Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b. Phép đo dựa vào yếu tố đầu ra

b. Phép đo dựa vào yếu tố đầu ra

Tải bản đầy đủ - 0trang

21

lượng kiểm tốn và cũng có những trường hợp khi mà sai sót trọng yếu xảy ra

nhưng khơng được phát hiện và sửa chữa bởi cơng ty kiểm tốn và các bên

liên quan, đo đó làm hạn chế tính chính xác của phép đo.

 Ý kiến kiểm toán

Một ý kiến về khả năng hoạt động liên tục có ý nghĩa rằng kiểm tốn

viên có nghi ngờ đáng kể về khả năng cơng ty được kiểm tốn có tiếp tục hoạt

động hay không (Defond & Zhang, 2013) [17]. Carson (2013) giải thích rằng

các đánh giá này dựa trên các bằng chứng thu thập được trong q trình kiểm

tốn và nếu có bằng chứng về khả năng cơng ty được kiểm tốn sẽ khơng tiếp

tục hoạt động, kiểm tốn viên phải u cầu thông tin từ nhà quản lý để giải

quyết vấn đề [12]. Carson tiếp tục lưu ý rằng nếu các kiểm toán viên tiếp tục

nghi ngờ về khả năng tiếp tục hoạt động của cơng ty được kiểm tốn và điều

này khơng được trình bày đầy đủ trong báo cáo tài chính thì kiểm tốn viên

phải điều chỉnh ý kiến kiểm tốn và trình bày lý do đối với mối lo ngại của

mình [12].

Một sự suy giảm xu hướng của kiểm toán viên trong việc phát hành các

ý kiến kiểm toán về khả năng hoạt động liên tục của khách hàng được xem

như việc các kiểm tốn viên khơng chịu đựng được các áp lực từ nhà quản lý

và do đó chất lượng kiểm tốn được xác định là suy giảm (DeFond & Zhang,

2013) [17]. DeFond & Zhang (2013) cũng cho rằng đây là một quan sát trực

tiếp để đo lường chất lượng kiểm tốn vì kiểm tốn viên có tồn quyền ra ý

kiến kiểm tốn và là một sự nghiêm trọng khi kiểm tốn viên khơng đưa ra ý

kiến thích hợp [17]. Tuy nhiên DeFond & Zhang (2013) cũng lưu ý rằng phép

đo này chỉ biểu diễn được chất lượng kiểm tốn thấp và khơng phản ánh được

sự thay đổi nhỏ trong chất lượng kiểm toán và ý kiến này chỉ được trình bày

cho các cơng ty có hiệu quả kinh tế kém và khơng nói gì trường hợp các cơng

ty có hiệu quả kinh tế tốt [17].



22

 Đánh giá của người sử dụng thông tin

Đo lường dựa trên đánh giá của người sử dụng thông tin là phép đo

lường chất lượng kiểm toán dựa trên cách người sử dụng thông tin cảm nhận

và phản ứng với những thông tin được kiểm tốn (Defond & Zhang, 2013)

[17]. Ví dụ về các quan sát của phép đo này bao gồm: sự phản ứng của thị

trường chứng khoán với các sự kiện được kiểm toán, đánh giá của ủy ban

kiểm toán về chất lượng kiểm toán, sự thay đổi trong thị phần của cơng ty

kiểm tốn …

Defond và Zhang (2013) xem đây là một phép đo gián tiếp của chất

lượng kiểm toán, đặc biệt khi các phản ứng của nhà đầu tư được đo lường khi

mà kiểm tốn có tác động rất nhỏ đến việc định giá công ty so với hiệu quả

hoạt động của công ty và các yếu tố kinh tế toàn cầu [17]. Hơn nữa với các

phản ứng của thị trường chứng khoán là ảnh hưởng của nhiều sự kiện khác

nhau bên ngồi yếu tố kiểm tốn, đo đó phép đo này là vơ cùng gián tiếp.

 Biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh

Mục tiêu của đo lường chất lượng lợi nhuận là nghiên cứu mức độ đại

diện của báo cáo lợi nhuận nhằm phản ánh các sự kiện kinh tế và một trong

những mục đích chính của kiểm tốn là ngăn nhà quản lý đưa ra các báo cáo

kết quả hoạt động kinh doanh tốt hơn thực tế (Defond & Zhang, 2013) [17].

Và quản trị lợi nhuận là kim chỉ nam của báo cáo tài chính chất lượng thấp

(Kinney, 2004, trích dẫn bởi Sotheara Riel và Carl Tano, 2014) [32]. Chất

lượng kiểm toán được xem xét thông qua chất lượng lợi nhuận của BCTC đã

được kiểm toán, thường được đo lường bằng biến kế toán dồn tích có thể điều

chỉnh (DA). Biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh là một trong những quan

sát phổ biến nhất để đại diện cho chất lượng lợi nhuận cũng như chất lượng

kiểm toán, được xác định dựa trên báo cáo tài chính đã được kiểm tốn

(Jueming Bing, Chu, X.H, Anqui Li, Xinyi Zhu, 2014 [24]).



23

Lợi nhuận được trình bày trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

gồm hai phần là phần dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và phần giá trị kế

tốn dồn tích. Và phần giá trị kế tốn dồn tích này gồm hai phần: Phần không

điều chỉnh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh và phần điều chỉnh bởi các

hành vi kế toán bị thao túng bởi nhà quản lý được đo lường bằng biến kế tốn

dồn tích có thể điều chỉnh DA.

Defond và Zhang (2013) chỉ rõ rằng DA không phải là một quan sát đo

lường trực tiếp chất lượng kiểm tốn như là ý kiến kiểm tốn vì kiểm tốn

viên khơng thể kiểm sốt trực tiếp DA như đối với việc đưa ra ý kiến kiểm

toán [17]. Nếu quản trị lợi nhuận trong phạm vi cho phép của chuẩn mực và

quy định kế tốn thì nó khơng phải là một vi phạm nghiêm trọng. Defond và

Zhang (2013) cũng chỉ ra rằng phép đo này có bất lợi là thiếu sự đồng nhất về

cách thức đo lường quản trị lợi nhuận để phản ánh kết quả nghiên cứu [17].

Tuy nhiên hai ông cho rằng quan sát này nắm bắt được sự thay đổi nhỏ trong

chất lượng kiểm toán xảy ra trong giới hạn chuẩn mực kế toán được áp dụng

và lợi thế khác là quan sát này đại diện cho chất lượng báo cáo lợi nhuận hay

báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là mục tiêu cuối cùng kiểm toán [17].

Với những lợi thế rằng phép đo chất lượng kiểm tốn thơng qua biến kế

tốn dồn tích có thể điều chỉnh nắm bắt được sự thay đổi nhỏ trong chất lượng

kiểm toán và đồng nhất với nhận định của tác giả về chất lượng kiểm toán là

một biến biến đổi liên tục nên tác giả cho rằng phù hợp khi sử dụng biến kế

tốn dồn tích có thể điều chỉnh (DA) để đo lường cho chất lượng kiểm toán

trong nghiên cứu này. Ngoài ra một lợi thế khác của phép đo này mà tác giả

cũng cho rằng phù hợp trong nghiên cứu của tác giả là: phép đo chất lượng

kiểm tốn thơng qua biến kế tốn dồn tích DA phù hợp với một cỡ mẫu nhỏ

và một khung thời gian ngắn (Sotheara Riel và Carl Tano, 2014) [32].

c. Các mô hình đo lường biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh (DA)



24

Một trong những nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận là nguyên tắc

cơ sở dồn tích. Theo ngun tắc này thì doanh thu, chi phí được ghi nhận tại

thời điểm phát sinh nghiệp vụ chứ không căn cứ vào thời điểm thu và chi tiền

hay việc ghi nhận doanh thu, chi phí khơng căn cứ vào thực tế dòng tiền đi

vào hay đi ra khỏi doanh nghiệp. Do đó giữa dòng tiền trên báo cáo lưu

chuyển tiền tệ được lập trên cơ sở tiền và lợi nhuận trên báo cáo kết quả kinh

doanh được lập trên cơ sở dồn tích có một khoản chênh lệch. Chênh lệch này

được gọi là biến kế tốn dồn tích và được xác định theo cơng thức:

Biến kế tốn dờn tích



=



Lợi nḥn



Lưu chuyển tiền thuần từ



-



(Total Accruals)

sau thuế

hoạt động kinh doanh

Biến kế tốn dồn tích (TA) lại bao gồm hai phần đó là: Phần biến kế tốn

dồn tích có thể điều chỉnh được (DA) và phần biến kế tốn dồn tích khơng thể

điều chỉnh được (NDA).

Biến kế tốn



Biến kế tốn dờn tích



Biến kế tốn dờn tích



dờn tích



có thể điều chỉnh được



khơng thể điều chỉnh



=



+



được



(Total



(Discretionary



(Non Discretionary



Accruals -TA)



Accruals - DA)



Accruals - NDA)



Phần biến kế tốn dồn tích khơng thể điều chỉnh (NDA) phản ảnh tình

trạng cụ thể của từng doanh nghiệp và khơng thể điều chỉnh được bởi nhà

quản trị. Trong khi đó phần biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh (DA)

chính là phần lợi nhuận mà doanh nghiệp có được nhờ sử dụng các phương

pháp kế tốn. Do đó DA thường được sử dụng để nghiên cứu, phát hiện hành

vi quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp.

Có nhiều mơ hình nghiên cứu quản trị lợi nhuận thơng qua đo lường biến

tốn dồn tích có thể điều chỉnh (DA) trên thế giới nhưng những mơ hình phổ

biến nhất bao gồm: The Healy Model (1985), The DeAngelo Model (1986),



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b. Phép đo dựa vào yếu tố đầu ra

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x