Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN VÀ ĐO LƯỜNG CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN VÀ ĐO LƯỜNG CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN

Tải bản đầy đủ - 0trang

11

không phải dễ dàng để định nghĩa chất lượng kiểm tốn bởi vì nó là một khái

niệm phức tạp và một định nghĩa đơn giản là không đủ [19].

Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 220 (VSA 220) và Chuẩn mực

Kiểm toán Quốc tế số 220 (IAS 220): “Chất lượng kiểm tốn là mức độ thỏa

mãn về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của những đối

tượng sử dụng dịch vụ kiểm toán đồng thời thỏa mãn về mong muốn có

những ý kiến đóng góp nhằm nâng cao hiệu quả cơng tác quản lý tài chính, kế

tốn của đơn vị được kiểm tốn với thời gian định trước và giá phí thích hợp”.

DeAngelo (1981) xem chất lượng kiểm toán như sự đánh giá của thị trường

về khả năng kiểm toán viên phát hiện các hành vi vi phạm của khách hàng và

báo cáo các vi phạm này [16].

Defond và Zhang (2013) cho rằng những định nghĩa trên xem kiểm tốn

như một q trình chỉ gồm hai chức năng chính là kiểm tra và báo cáo các

hành vi vi phạm chuẩn mực kế toán và để đạt được chất lượng kiểm tốn cao

thì kiểm tốn viên không chỉ xem xét sự phù hợp giữa báo cáo tài chính với

chuẩn mực kế tốn mà còn xem xét xem liệu báo cáo tài chính có phản ánh

thực tế tình hình kinh tế của doanh nghiệp hay khơng [17]. Do đó, Defond và

Zhang (2013) định nghĩa chất lượng kiểm toán là sự phản ánh liên kết giữa

kiểm toán với chất lượng báo cáo tài chính, hệ thống kế tốn tài chính và các

đặc điểm vốn có của khách hàng và chất lượng kiểm toán cao hơn là một sự

đảm bảo cao hơn rằng báo cáo tài chính đã kiểm tốn phản ánh thực tế tình

hình hoạt động kinh tế, hệ thống kế tốn tài chính, đặc điểm vốn có của cơng

ty [17]. Quan điểm của Defond và Zhang là quan điểm mà tác giả ủng hộ và

là đặt làm cơ sở cho phát triển nghiên cứu này.

Quan điểm pháp lý về chất lượng kiểm toán liên quan đến việc phát hành

báo cáo kiểm tốn thích hợp cho báo cáo tài chính theo chuẩn mực kế tốn

Mỹ (GAAP) cho rằng chất lượng kiểm toán là một biến nhị phân khi chất



12

lượng kiểm toán là tốt hoặc tồi tệ (Francis, 2011) [19]. Francis (2011),

Svanstrom (2013), Defond và Zhang (2013) xem chất lượng kiểm toán như

một sự biến đổi liên tục [17], [19], [31]; đây là quan điểm mà tác giả nghiên

cứu cho rằng phù hợp và chia sẽ cùng quan điểm trong nghiên cứu này.

1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm tốn

a. Phí kiểm tốn

Chi phí kiểm tốn có phải là mối đe dọa đến chất lượng kiểm toán? Antle

(2006) trong một nghiên cứu được thực hiện tại Anh và Mỹ đã tìm thấy rằng

phí kiểm tốn cao dẫn đến một sự chấp nhận cao hơn bình thường mức độ

dồn tích kế tốn [7]. Eshleman và Guo (2014) cho rằng chi phí kiểm tốn cao

hơn so với mức hợp lý theo khối lượng công việc của kiểm tốn có thể là

ngun nhân khiến các kiểm tốn viên đánh mất tính độc lập và chấp nhận

các vấn đề kế tốn tại doanh nghiệp [18]. Trompeter (1994, trích dẫn bởi

Eshleman và Guo, 2014) cho rằng các cam kết kiểm tốn được thực hiện bởi

các thành viên trong nhóm kiểm tốn chứ khơng phải là các cơng ty kiểm

tốn, các thành viên trong nhóm kiểm tốn được hưởng phần lớn các khoản

thu bổ sung từ các khách hàng và chấp nhận rủi ro bằng cách thuận theo

khách hàng bất kể các rủi ro danh tiếng cho cơng ty kiểm tốn [18]. Các kết

quả nghiên cứu dẫn đến cơ sở rằng tồn tại khả năng phí kiểm tốn cao gây

ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng kiểm toán .

b. Dịch vụ phi kiểm toán

Vấn đề mối quan hệ giữa dịch vụ phi kiểm toán và chất lượng kiểm toán

được thảo luận nghiêm túc từ sự kiện sụp đổ của Enron. Đây là bằng chứng

thực tế cho mối quan hệ giữa việc cung cấp dịch vụ phi kiểm toán và chất

lượng kiểm toán. Solomon (2010) cho rằng sự yếu kém trong thực hiện kiểm

toán Enron của Arthur Anderson dẫn đến sự sụp đổ của cả hai công ty một

phần do sự độc lập của kiểm tốn viên bị tổn hại vì họ đồng thời cung cấp

dịch vụ phi kiểm toán cho Enron và điều đó có ý nghĩa rằng các kiểm tốn



13

viên có một động cơ tài chính to lớn để đứng về phía lợi ích của nhà quản lý

và che dấu các thơng tin tài chính trọng yếu liên quan đến trách nhiệm pháp lý

bổ sung và không đề cập chúng trong các báo cáo thường niên [33]. Tuy

nhiên các nghiên cứu của Svanstrom (2013) lại cho thấy sự gia tăng chất

lượng kiểm toán khi gia tăng thực hiện các dịch vụ phi kiểm toán cho khách

hàng [31]. Antle (2006) cũng đồng quan điểm với Svanstrom khi tìm thấy tác

động của việc thu thập kiến thức lớn từ việc cung cấp các dịch vụ phi kiểm

toán cho cùng một khách hàng [7]. Các quan điểm của Svanstrom và Antle

cũng đồng thời được các cơng ty kiểm tốn lớn ủng hộ. Tác động làm suy

giảm hay gia tăng chất lượng kiểm toán khi thực hiện dịch vụ phi kiểm toán

đồng thời với dịch vụ kiểm tốn do đó còn nhiều tranh cãi.

c. Khuôn khổ pháp lý

Francis (2011) cho rằng các cơ chế được thiết lập, trong đó có khn khổ

pháp lý mà các hoạt động kiểm tốn được thực hiện có thể ảnh hưởng đến

chất lượng kiểm tốn [19]. Theo Francis thì các khn khổ pháp lý có ảnh

hưởng đến chất lượng kiểm toán khi xem xét định nghĩa một thất bại kiểm

toán hay một cuộc kiểm toán kém chất lượng là như thế nào và kết quả của sự

yếu kém này là gì, ai, cơ quan nào phải hành động khi các xảy ra các trường

hợp chất lượng kiểm toán kém [19]. Yếu tố khác mà Francis cũng đề cập đó là

thị trường kiểm toán và ngành nghề kiểm toán mà tại đó hoạt động kế tốn và

cơng ty kiểm tốn được thiết lập [19].

d. Văn phòng thực hiện kiểm tốn

Sự khác nhau về quốc gia, khu vực, thành phố của các văn phòng kiểm

tốn là một cơ sở dẫn đến chất lượng kiểm toán khác nhau; bất kể rằng các

văn phòng này cùng thuộc một cơng ty kiểm tốn (Sundgren và Svanstrom,

2012, trích dẫn bởi Sotheara Riel và Carl Tano, 2014) [17]. Nghiên cứu được



14

thực hiện bởi Choi vào năm 2010 cho thấy rằng có một mối quan hệ tích cực

giữa quy mơ văn phòng kiểm tốn và chất lượng kiểm toán [16].

e. Nhiệm kỳ kiểm toán

Khi kiểm toán viên đương nhiệm có mối quan hệ lâu dài với khách hàng,

họ trở nên ít đòi hỏi hơn trong việc áp dụng các cơng cụ kiểm tốn và quy

trình kiểm tốn tiên tiến để thực hiện kiểm tốn và thậm chí họ trở nên ít hồi

nghi hơn (Shockley, 1982, trích dẫn bởi Sotheara Riel và Carl Tano, 2014)

[32]. Trong khi đó, các nhà đầu tư và các tổ chức tài chính trung gian coi việc

tăng nhiệm kỳ kiểm toán là hướng đến việc cải thiện chất lượng kiểm toán

(Ghosh & Moon, 2005, trích dẫn bởi Sotheara Riel và Carl Tano, 2014) [32].

f. Nhiệm kỳ đối tác kiểm toán

Carey và Simnett (2006, trích dẫn bởi Sotheara Riel và Carl Tano, 2014)

thực hiện nghiên cứu tại Úc và kết quả nghiên cứu cho thấy rằng có một mối

liên hệ giữa nhiệm kỳ đối tác kiểm toán và chất lượng kiểm toán [32]. Theo

nghiên cứu này thì việc tăng nhiệm kỳ đối tác kiểm toán đi liền với xu hướng

giảm phát hành báo cáo kiểm toán với lưu ý về khả năng hoạt động liên tục;

như một dấu hiệu của việc suy giảm chất lượng kiểm toán. Tuy nhiên một

nghiên cứu được thực hiện bởi Chi và Huang (2005) cho thấy rằng việc gia

tăng nhiệm kỳ đối tác kiểm toán giúp cải thiện chất lượng kiểm tốn [13].

g. Tính độc lập của kiểm tốn viên

Mỗi kiểm toán viên đều phải thực hiện kiểm toán tn thủ theo các

chuẩn mực kiểm tốn và đó là yêu cầu tối thiểu để đảm bảo chất lượng kiểm

toán. DeAngelo (1981) sử dụng tính độc lập của kiểm tốn viên như một

thước đo chất lượng kiểm tốn [16]. Cơ cho rằng các cơng ty kiểm tốn lớn

độc lập tài chính hơn các cơng ty kiểm tốn nhỏ vì họ khơng phụ thuộc vào

một nguồn tài chính duy nhất nào và họ có danh tiếng có thể bị mất đi và họ

phải duy trì sự độc lập để tránh đánh mất danh tiếng này hay dính vào các



15

cuộc kiện tụng [16]. Francis và Wilson (1988) cũng ủng hộ quan điểm của

DeAngelo với lập luận rằng các cơng ty kiểm tốn lớn đã xây dựng được

thương hiệu trong thời gian dài vì vậy họ có xu hướng cung cấp chất lượng

kiểm tốn cao hơn các cơng ty nhỏ [20].

h. Quy mơ khách hàng

Reynolds và Francis (2001) cho rằng kiểm toán viên có thể thỏa hiệp

tính độc lập của mình trong quan hệ với các khách hàng lớn mà họ phụ thuộc

kinh tế [29]. Bên cạnh đó, các khách hàng lớn có rủi ro tiềm tàng cao hơn đối

với các kiểm toán viên và cơng ty kiểm tốn (Reynolds & Francis, 2001) [19].

Cơng ty kiểm có nguy cơ bị mất uy tín và đối mặt với nguy cơ kiện tụng lớn

hơn và kiểm toán viên phải đối mặt với nguy cơ bị xử phạt cao hơn khi không

thực hiện đúng các dịch vụ kiểm toán cho các khách hàng lớn hơn là các cơng

ty nhỏ (Shafer, 1999, trích dẫn bởi Sotheara Riel và Carl Tano, 2014) [32].

Điều đó chứng tỏ quy mơ khách hàng tác động theo cả hai hướng đến chất

lượng kiểm toán.

i.Các yếu tố khác

Nghiên cứu của Madhogarhia (2009) cho rằng các cơng ty tăng trưởng

cao thì chất lượng kiểm tốn của các cơng ty này thường thấp hơn với mức độ

dồn tích kế tốn cao hơn bình thường [27]. Tuy nhiên, Manry (2008) trong

nghiên cứu của mình nhận thấy khơng có mối liên hệ giữa các cơng ty tăng

trưởng cao và chất lượng kiểm tốn [28].

Để có một q trình kiểm tốn đạt chất lượng cao thì u cầu kiểm tốn

viên phải có năng lực và phán đốn nghề nghiệp tốt. Theo Smith và Kida

(1991, trích dẫn bởi Sotheara Riel và Carl Tano, 2014), kiểm tốn viên có

trình độ cao về chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp với xu hướng ít sai

lệch hơn [32]. Ngồi ra một nghiên cứu về quỹ thời gian kiểm toán của kiểm



16

toán viên của Gramling (1999) cho thấy rằng chất lượng kiểm toán có thể bị

suy giảm do sự sụt giảm thời gian kiểm tốn để duy trì lợi nhuận [22].

1.2.3. Mối quan hệ giữa chất lượng kiểm toán và chất lượng báo cáo

tài chính

a. Mối quan hệ giữa chất lượng kiểm tốn và chất lượng báo cáo tài

chính.

Chất lượng kiểm tốn là một phần của chất lượng báo cáo tài chính

(trong nghiên cứu này tác giả ngầm định báo cáo tài chính là báo cáo tài chính

sau kiểm tốn) vì chất lượng kiểm tốn làm tăng chất lượng báo cáo tài chính

(Defond và Zhang, 2013) [17]. Tuy nhiên chất lượng kiểm toán không phải là

thành phần duy nhất của chất lượng báo cáo tài chính, chất lượng báo cáo tài

chính còn bị ảnh hưởng bởi chất lượng báo cáo tài chính trước kiểm toán

được quyết định bởi hệ thống báo cáo tài chính hay hệ thống thơng tin tài

chính của cơng ty. Mối quan hệ này được Defond và Zhang (2013) biểu diễn

quan cơng thức [17]:

FRQ = f(AQ,R,I)

Trong đó:

FRQ: Chất lượng báo cáo tài chính

AQ: Chất lượng kiểm tốn

R: Hệ thống báo cáo tài chính

I: Đặc điểm nội tại của cơng ty

Chất lượng kiểm tốn theo đó chỉ đảm bảo chất lượng báo cáo tài chính

phù hợp với với hệ thống báo cáo tài chính và đặc điểm nội tại của doanh

nghiệp.

Chất lượng kiểm tốn có thể được suy ra từ chất lượng lợi nhuận, chất

lượng kiểm toán cao hơn là sự giảm bớt mức độ điều chỉnh lợi nhuận và gia

tăng tính thơng tin của báo cáo tài chính (Jueming Bing, Chu, X.H , Anqui Li,



17

Xinyi Zhu, 2014) [24]. Balsam (2003, trích dẫn bởi Jueming Bing, Chu, X.H,

Anqui Li, Xinyi Zhu, 2014) cho rằng tồn tại mối quan hệ thuận giữa chất

lượng kiểm tốn và chất lượng báo cáo tài chính được đo lường bằng chất

lượng lợi nhuận [24]. Nếu chất lượng lợi nhuận là cao, tính thơng tin và hữu

dụng của lợi nhuận sẽ mang tính phù hợp cao hơn. Các nghiên cứu gần đây

đồng ý rằng chất lượng kiểm tốn là chất lượng lợi nhuận của báo cáo tài

chính đã được kiểm toán (Francis, 2011) [19]. Nhiều nghiên cứu sử dụng chất

lượng báo cáo tài chính đo lường bằng chất lượng lợi nhuận làm đại diện cho

chất lượng kiểm toán bao gồm: Balsam (2003), Carey và Simnett (2006),

Francis and Yu (2009), Choi (2010), Francis (2011), Gunny và Zhang (2012),

Svanstrom (2013) (Jueming Bing, Chu, X.H, Anqui Li, Xinyi Zhu, 2014) [24]



b. Chất lượng lợi nhuận

Chất lượng lợi nhuận có được khi báo cáo lợi nhuận đảm bảo cung cấp

thông tin trung thực về chỉ tiêu lợi nhuận cũng như hoạt động kinh doanh của

doanh nghiệp. Koh (2013; trích dẫn bởi Jueming Bing, Chu, X.H, Anqui Li,

Xinyi Zhu, 2014) cho rằng tồn tại hệ thống khen thưởng cho nhà quản lý dựa

vào việc liệu cơng ty có đạt được hay vượt qua mục tiêu lợi nhuận đặt ra

khơng [24]. Do đó có một khả năng rõ ràng rằng các nhà quản lý có động lực

để thực hiện điều chỉnh lợi nhuận. Francis and Yu (2009, trích dẫn bởi

Jueming Bing, Chu, X.H, Anqui Li, Xinyi Zhu, 2014) công bố kết quả nghiên

cứu rằng có một tỷ lệ cao bất thường các cơng ty vừa đủ mức đạt mục tiêu lợi

nhuận và một tỷ lệ thấp bất thường các công ty gần đạt mức mức chỉ tiêu lợi

nhuận và Francis and Yu (2009) cũng cho rằng đây là bằng chứng cho việc

các công ty đang thực hiện quản trị lợi nhuận, điều chỉnh lợi nhuận nhằm đạt

mục tiêu lợi nhuận đề ra [24]. Jueming Bing, Chu, X.H, Anqui Li, Xinyi Zhu

(2014) cho rằng chất lượng kiểm tốn là cao nếu khơng có việc điều chỉnh lợi



18

nhuận này; và do đó, nếu kiểm tốn viên phát hiện việc điều chỉnh lợi nhuận

thì báo cáo tài chính sẽ trung thực hơn [24]. Tuy nhiên nếu doanh nghiệp

khơng tiến hành quản trị lợi nhuận thì sẽ ít khả năng đạt được hay vượt mức

mục tiêu lợi nhuận đề ra (Francis and Yu, 2009, trích dẫn bởi Jueming Bing,

Chu, X.H, Anqui Li, Xinyi Zhu, 2014) [24]. Vì vậy theo Jueming Bing, Chu,

X.H, Anqui Li, Xinyi Zhu (2014) thì việc “đạt hay vượt mức lợi nhuận” tương

ứng với khả năng tồn tại hay không tồn tại quản trị lợi nhuận là một cách thức

logic để đo lường chất lượng lợi nhuận cũng như chất lượng kiểm toán [24].

Jueming Bing, Chu, X.H, Anqui Li, Xinyi Zhu (2014) cũng cho rằng quản trị

lợi nhuận liên quan chặt chẽ đến việc điều chỉnh mức độ dồn tích kế tốn hay

các nhà quản lý thường điều chỉnh mức độ dồn tích kế toán để đạt hay vượt

mục tiêu lợi nhuận đề ra [24].

1.2.4. Đo lường chất lượng kiểm toán

Các nghiên cứu trước đây về chất lượng kiểm toán sử dụng nhiều biến

quan sát khác nhau để đo lường chất lượng kiểm toán. Chất lượng kiểm tốn

là một khái niệm khó quan sát và định lượng cũng như việc người sử dụng

báo cáo tài chính khơng thể hồn tồn nhìn thấy các mức độ bảo đảm được

cung cấp bởi các công ty kiểm tốn (DeFond & Zhang, 2013) [17]. Phần dưới

đây trình bày các quan sát đại diện để đo lường chất lượng kiểm toán. Các

quan sát đại diện này được chia làm hai loại là đo lường dựa vào yếu tố đầu

vào và đo lường dựa vào yếu tố đầu ra.

a. Phép đo dựa vào yếu tố đầu vào

Đo lường dựa vào các yếu tố đầu vào được sử dụng cho các nghiên cứu

chú ý đến yếu tố đầu vào của kiểm tốn. Nhưng vì đầu vào kiểm tốn khơng

đảm bảo rằng chúng tương ứng với kết quả kiểm toán và do đó quan sát này

khá khơng ổn để do lường chất lượng kiểm toán (Defond & Zhang, 2013)

[17]. Dưới đây là các yếu tố đầu vào dùng để đo lường chất lượng kiểm toán.

 Đặc điểm kiểm toán



19

Đặc điểm kiểm toán như là độ lớn của cơng ty kiểm tốn; thường được

chia thành nhóm BIG 4 hay khơng phải BIG 4, tức trong nhóm 4 cơng ty

kiểm tốn lớn nhất thế giới hay ngồi nhóm này; hoặc chun ngành kiểm

tốn (khách hàng tập trung vào nhóm ngành nào). DeAngelo (1981) cho rằng

các cơng ty kiểm tốn lớn độc lập tài chính hơn các cơng ty kiểm tốn nhỏ vì

họ khơng phụ thuộc vào một nguồn tài chính duy nhất nào và họ có danh

tiếng có thể bị mất đi và họ phải duy trì sự độc lập để tránh đánh mất danh

tiếng này hay dính vào các cuộc kiện tụng [16]. Các cơng ty kiểm tốn lớn

chịu chi phí vơ cùng lớn để xây dựng thương hiệu và uy tín (Francis &

Wilson, 1988) [20]. Do đó chất lượng kiểm tốn được cung cấp bởi các cơng

ty kiểm tốn lớn được cho rằng thường cao hơn nhóm còn lại. Đặc điểm kiểm

tốn bao gồm độ lớn của công ty thường được sử dụng như một biến độc lập

để biểu diễn chất lượng kiểm tốn hoặc một biến phụ thuộc trong mơ hình

nghiên cứu chất lượng kiểm tốn. Nhưng biến này có nhược điểm là đây là

một biến nhị phân hay chất lượng kiểm toán theo quan sát này được cho rằng

như nhau trong hai nhóm chất lượng thấp và cao (Defond và Zhang, 2013)

[17].

 Phí kiểm tốn

Phí kiểm tốn là một quan sát phổ biến thường được sử dụng để đo

lường chất lượng kiểm tốn. Các nghiên cứu sử dụng phí kiểm tốn để đo

lường chất lượng kiểm tốn cho rằng phí kiểm toán đại diện cho cả hai yếu tố

cung và cầu kiểm tốn hay khách hàng sẵn sàng trả phí kiểm toán cao hơn cho

kết quả kiểm toán chất lượng hơn. Đồng thời họ cũng cho rằng lợi thế của

quan sát này là nó là phép đo liên tục có thể nắm bắt được sự thay đổi nhỏ

trong chất lượng kiểm toán. Một nhược điểm lớn của quan sát này đó là chi

phí kiểm tốn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác (Defond & Zhang, 2013

[17]).



20

b. Phép đo dựa vào yếu tố đầu ra

Phép đo dựa vào các yếu tố đầu ra sử dụng các yếu tố đầu ra của q

trình kiểm tốn nhằm đo lường chất lượng kiểm toán. Dưới đây là các quan

sát theo yếu tố đầu ra dùng để đo lường chất lượng kiểm toán.

 Sai sót trọng yếu:

Khi một kiểm tốn viên phát hiện các sai sót thì họ phải thơng báo cho

ban quản lý và ban kiểm tốn cơng ty. Những người này có thể chọn khơng

sửa chữa những sai sót đó nếu họ cho rằng chúng không trọng yếu. Tuy nhiên

việc xem xét giá trị nào là trọng yếu hay không trọng yếu phụ thuộc vào đánh

giá chun mơn và đo đó có khả năng rằng những đánh giá này bị ảnh hưởng

bởi các vấn đề chiến lược của công ty (Keune và Johnstone, 2012) [25].

Sai sót trọng yếu thường được đo lường bằng cách xem xét việc điều

chỉnh các báo cáo tài chính đã phát hành; chúng ít khi xảy ra và dưới sự kiểm

sốt trực tiếp của cơng ty kiểm tốn và được coi là sai sót kiểm tốn quan

trọng (Defond & Zhang, 2013) [17]. Do đó sai sót trọng yếu được phát hiện

thông qua việc xem xét các báo cáo tài chính đã phát hành nếu tồn tại, được

phát hiện trên báo cáo tài chính thì tương ứng cho chất lượng kiểm tốn kém

khi mà kiểm tốn viên đã khơng phát hiện được các sai sót trọng yếu tồn tại

trên báo cáo tài chính trước khi xem xét điều chỉnh lại sai sót trọng yếu này. Ý

kiến kiểm tốn đã được cơng bố có thể khơng chính xác nữa tương ứng với

chất lượng kiểm toán thấp. Tuy nhiên nếu báo cáo tài chính được phát hành

nhưng khơng phát sinh trường hợp xem xét điều chỉnh hay điều chỉnh sai sót

trọng yếu thì cũng khơng hồn tồn tương ứng với báo cáo tài chính chất

lượng cao vì có thể các sai sót này bị bỏ sót và khơng được kiểm tốn viên

phát hiện vì nhiều nguyên nhân.

Phép đo này chỉ biểu diễn chất lượng kiểm toán thấp và là một phép đo

nhị phân, do đó phép đo này khơng biểu diễn được sự thay đổi nhỏ trong chất



21

lượng kiểm toán và cũng có những trường hợp khi mà sai sót trọng yếu xảy ra

nhưng không được phát hiện và sửa chữa bởi cơng ty kiểm tốn và các bên

liên quan, đo đó làm hạn chế tính chính xác của phép đo.

 Ý kiến kiểm toán

Một ý kiến về khả năng hoạt động liên tục có ý nghĩa rằng kiểm tốn

viên có nghi ngờ đáng kể về khả năng công ty được kiểm tốn có tiếp tục hoạt

động hay khơng (Defond & Zhang, 2013) [17]. Carson (2013) giải thích rằng

các đánh giá này dựa trên các bằng chứng thu thập được trong q trình kiểm

tốn và nếu có bằng chứng về khả năng cơng ty được kiểm tốn sẽ khơng tiếp

tục hoạt động, kiểm tốn viên phải u cầu thơng tin từ nhà quản lý để giải

quyết vấn đề [12]. Carson tiếp tục lưu ý rằng nếu các kiểm toán viên tiếp tục

nghi ngờ về khả năng tiếp tục hoạt động của cơng ty được kiểm tốn và điều

này khơng được trình bày đầy đủ trong báo cáo tài chính thì kiểm tốn viên

phải điều chỉnh ý kiến kiểm tốn và trình bày lý do đối với mối lo ngại của

mình [12].

Một sự suy giảm xu hướng của kiểm toán viên trong việc phát hành các

ý kiến kiểm toán về khả năng hoạt động liên tục của khách hàng được xem

như việc các kiểm tốn viên khơng chịu đựng được các áp lực từ nhà quản lý

và do đó chất lượng kiểm toán được xác định là suy giảm (DeFond & Zhang,

2013) [17]. DeFond & Zhang (2013) cũng cho rằng đây là một quan sát trực

tiếp để đo lường chất lượng kiểm tốn vì kiểm tốn viên có tồn quyền ra ý

kiến kiểm toán và là một sự nghiêm trọng khi kiểm tốn viên khơng đưa ra ý

kiến thích hợp [17]. Tuy nhiên DeFond & Zhang (2013) cũng lưu ý rằng phép

đo này chỉ biểu diễn được chất lượng kiểm toán thấp và không phản ánh được

sự thay đổi nhỏ trong chất lượng kiểm tốn và ý kiến này chỉ được trình bày

cho các cơng ty có hiệu quả kinh tế kém và khơng nói gì trường hợp các cơng

ty có hiệu quả kinh tế tốt [17].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN VÀ ĐO LƯỜNG CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x