Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 KẾT LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1 KẾT LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

50

ty kiểm toán tại Việt Nam bởi yếu tố kinh nghiệm hoạt động lâu đời và chất

lượng kiểm tốn, tính độc lập, chun nghiệp của kiểm tốn viên, cơng ty

kiểm toán tại Thụy Điển là khác biệt so với Việt Nam. Việt Nam là nền kinh

tế non trẻ, thị trường chứng khoán vừa mới hoạt động từ năm 2000. Sau 8

năm hoạt động đã phải đón nhận ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tồn

cầu. Các quy định pháp lý liên quan đến hoạt động kế tốn, kiểm tốn, cơng

bố thơng tin còn hết sức mới mẻ, chưa hồn thiện và phù hợp với thực tế

trong nước khi chủ yếu là vay mượn các quy định trên thế giới. Mặt khác hoạt

động kế toán, kiểm toán liên quan đến thị trường chứng khốn cũng còn hết

sức mới. Tính chun nghiệp, kinh nghiệm, độc lập của kiểm tốn viên, cơng

ty kiểm toán tại Việt Nam cũng là một dấu hỏi trong bối cảnh non trẻ chung

của nền kinh tế vừa mới hội nhập với thế giới như Việt Nam. Vì vậy, theo tác

giả chính những khác biệt nêu trên là nguyên nhân chính cho những khác biệt

của sự thay đổi chất lượng kiểm toán trong bối cảnh ảnh hưởng của khủng

hoảng tài chính tồn cầu tại hai quốc gia, khác biệt trong kết quả của hai

nghiên cứu.Tuy nhiên kết quả trong nghiên cứu này là phù hợp với kết luận

của Abu TaherMollik, MonirMir, RonaldMcIvervà M.KhokanBepari (2013)

khi phát hiện ra rằng các doanh nghiệp đã tăng cường mức độ điều chỉnh lợi

nhuận hay mức độ dồn tích kế tốn trong giai đoạn khủng hoảng tài chính

tồn cầu. Tuy nhiên hạn chế trong nghiên cứu của Abu TaherMollik,

MonirMir, RonaldMcIvervà M.KhokanBepari trong so sánh kết quả với kết

quả nghiên cứu này là khi Abu TaherMollik, MonirMir, RonaldMcIvervà

KhokanBepari tập trung vào nghiên cứu điều chỉnh lợi nhuận của các doanh

nghiệp thuộc nhiều loại hình, cho dù hai nghiên cứu cùng sử dụng biến kế

toán dồn tích có thể điều chỉnh để đo lường đối tượng nghiên cứu chính.

Biến DA được sử dụng trong nghiên cứu của tác giả vì nó thỏa mãn quan

điểm của tác giả về đo lường chất lượng kiểm toán như một sự biến đổi liên



51

tục từ thấp đến cao chứ không phải là một biến nhị phân đơn thuần và DA

cũng biểu diễn được sự thay đổi nhỏ trong chất lượng kiểm tốn. Mẫu nghiên

cứu của tác giả gồm 77 cơng ty thuộc hai sàn chứng khoán HNX và HOSE

của Việt Nam sau khi đã loại trừ các công ty thuộc khối tài chính, ngân hàng

do cấu trúc tài sản, vốn khác biệt. Với 77 cơng ty thì có tổng cộng 318 quan

sát trong nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu cũng đồng thời cho thấy ảnh hưởng của hiệu quả và

kết quả hoạt động kinh doanh của công ty niêm yết đến chất lượng kiểm tốn

báo cáo tài chính các cơng ty này thông qua hai biến quan sát là LOSS và

ROA. Biến BIG4 được kiểm nghiệm trong nghiên cứu nhưng cho thấy kết

quả khơng có ý nghĩa về mặt thống kê, điều này chỉ ra rằng không tồn tại hay

tồn tại khoảng cách không quá lớn về chất lượng lượng kiểm tốn giữa nhóm

BIG4 và None Big 4( các cơng ty khơng thuộc nhóm BIG4). Các biến khác

cũng được kiểm tra trong nghiên cứu bao gồm biến LNASSET và

GROWTHASSET cho thấy không tồn tại ảnh hưởng của hai yếu tố độ lớn

của doanh nghiệp được đo lường bằng tổng tài sản và tốc độ tăng trưởng tài

sản đến chất lượng kiểm tốn báo cáo tài chính các cơng ty niêm yết. Tuy

nhiên với biến LNASSET như đã đề cập với mức ý nghĩa 1% thì mối quan hệ

giữa biến LNASSET và ABSDA là có ý nghĩa thống kê nên để ngỏ khả năng

mà các nghiên cứu sau này cần làm rõ rằng liệu các cơng ty niêm yết lớn hơn

có ảnh hưởng đến chất lượng kiểm tốn báo cáo tài chính hay khơng.

Nghiên cứu này cũng nhằm tìm hiểu vấn đề đại diện trong điều kiện

khủng hoảng tài chính tồn cầu. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc tăng mức

điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trong bối cảnh khủng hoảng tài

chính tồn cầu cho thấy khả năng rằng ban quản lý sẽ theo đuổi lợi ích của

bản thân mình và đi ngược lại lợi ích của chủ sở hữu khi tiến hành điều chỉnh

lợi nhuận nhằm phù hợp với mục đích của mình. Chất lượng kiểm tốn báo



52

cáo tài chính suy giảm cũng cho thấy khả năng kiểm tốn viên đã đứng về

phía lợi ích của nhà quản lý và khơng duy trì được vai trò độc lập của mình.

Vì vậy vai trò quan trọng của kiểm tốn trong việc giải quyết vấn đề bất đối

xứng thơng tin, mâu thuẫn lợi ích giữa nhà quản lý và chủ sở hữu doanh

nghiệp đặc biệt trong điều kiện khủng hoảng tài chính bị suy yếu hay thậm chí

khơng phát huy được vai trò của mình. Chất lượng thơng tin trên thị trường

chứng khốn vì thế cũng có thể bị suy giảm trong điều kiện khủng hoảng tài

chính tồn cầu. Tác giả cũng khơng phủ định khả năng rằng có sự thông đồng

của cả ban quản lý và bên chủ sở hữu nhằm điều chỉnh lợi nhuận để nhằm vào

các mục tiêu khác nhau bao gồm giá trị cổ phiếu công ty... Tuy nhiên khả

năng này bị hạn chế bởi sự thơng đồng này có thể chỉ được tiến hành bởi hội

đồng quản trị tức bên đại diện thường trực của cổ đơng và ban quản lý và vì

vậy tức khơng phải đại diện cho tồn bộ các cổ đơng công ty.

4.2 CÁC KIẾN NGHỊ

Kết quả của nghiên cứu đã chứng minh cuộc khủng hoảng tài chính tồn

cầu khơng chỉ tác động đến thị trường chứng khoán Việt Nam qua sự lao dốc

của các chỉ số chứng khốn mà còn tác động làm suy giảm chất lượng thông

tin trên thị trường chứng khốn. Cuộc khủng hoảng tài chính tồn cầu vừa tác

động đến hoạt động kinh doanh của các công ty niêm yết trên thị trường

chứng khoán Việt Nam vừa thúc đẩy các công ty này tăng cường mức điều

chỉnh lợi nhuận. Và các kiểm tốn viên, các cơng ty kiểm tốn phải chịu trách

nhiệm trách nhiệm chính cho việc suy giảm chất lượng kiểm tốn cáo tài

chính trong điều kiện khủng hoảng tài chính tồn cầu. Những chỉ trích rộng

rãi mà các cơng ty kiểm tốn phải nhận liên quan đến chất lượng kiểm tốn

trong khủng hoảng tài chính toàn cầu (Sikka, 2009) là cơ sở để các bên liên

quan cần có những biện pháp, chính sách thích hợp để nâng cao chất lượng

kiểm tốn báo cáo tài chính trong điều kiện khủng hoảng tài chính tồn cầu vì



53

theo nhiều nghiên cứu kinh tế thì khủng hoảng có tính chu kỳ vì vậy việc xây

dựng các chính sách, biện pháp này là cần thiết nhằm nâng cao chất lượng

kiểm tốn báo cáo tài chính nhằm hạn chế ảnh hưởng của khủng hoảng là cần

thiết.

Với sự cấp thiết đó thì tác giả xin đưa một số kiến nghị cho các bên liên

quan nhằm mục đích nâng cao chất lượng kiểm tốn báo cáo tài chính trong

khủng hoảng.

- Đối với các kiểm tốn viên và cơng ty kiểm tốn:

+ Các cơng ty kiểm toán và kiểm toán viên cần xây dựng một chương

trình kiểm tốn riêng biệt phù hợp trong điều kiện khủng hoảng kinh tế như

cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008-2009 khi kết quả thực

hiện chương trình kiểm tốn đã áp dụng là sự suy giảm chất lượng kiểm tốn

trong khủng hoảng tài chính.

+ Dấu hỏi về khả năng của kiểm toán viên khi họ tiến hành hoạt động

kiểm tốn chính xác và hiểu được các cơng cụ tài chính phức tạp, hiện đại

trong bối cảnh hiện nay (Sikka, 2009) là cơ sở để yêu cầu các kiểm toán viên

cần nâng cao kiến thức về chứng khốn, các cơng cụ tài chính hiện đại hiện

nay và các cơng ty kiểm tốn có trách nhiệm tài trợ hoặc xây dựng chương

trình cập nhật kiến thức này cho các kiểm tốn viên.

+ Dấu hỏi về tính độc lập của kiểm tốn viên khi có khả năng các kiểm

tốn viên đứng về phía nhà quản lý trong bối cảnh khủng hoảng đặt u cầu

cho các cơng ty kiểm tốn cần nâng cao đạo đức, hiểu biết kiểm tốn viên

thơng qua các chương trình phù hợp.

- Đối với hiệp hội nghề nghiệp và bộ tài chính cùng các bên liên quan khác:

Các khn khổ mà các hoạt động kiểm tốn tuân thủ,ảnh hưởng đến chất

lượng kiểm toán (Francis, 2011) nên việc hiệp hội nghề nghiệp và các cơ quan

chính phủ cần hoàn thiện hơn nữa hệ thống các quy định, văn bản, các cơ chế



54

nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kế tốn, kiểm tốn và tính minh bạch

hay chất lượng thông tin công bố là yếu cần thiết đặc biệt trong điều kiện

khủng hoảng. Ví dụ như ban hành một “Khn khổ chất lượng kiểm tốn”

như cách mà Hội đồng báo cáo tài chính Anh (FRC) đã ban hành nhằm khơi

phục lòng tin đối với nghề nghiệp kiểm tốn sau khủng hoảng.

Các cổ đông, ngân hàng, nhà đầu tư là các đối tượng chính sử dụng báo

cáo tài chính như một trong những kênh để quyết định việc đầu tư, cho vay

hay đánh giá việc doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn của mình đầu tư như thế

nào nên đây cũng là những đối tượng chính chịu ảnh hưởng nếu có sự suy

giảm chất lượng báo cáo tài chính, chất lượng kiểm tốn. Như kết quả nghiên

cứu cho thấy thì trong khủng hoảng thì các doanh nghiệp có một động lực lớn

hơn để điều chỉnh lợi nhuận và báo cáo kiểm toán chứa đựng rủi ro lớn về khả

năng chứa đựng các sai phạm trọng yếu. Chất lượng kiểm toán cũng được xác

định rằng đã suy giảm trong khủng hoảng do đó vai trò của kiểm tốn như

cơng cụ giải quyết vấn đề đại diện đã suy giảm trong khủng hoảng. Các cổ

đông, ngân hàng, nhà đầu tư và các đối tượng khác cần có các biện pháp

nhằm hạn chế ảnh hưởng của việc suy giảm hiệu quả của kiểm tốn đến hoạt

động đầu tư, cho vay … của mình. Tác giả đưa ra một số ý kiến nhằm giúp

các đối tượng trên như là một công cụ bổ trợ cho kiểm toán trong việc giải

quyết vấn đề đại diện trong doanh nghiệp dưới ảnh hưởng suy giảm hiệu quả

của kiểm tốn trong khủng hoảng:

- Hội đồng cổ đơng phải yêu cầu ban quản lý doanh nghiệp cung cấp thêm các

báo cáo nội bộ với những khoản thời gian ngắn hơn trong điều kiện khủng

hoảng. Các báo cáo có thể bao gồm: Báo cáo khả năng thanh toán, báo cáo chi

phí đầu vào, báo cáo doanh thu, báo cáo hiệu quả sản xuất, báo cáo thay đổi

thị phần, báo cáo tác động của khủng hoảng … Các báo cáo này được yêu cầu



55

cung cấp cho các thành viên hội đồng cổ đông theo các khoản thời gian cố

định mà các cổ đông thấy là phù hợp.

- Các ngân hàng, nhà đầu tư cần sử dụng báo cáo tài chính trong giai đoạn

khủng hoảng một cách cẩn trọng hơn khi quyết định các hoạt động cho vay

hay đầu tư. Ngân hàng cần nâng cao chuẩn cho vay và yêu cầu doanh nghiệp

cung cấp một bảng cáo bạch thông tin rõ ràng để quyết định hoạt động cho

vay. Nhà đầu tư cần quyết định sáng suốt hơn và dựa vào nhiều kênh thông tin

khác hơn là chỉ sử dụng các số liệu trên báo cáo tài chính khi đầu tư.



DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

• Danh mục tài liệu tiếng việt:

[1]. Bộ Tài chính, Hệ thống các chuẩn mực kế tốn Việt Nam.

[2]. Bộ Tài chính, Thơng tư hướng dẫn các chuẩn mực kế tốn.

[3]. Nguyễn Cơng Phương(2005), “Kế tốn dồn tích và kế tốn tiền”, Tạp chí

Kinh tế và Phát triển, số 98.2005, trang 34 – 36.

[4]. Nguyễn Công Phương, (2009),“Kế tốn theo cơ sở dồn tích và quản trị

lợi nhuận của doanh nghiệp”, Tạp chí kế tốn, số tháng 04/2009.

[5]. Nguyễn Thị Minh Trang (2012), “Vận dụng mơ hình của DeAngelo và

Friedland để nhận dạng hành động điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản

trị”.Nghiên cứu khoa học Đại học Đông Á, số 06.2012, trang 39 – 47.

[6]. Bùi Thị Thủy. (2012) “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng

kiểm tốn báo cáo tài chính các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường

chứng khoán Việt Nam”, Luận án Tiến Sĩ, Viện Đào tạo Sau Đại học,

Viện Kế toán – Kiểm tốn Trường Đại học Kinh tế quốc dân.

• Danh mục tại liệu tiếng anh:

[1]. DeAngelo, L.E. (1981),“Auditor size and audit quality”, Journal of

Accounting and Economics, 3 (3), pp.183–199.

[2]. DeFond, M., & Zhang, J. (2013),“A Review of Archival Auditing

Research”. University of (Southern California) [Online].

[3]. Francis, J.R. (2011),“A framework for understanding and researching

audit quality”, Auditing: A Journal of Practice & Theory, 30 (2),

pp.125-152.

[4]. Friedman, H.H., & Friedman, L.W. (2009),“The Global Financial Crisis

of 2008: What went wrong”.[Online].

[5]. Jueming Bing, Chu, X.H , Anqui Li, Xinyi Zhu (2014),“Audit quality

research report”. [Online]



[6]. Holm, C., & Zaman, M. (2012) “Regulating audit quality: Restoring trust

and legitimacy”, Accounting Forum, 36 (1), pp.51-61.

[7]. Kousenidis, D., Ladas, A., & Negakis, C. (2013), “The effects of the

European debt crisis on earnings quality”, International Review of

Financial Analysis, 30, pp. 351-362.

[8]. Sikka, P. (2009),“Financial crisis and the silence of the auditors”,

Accounting, Organizations and Society, 34 (6, 7), pp. 868-873.

[9]. Svanström, T. (2013),“Non-audit services and audit quality: evidence

from private firms”, European Accounting Review, 22 (2), pp. 337-366.

[10]. Sotheara Riel và Carl Tano. (2014),“Impact of financial crisis on audit

quality”, Master thesis, [Online]

[11]. Abu TaherMollik, MonirMir, RonaldMcIverand M.KhokanBepari

(2013),“Effects of audit quality on Earning Management during Global

Financial Crisis. An Empirical Analysis of Australia company”

[Online].



Nguồn Internet

[1] www.ssrn.com

[2] www.vietstock.vn

[3] www.bvsc.com.vn



PHỤ LỤC

[1]. Phụ lục 1: Bảng danh sách 77 công ty được chọn

[2]. Phụ lục 2: Bảng kết quả tính tốn và thu thập số liệu các biến trong

mơ hình năm 2009

[3]. Phụ lục 3: Bảng kết quả tính tốn và thu thập số liệu các biến trong

mơ hình năm 2008

[4]. Phụ lục 4: Bảng kết quả tính tốn và thu thập số liệu các biến trong

mơ hình năm 2007

[5]. Phụ lục 5: Bảng kết quả tính tốn và thu thập số liệu các biến trong

mơ hình năm 2006

[6]. Phụ lục 6: Bảng kết quả tính tốn và thu thập số liệu các biến trong

mơ hình năm 2005

[7]. Phụ lục 7: Bảng kết quả thống kê mô tả

[8]. Phụ lục 8: Bảng kết quả phân tích tương quan

[9]. Phụ lục 9: Bảng kết quả phân tích hồi quy



KẾ HOẠCH TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN

Nội dung

phải hoàn

thành trước



ST

T



Nội dung



1



Xác định

vấn đề và

mục tiêu

nghiên cứu



2



Tổng quan

tài liệu

nghiên cứu



Tổng hợp các

nghiên cứu



3



Cơ sở lý

thuyết



Tổng hợp cơ

sở lý thuyết

và các mơ

hình nghiên

cứu



4



Đặt giả

thuyết



5



6



7



Lựa chọn mơ

hình nghiên

cứu

Chọn mẫu và

thu thập các

số liệu liên

Thu thập

quan theo

và xử lý số

mẫu đã chọn.

liệu

Tính tốn và

phân tích các

biến

Kết luận về Kết luận về

vấn đề

các giả thuyết

nghiên cứu

đã đặt ra

Mô hình

nghiên cứu



Thời gian

bắt đầu



Thời gian

kết thúc



01/03/201

5



20/03/201

5



21/03/201

5



5/04/2015



6/04/2015



20/04/201

5



21/04/201

5



26/04/201

5



27/04/201

5



04/05/201

5



05/05/201

5



06/06/201

5



07/06/201

5



15/06/201

5



Yêu cầu kết

quả dự kiến

đạt được

Tìm ra giải

pháp tốt nhất

cho vấn đề đặt

ra.

Xác định vấn

đề nghiên

cứu.

Nắm bắt các

nội dung liên

quan đến chất

lượng kiểm

toán và quản

trị lợi nhuận.

Giả thuyết

phù hợp với

nội dung

nghiên cứu

Lựa chọn mơ

hình nghiên

cứu phù hợp.

Thu thập số

liệu theo mẫu

đã chọn, tính

tốn các biến,

sử dụng SPSS

để phân tích

các biến.

Kiểm định giả

thuyết và đưa

ra kết luận về



vấn đề nghiên

cứu.



8



Các kiến

nghị



Xác định

được các giải

pháp nhằm

nâng cao chất

lượng kiểm

toán



16/06/201

5



17/07/201

5



Các giải pháp

đề xuất là phù

hợp với thực

tiễn tại Việt

Nam.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 KẾT LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x