Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU GIAI ĐOẠN 2008-2009 (GFC)

3 KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU GIAI ĐOẠN 2008-2009 (GFC)

Tải bản đầy đủ - 0trang

27

vay để tiếp tục hoạt động và chúng gia tăng áp lực lên các cơng ty kiểm tốn

để đưa ra ý kiến về khả năng hoạt động liên tục”. Trong một giai đoạn khó

khăn kinh tế nghiêm trọng, ngày càng khó khăn cho kiểm tốn viên đánh giá

khi nào là thích hợp để phát hành nhận xét về khả năng hoạt động liên tục và

vì GFC làm tăng rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp nên nó cũng làm tăng rủi

ro các kiểm tốn viên phát hành ý kiến khơng chính xác (Xu, 2013).

1.3.2 . Khủng hoảng tài chính tại Việt Nam

Cuộc khủng hoảng tài chính tồn cầu đã tác động mạnh tới nền kinh tế

Việt Nam với tư cách là nền kinh tế đang hội nhập sâu rộng vào kinh tế toàn

cầu. Việt Nam vừa mở rộng cánh cửa với thế giới vào năm 2007 với việc trở

thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO thì năm

2008 Việt Nam đã phải đón nhận cơn khủng hoảng kinh tế thế giới. Giai đoạn

tăng trưởng GDP liên tục trên mức 7% của Việt Nam kết thúc, và suy giảm

liên tục trong hai năm khủng hoảng. Việt Nam xoáy sâu trong khủng hoảng

với xuất khẩu là lĩnh vực chịu ảnh hưởng đầu tiên. Thị trường xuất khẩu quan

trọng của hàng hóa Việt Nam là Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản … đang gánh chịu

khủng hoảng nghiêm trọng do đó tác động trực tiếp tới giá trị xuất khẩu của

Việt Nam. Xuất khẩu vốn là động lực tăng trưởng của cả nền kinh tế, sự sụt

giảm xuất khẩu càng khiến cho nền kinh tế trong nước lao dốc. Trước năm

2007, ngành công nghiệp tăng trưởng mạnh mẽ và là trụ cột trong tiến trình

cơng nghiệp hóa đất nước tuy nhiên khủng hoảng tài chính đã làm chỉ số cơng

nghiệp của Việt nam lao dốc trong hai năm liên tiếp. Nhiều ngành công

nghiệp quan trọng của nền kinh tế như khai khoáng, sản xuất thép lao đao thể

hiện ở số lượng tồn kho lớn. Đi kèm với sự sụt giảm sản xuất công nghiệp là

sự suy giảm trong sức mua thị trường nội địa, tiêu thụ hàng hóa khó khăn trên

thị trường.



28

Trên thị trường chứng khoán, cùng với đà sụt giảm của các chỉ số chứng

khoán của các thị trường chính trên thế giới: Dow Jones (Mỹ) giảm 34.6%,

FTSE 100 (Anh) giảm 31.5%, Nikkei 225 (Nhật) giảm 42.1%, Shanghai

Composite (Trung Quốc) giảm 65.2%, BSE30 (Ấn Độ) 52.2% … Chứng

khoán Việt Nam cũng sụt giảm nghiêm trọng trong năm 2008, thậm chí còn

cao hơn mức sụt giảm của các thị trường chứng khoán lớn với mức giảm

65.95% với VN-Index và 67.51% với HASTC-Index. Giá trị vốn hóa của tồn

thị trường mất khoảng 270 nghìn tỉ đồng (16 tỷ USD). Sự bốc hơi hàng trăm

ngàn tỷ đồng trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2008 chứng tỏ

sức ảnh hưởng lớn và nghiêm trọng của khủng hoảng tài chính tồn cầu tới

Việt Nam, đồng thời nó còn cho thấy một cơn bão khó khăn mà các doanh

nghiệp tại Việt Nam đang hứng chịu. Năm 2009, thị trường chứng khoán Việt

Nam chạm đáy trong quý I, tuy có phục hồi trong giữa và cuối năm như các

chỉ số VN-Index và HASTC-Index vẫn thấp hơn nhiều mức cuối năm 2007

chứng tỏ tác động của cuộc khủng hoảng tài chính vẫn còn nghiêm trọng và

các doanh nghiệp vẫn đang chật vật đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính

tồn cầu.



29

CHƯƠNG 2



GIẢ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Cuộc khủng hoảng tài chính tồn cầu giai đoạn 2008-2009 gây những

khó khăn hết sức nghiêm trọng cho các doanh nghiệp trên phạm vi tồn cầu

trong đó có Việt Nam. Các doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty niêm yết khi

đối mặt với những khó khăn của khủng hoảng tài chính tồn cầu, ảnh hưởng

đến hoạt động, đến lợi nhuận của công ty thì thường tìm mọi cách nhằm giảm

thiểu tác động này trong đó có việc trình bày các báo cáo tài chính tốt hơn

thực tế nhằm che dấu hiệu quả kinh doanh tồi tệ thực trong khủng hoảng. Mặt

khác nhiều công ty lại lựa chọn che dấu thực tế hiệu quả hoạt động yếu kém,

thua lỗ của nhiều năm đã qua bằng cách “làm quá” tác động và ảnh hưởng của

khủng hoảng. Kousenidis (2013) cho rằng các doanh nghiệp vào thời điểm

khó khăn thường tăng mức độ dồn tích kế tốn và tham gia vào các vụ “tẩy

rửa” kế toán lớn, chú tâm tạo lập một khoản lỗ lớn trong điều kiện khó khăn

của cuộc khủng hoảng. Choi (2011) lại cho rằng nhiều doanh nghiệp khác có

một động lực để thực hiện điều chỉnh lợi nhuận trong khủng hoảng nhằm che

dấu lợi nhuận hoặc lỗ thực tế của doanh nghiệp, đặc biệt trong các tình huống

khi hiệu quả kinh tế kém của doanh nghiệp đặt họ vào các tình huống vi phạm

các điều khoản kinh tế hoặc các giao ước nợ liên quan. Các rủi ro mà doanh

nghiệp thực hiện các hành vi khơng minh bạch trong khủng hoảng tài chính

tương ứng với các rủi ro mà kiểm tốn viên có thể đưa ra các ý kiến khơng

chính xác về thực trạng của doanh nghiệp được kiểm toán hay rủi ro về chất

lượng kiểm toán suy giảm dưới tác động của khủng hoảng tài chính. Đặc biệt

đối với các cơng ty niêm yết thì động cơ điều chỉnh lợi nhuận của nhóm này

rõ ràng hơn khi mà tác động của hiệu quả kinh doanh, lợi nhuận được trình

bày trên báo cáo tài chính ảnh hưởng mạnh tới giá trị thị trường, nguồn vốn,



30

hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, do đó rủi ro về việc được ra ý kiến

kiểm tốn khơng chính xác hay rủi ro chất lượng kiểm tốn đối với nhóm

cơng ty niêm yết suy giảm là nghiêm trọng hơn. Nhiều nhận định của các nhà

nghiên cứu trên thế giới nêu rõ ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính

tới chất lượng kiểm tốn. Holm & Zaman (2012) đánh giá rằng khủng hoảng

tài chính tồn cầu và những thất bại, sụp đổ của các công ty mà cuộc khủng

hoảng tài chính tồn cầu gây ra đã dấy lên nhiều lời chỉ trích về nghề nghiệp

kiểm tốn và tạo áp lực nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán. Quy trình kiểm

tốn và khả năng của kiểm tốn viên bị đặt dấu hỏi trong cuộc khủng hoảng

(Sikka, 2009). Liệu chất lượng kiểm tốn báo cáo tài chính các cơng ty niêm

yết trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam sẽ suy giảm dưới tác động của

cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Giả thuyết nghiên cứu được đặc ra là:

H1: Chất lượng kiểm tốn báo cáo tài chính các cơng ty niêm yết trên

thị trường chứng khoán Việt Nam suy giảm trong cuộc khủng hoảng tài chính

tồn cầu.

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Chọn mẫu và dữ liệu thực hiện nghiên cứu

Mẫu nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên từ tổng thể là các công ty bắt đầu

niêm yết trên hai sàn giao dịch chứng khoán là HNX và HOSE từ năm 2006

trở về trước và không bao gồm các công ty tài chính và ngân hàng. Phương

pháp chọn mẫu:

- Nghiên cứu chỉ tập trung vào các cơng ty niêm yết vì các cơng ty này có sự

tách biệt giữa chủ sở hữu và nhà quản lý và vì thế thơng tin kiểm tốn là rất

quan trọng và mục đích của nghiên cứu này cũng đồng thời tìm hiểu vấn đề

đại diện trong điều kiện khủng hoảng nên các công ty niêm yết là đối tượng

phù hợp nhất để nghiên cứu vấn đề này.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU GIAI ĐOẠN 2008-2009 (GFC)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x