hình Friendlan (1994) cải tiến mơ hình DeAngelo (1986) theo biến

doanh thu. Theo đó, biến doanh thu được đưa thêm vào mơ hình nhằm kiểm

soát sự thay đổi mức độ hoạt động của doanh nghiệp. Do đó mà mơ hình

Friedlan (1994) hạn chế được nhược điểm của mơ hình DeAngelo (1986) và

Healy (1985) khi có những thay đổi trong mức độ hoạt động của doanh

nghiệp. Tính tốn giá trị biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh (DA) và biến

kế tốn dồn tích khơng thể điều chỉnh (NDA) theo mơ hình Friedlan (1994) vì

vậy là chính xác hơn khi so sánh với hai mơ hình của DeAngelo (1986) và

Healy (1985).

Mơ hình Modified Jones (1995) được xem là mơ hình phổ biến nhất và

hiệu quả nhất để đo lường biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) hay



31

phát hiện hành vi quản trị lợi nhuận (Tianran, 2010) [34], tuy nhiên việc áp

dụng mơ hình này hay mơ hình Jones (1991) đòi hỏi một cơ sở dữ liệu quá

khứ lâu dài cần thiết để ước lượng các tham số trong mơ hình. Đối tượng của

nghiên cứu này là các công ty niêm yết tại Việt Nam mà hầu hết đều hết sức

non trẻ trong bối cảnh non trẻ chung của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Việc thu thập đầy đủ cơ sở dữ liệu quá khứ lâu dài để áp dụng mô hình

Modified Jones (1995) hay Jones (1991) là vơ cùng khó khăn hay thậm chí

khơng khả thi. Mơ hình Industry Jones (1991) lại không phù hợp với nghiên

cứu này khi đối tượng nghiên cứu của tác giả là toàn bộ các cơng ty niêm yết

trên thị trường chứng khốn Việt Nam hoạt động trong giai đoạn nghiên cứu.

Tổng hợp các điều kiện thực tế đó, tác giả cho rằng phù hợp khi sử dụng mơ

hình Friedlan (1994) là một biến thể cải tiến của mơ hình DeAngelo (1986) để

áp dụng tính tốn biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh (DA) trong điều kiện

Việt Nam cũng như điều kiện của nghiên cứu này.

1.3. KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TỒN CẦU GIAI ĐOẠN 2008 –

2009

1.3.1. Khủng hoảng tài chính tồn cầu giai đoạn 2008 – 2009

Cuộc khủng hoảng tài chính tồn cầu bắt đầu từ nước Mỹ cuối năm 2007

và là cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng nhất trong lịch sử kể từ cuộc đại

khủng hoảng (Friedman & Friedman, 2009) [21]. Theo Osterholm (2010,

trích dẫn bởi Sotheara Riel và Carl Tano , 2014): “Các khoản cho vay nhà đất

trong thị trường nhà ở Mỹ trong thời gian này đã được chứng khốn hóa và

bán trên tồn thế giới và từ đó chúng được tái hình thành trong các cơng cụ

tài chính khác nhau trên toàn cầu. Sự điều chỉnh giá cả trong thị trường nhà

đất do đó khơng chỉ ảnh hưởng đến Mỹ mà lan ra toàn cầu và các ngân hàng

phải chịu đựng những khó khăn kinh tế vơ cùng lớn. Điều này dẫn đến một

giai đoạn khủng hoảng kinh tế tồn cầu” [32].



32

Cuộc khủng hoảng tài chính tồn cầu giai đoạn 2008 – 2009 là một sự

điều chỉnh lại giá nhà đất tại Mỹ sau thời gian thực hiện chính sách tiền tệ mở

rộng và điều kiện tín dụng rộng rãi đối với thị trường nhà đất tại Mỹ, nơi mà

các khoản tín dụng này được chứng khốn hóa và bán đi dưới dạng các cơng

cụ tài chính phức tạp trên tồn thế giới. Khi bong bóng thị trường nhà tại Mỹ

vỡ ra, các khoản cho vay tín dụng nhà đất dưới chuẩn tan biến, các ngân hàng

phải gánh chịu những tổn thất kinh tế to lớn, kéo theo niềm tin vào hệ thống

ngân hàng suy giảm nghiêm trọng. Mỹ là trung tâm của hệ thống tài chính

tồn cầu đo đó tồn bộ hệ thống tài chính tồn cầu bị cuốn vào khủng hoảng.

Khủng hoảng kinh tế cũng phơi bày những khó khăn của kiểm tốn trong

điều kiện tình hình kinh tế khó khăn và sự giảm sút tính thanh khoản của thị

trường (Xu, 2013) [35]. Xu viết: “Nhiều công ty phải đối mặt với vấn đề đảm

bảo đủ vốn vay để tiếp tục hoạt động và các công ty này gia tăng áp lực lên

các công ty kiểm toán khi đưa ra ý kiến về khả năng hoạt động liên tục” [35].

Trong giai đoạn khó khăn kinh tế nghiêm trọng, khó khăn càng tăng thêm cho

kiểm tốn viên trong việc đánh giá khi nào là thích hợp để phát hành nhận xét

về khả năng hoạt động liên tục và vì GFC làm tăng rủi ro kinh doanh của

doanh nghiệp nên nó cũng làm tăng rủi ro các kiểm tốn viên phát hành ý kiến

khơng chính xác (Xu, 2013) [35]. Khủng hoảng tài chính tồn cầu cũng gây ra

những khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp bao gồm nguy cơ hiệu quả

hoạt động suy giảm, kết quả kinh doanh thu lỗ, tình hình sản xuất đình đốn do

đó dẫn đến rủi ro kiểm toán cao hơn đối với kiểm tốn viên. Khủng hoảng tài

chính tồn cầu cùng với sự thất bại, phá sản của nhiều công ty làm gia tăng

mức độ chỉ trích đối với nghề nghiệp kiểm toán (Holm & Zaman, 2012) [23].

Sikka (2009) đặt ra câu hỏi về thực tế hoạt động kiểm toán khi mà kiểm toán

viên thất bại trong việc đưa ra ý kiến về khả năng hoạt động liên tục hay điều

chỉnh ý kiến cho phù hợp cho các ngân hàng mà ngay sau đó gặp những vấn



33

đề tài chính như Lehman Brothers; ngân hàng Lehman Brothers nhận ý kiến

nhận ý kiến chấp nhận cho báo cáo tài chính quý chỉ hơn hai tháng trước khi

tuyên bố phá sản [30]. Sikka (2009) cho rằng có một sự khơng rõ ràng khi

Lehman Brothers và nhiều thực thể tài chính khác làm cách nào thuyết phục

các kiểm tốn viên khơng phát hành các báo cáo kiểm toán lưu ý về khả năng

hoạt động liên tục và tình hình thực tế ngân hàng, phơi bày mức độ đòn bẩy

tài chính cao cũng như thực tế rủi ro kinh doanh lớn [30]. Mức phí kiểm tốn

cao đặt ra câu hỏi về tính độc lập của kiểm tốn viên và khả năng mà họ đứng

về phía lợi ích của nhà quản lý và câu hỏi cũng được đặt ra về năng lực của

kiểm toán viên liên quan đến khả năng kiểm tốn chính xác và hiểu được các

cơng cụ tài chính phức tạp hiện tại.

1.3.2. Ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tồn cầu tới Việt Nam

Cuộc khủng hoảng tài chính tồn cầu đã tác động mạnh tới nền kinh tế

Việt Nam với tư cách là nền kinh tế đang hội nhập sâu rộng vào kinh tế toàn

cầu. Việt Nam vừa mở rộng cánh cửa với thế giới vào năm 2007 với việc trở

thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO thì năm

2008 Việt Nam đã phải đón nhận cơn khủng hoảng kinh tế thế giới. Giai đoạn

tăng trưởng GDP liên tục trên mức 7% của kinh tế Việt Nam kết thúc, và suy

giảm liên tục trong hai năm khủng hoảng. Việt Nam xoáy sâu trong khủng

hoảng với xuất khẩu là lĩnh vực chịu ảnh hưởng đầu tiên. Hoa Kỳ vốn là thị

trường xuất khẩu quan trọng của nhiều nước vì thế khi nền kinh tế nước này

chìm sâu trong khủng hoảng thì ảnh hưởng đến xuất khẩu của nhiều nước

trong đó có Việt Nam [37]. Nhiều thị trường xuất khẩu quan trọng khác của

hàng hóa Việt Nam là Châu Âu, Nhật Bản … cũng gánh chịu ảnh hưởng

nghiêm trọng đến từ cuộc khủng hoảng [38], do đó tác động trực tiếp tới giá

trị xuất khẩu của Việt Nam. Xuất khẩu vốn là động lực tăng trưởng của cả nền



34

kinh tế, sự sụt giảm xuất khẩu càng khiến cho nền kinh tế trong nước lao dốc.

Trước năm 2007, ngành công nghiệp tăng trưởng mạnh mẽ và là trụ cột trong

tiến trình cơng nghiệp hóa đất nước tuy nhiên khủng hoảng tài chính đã làm

chỉ số công nghiệp của Việt nam lao dốc trong hai năm liên tiếp. Nhiều ngành

công nghiệp quan trọng của nền kinh tế như khai khoáng, sản xuất thép lao

đao thể hiện ở số lượng tồn kho lớn. Đi kèm với sự sụt giảm sản xuất công

nghiệp là sự suy giảm trong sức mua thị trường nội địa, tiêu thụ hàng hóa khó

khăn trên thị trường.

Trên thị trường chứng khốn, cùng với đà sụt giảm của các chỉ số chứng

khoán của các thị trường chính trên thế giới: Dow Jones (Mỹ) giảm 34.6%,

FTSE 100 (Anh) giảm 31.5%, Nikkei 225 (Nhật) giảm 42.1%, Shanghai

Composite (Trung Quốc) giảm 65.2%, BSE30 (Ấn Độ) 52.2% … Chứng

khoán Việt Nam cũng sụt giảm nghiêm trọng trong năm 2008, thậm chí còn

cao hơn mức sụt giảm của các thị trường chứng khoán lớn với mức giảm

65.95% với VN-Index và 67.51% với HASTC-Index. Giá trị vốn hóa của tồn

thị trường mất khoảng 270 nghìn tỉ đồng (16 tỷ USD). Sự bốc hơi hàng trăm

ngàn tỷ đồng trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2008 chứng tỏ

sức ảnh hưởng lớn và nghiêm trọng của khủng hoảng tài chính tồn cầu tới

Việt Nam, đồng thời nó còn cho thấy một cơn bão khó khăn mà các doanh

nghiệp tại Việt Nam đang hứng chịu. Năm 2009, thị trường chứng khốn Việt

Nam chạm đáy trong q I, tuy có phục hồi trong giữa và cuối năm nhưng các

chỉ số VN-Index và HASTC-Index vẫn thấp hơn nhiều mức cuối năm 2007

chứng tỏ tác động của cuộc khủng hoảng tài chính vẫn còn nghiêm trọng và

các doanh nghiệp vẫn đang chật vật đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính

tồn cầu. Những khó khăn mà các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam gặp

phải trong bối cảnh khủng hoảng đặt ra cho các kiểm tốn viên, cơng ty kiểm

tốn một rủi ro kiểm toán lớn hơn. Cách thức các kiểm toán viên, cơng ty



35

kiểm tốn tại Việt Nam đối phó với những rủi ro này còn là dấu hỏi trong bối

cảnh hoạt động kiểm tốn trên thế giới bị chỉ trích mạnh mẽ bởi những thất

bại trong kiểm toán và sự nghi ngờ về tính độc lập của các kiểm tốn viên,

cơng ty kiểm tốn trong bối cảnh khủng hoảng tài chính tồn cầu.



KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chất lượng kiểm tốn là một khái niệm khó khăn để định nghĩa và đo

lường do đó còn tồn tại những tranh cải và khơng thống nhất về việc định

nghĩa như thế nào là chất lượng kiểm toán và làm thế nào để quan sát, đo

lường chất lượng kiểm toán. Trong nghiên cứu này, tác giả ủng hộ quan điểm

của Defond và Zhang (2013) khi cho rằng chất lượng kiểm toán là sự phản

ảnh liên kết giữa kiểm toán và chất lượng báo cáo tài chính, hệ thống tài chính

và đặc điểm vốn có của doanh nghiệp và chất lượng kiểm toán cao hơn là một

sự đảm bảo cao hơn rằng báo cáo tài chính đã kiểm tốn phản ánh thực tế tình

hình hoạt động kinh tế, hệ thống tài chính kế tốn và đặc điểm nội tại của

công ty [17]. Đồng thời tác giả cũng cho rằng chất lượng kiểm toán biến đổi

từ cao xuống thấp chứ không phải chỉ là một biến nhị phân tương ứng với kết

quả tốt và tồi tệ. Có nhiều mơ hình đo lường chất lượng kiểm tốn thơng qua

các quan sát như: chi phí kiểm tốn, đặc điểm kiểm tốn, sai sót trọng yếu, ý

kiến kiểm tốn, đánh giá của người sử dụng thông tin và biến kế tốn dồn tích

có thể điều chỉnh (DA). Tìm hiểu các nghiên cứu về các phương pháp đo



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Có nhiều mô hình nghiên cứu quản trị lợi nhuận thông qua đo lường biến toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) trên thế giới nhưng những mô hình phổ biến nhất bao gồm: The Healy Model (1985), The DeAngelo Model (1986), The Jones Model (1991), Modified Jones

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x