Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.26 – Tác động phi tuyến tính FO và ROA

Bảng 3.26 – Tác động phi tuyến tính FO và ROA

Tải bản đầy đủ - 0trang

86



Kết luận: Với tỷ trọng trong cơ cấu sở hữu nhỏ, sở hữu nước ngồi chưa

tác động tích cực như tiềm năng (đã được kiểm định trong phần tuyến tính và

phi tuyến tính), do vậy cần có các biện pháp thu hút và tăng sở hữu nước

ngồi trong các cơng ty niêm yết, từ đó có thể tăng hiệu quả hoạt động của

các công ty này.

3.3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC SỞ

HỮU ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT

TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Kiểm định Hausman đã được sử dụng để kiểm định dữ liệu thu được sẽ

theo mơ hình nào giữa mơ hình tác động cố định FEM và mơ hình tác động

ngẫu nhiên REM. Ngồi ra, các phân tích thống kê mô tả cũng được sử dụng

kết hợp với các kết quả hồi quy để đưa ra kết luận về bốn giả thuyết về tác

động của sở hữu Nhà nước và sở hữu nước ngoài tới hiệu quả hoạt động của

các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, đồng thời kiểm

chứng giả thuyết liên quan tới mối quan hệ tuyến tính hay phi tuyến tính của

cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của công ty.

Thông qua kết quả kiểm định, cho thấy sở hữu Nhà nước bên cạnh tác

động tích cực còn có tác động tiêu cực tới hiệu quả hoạt động của cơng ty

niêm yết, trong khi đó sở hữu nước ngồi có tác động tích cực tới hiệu quả

hoạt động của các công ty niêm yết.

Kết quả kiểm chứng cũng cho thấy sở hữu Nhà nước và sở hữu nước

ngồi có mối quan hệ phi tuyến tính tới hiệu quả hoạt động của công ty.



87



KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Kết quả của kiểm định thực chứng đã cho thấy sở hữu Nhà nước có tác

động tích cực tới hiệu quả hoạt động của các cơng ty. Tuy nhiên, bên cạnh đó

nó vẫn có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của cơng ty. Trong khi đó,

sở hữu nước ngồi lại có tác động tích cực tới hiệu quả hoạt động của công ty.

Điều này cho thấy, các công ty niêm yết nên thu hút vốn đầu tư nước ngoài để

gia tăng hiệu quả hoạt động của cơng ty.

Để giải thích cho tác động tiêu cực của sở hữu Nhà nước và tác động tích

cực sở hữu nước ngồi, một số ngun nhân đã được đưa ra như chưa tách

bạch vài trò quản lý doanh nghiệp và quản lý Nhà nước, năng lực quản trị

cơng ty của các cơng ty có vốn Nhà nước nói riêng còn hạn chế, chưa thu hút

nhiều vốn đầu tư nước ngồi, thị trường chứng khốn Việt Nam chưa phát

triển mạnh mẽ so với các nước trong khu vực, giới hạn tỷ lệ sở hữu được phép

của nhà đầu tư nước ngồi tại các cơng ty còn thấp, hoạt động kinh doanh của

các công ty chưa hiệu quả,...



88



CHƯƠNG 4



HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KẾT LUẬN

4.1. CƠ SỞ ĐƯA RA CÁC GIẢI PHÁP

Nghiên cứu cho thấy cấu trúc sở hữu có tác động rõ rệt đến hiệu quả hoạt

động công ty qua biến Tobin Q, ROA và ROE. Khi phân chia thành sở hữu

nhà nước và sở hữu nước ngồi thì có những ảnh hưởng riêng biệt. Nhìn

chung sở hữu nhà nước càng cao thì càng được thị trường đánh giá có tiềm

năng phát triển thơng qua biến Tobin Q. Tuy nhiên khi xét với ROA, ROE thì

dù sở hữu tổ chức vẫn tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động và có xu

hướng tác động mạnh khi gia tăng đầu tư của tổ chức nhưng khi tỷ lệ sở hữu

nhà nước vượt quá cao (trên 75%) thì ảnh hưởng bắt đầu giảm đi. Trong khi

đó ảnh hưởng của tổ chức nước ngoài lên hiệu quả hoạt động thì cho kết quả

ngược lại. Sự hiện diện của sở hữu nước ngồi tác động tích cực đến chỉ tiêu

hiệu quả hoạt động theo giá trị sổ sách lẫn giá trị thị trường.

4.2. MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

4.2.1. Khuyến nghị nhằm tái cấu trúc sở hữu để tăng hiệu quả hoạt

động cho DNNY

So với các thị trường khác trong khu vực, thị trường lao động Việt Nam

có một số lợi thế hơn, đặc biệt chi phí xây dựng và chi phí nhân cơng thấp

hơn. Bên cạnh đó, trình độ cơng nghệ kỹ thuật của nhà thầu trong nước đã có

sự cải thiện đáng kể so với giai đoạn trước khi hội nhập. Tuy nhiên, kinh tế

Việt Nam cũng còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay mà

cả Chính phủ và khu vực tư nhân phải cùng nhau cải thiện và khắc phục như:

1) sự sụt giảm năng suất lao động trong những năm gần đây; 2) hạn chế về

mặt tài chính nên nhà thầu trong nước vẫn thường chưa đảm nhận vai trò thầu

phụ cho các nhà thầu quốc tế ngay tại thị trường nội địa; 3) nhiều vật liệu,



89



thiết bị máy móc xây dựng phải phụ thuộc vào nhập khẩu. Bên cạnh đó, cũng

do chính nhà thầu trong nước không biết hợp tác với nhau để hình thành các

tổ hợp như nhà thầu nước ngồi; 4) Việt Nam đang thiếu hụt vốn Đầu tư cơ sở

hạ tầng và khu vực tư nhân chưa hào hứng tham gia vào phân khúc này khi

chưa có khung pháp lý hồn chỉnh cho mơ hình hợp tác Đầu tư cơng - tư

(PPP); 5) tỷ lệ nợ xấu còn cao sẽ làm nguồn vốn tín dụng thận trọng hơn.

4.2.2. Lập kế hoạch thối vốn Nhà nước

a. Đối với các cơng ty có vốn Nhà nước hoạt động khơng hiệu quả

Bên cạnh một số công ty hoạt động hiệu quả đáng chú ý, nhiều công ty

hoạt động không hiệu quả. Đối với các DN này, do hoạt động không hiệu quả

trong thời gian gần đây kết hợp với sự không thuận lợi đối với thị trường

chứng khoán, do vậy Nhà nước cần có chiến lược thối vốn ngay, cụ thể đối

với các cơng ty có vốn Nhà nước chi phối cần phải ngay lập tức kiểm tra lại

giá trị thực của các công ty này do hoạt động không hiệu quả và bị thị trường

đánh giá thấp trong giai đoạn từ năm 2013 - 2015. Trong trường hợp giá trị

thực của các cơng ty này khơng cao như kỳ vọng thì Chính phủ và người đại

diện vốn Nhà nước cần phải thực hiện ngay theo điều 3, Nghị quyết số 15/

NQ - CP về một số giải pháp đẩy mạnh cổ phần hóa, thối vốn Nhà nước tại

cơng ty, tức là chấp nhận thoái vốn theo giá thị trường thấp hơn mệnh giá.

Trong trường hợp giá trị kỳ vọng cao trong tương lai cần phải có kế hoạch

thối vốn rõ ràng.

b. Đối với các cơng ty có vốn Nhà nước hoạt động hiệu quả

Trong số các cơng ty có sở hữu Nhà nước chiếm đa số hoặc chi phối, có

nhiều cơng ty đã tạo ra nhiều hiệu quả, có thể kể đến các cơng ty có mã chứng

khốn như VNM,.... Tuy nhiên đây chỉ là một số ít cơng ty có vốn Nhà nước

hoạt động hiệu quả. Đối với các công ty này, mặc dù hiệu quả nhưng vẫn có

lộ trình thoái vốn, cụ thể:



90



- Xác định lại giá trị của công ty, nếu mức giá thị trường phản ánh đúng

giá trị của cơng ty thì Nhà nước nên bán ngay để bảo tồn vốn.

- Trong trường hợp các cơng ty này mức giá không cao (thấp hơn so với

giá kỳ vọng) cũng cần có lộ trình để thối vốn dần trong tương lai.

4.2.3.



Cho phép tăng giới hạn tỷ lệ sở hữu nước ngồi tại các cơng ty



Trong những năm tới, các ngành nghề ở Việt Nam có nhiều cơ hội để

phát triển mạnh mẽ do nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển nhà ở

trong nước đang tăng mạnh. Trong lĩnh vực giao thông vận tải, là việc xây

dựng, hoàn thiện tuyến đường cao tốc Bắc Nam, xây các cảng nước sâu ở Hải

Phòng, Khánh Hòa và Bà Rịa - Vũng Tàu hay sân bay ở Đồng Nai. Lĩnh vực

năng lượng cũng đòi hỏi xây dựng nhiều nhà máy thủy điện để đáp ứng nhu

cầu trong nước. Trong lĩnh vực nhà ở, Bộ Xây dựng cũng dự báo với tốc độ

tăng trưởng dân số và đô thị hóa nhanh như hiện nay, nhu cầu nhà ở tại Việt

Nam sẽ tăng mạnh. Trong thời gian tới, trung bình mỗi năm Việt Nam sẽ cần

thêm 36 triệu m2 nhà ở ở khu vực đơ thị.

Những chính sách ưu tiên phát triển ngành xây dựng công nghiệp và dân

dụng của Chính phủ nêu trên sẽ tạo ra nguồn cầu lớn cho các nhà thầu xây

dựng và thúc đẩy thị trường xây dựng và cung cấp vật liệu xây dựng ở Việt

Nam phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới.

Tuy nhiên, thực tế những năm qua cho thấy các cơng trình lớn, đặc biệt

là xây dựng cơ sở hạ tầng ở Việt Nam đều do nhà thầu nước ngoài thực hiện

hoặc giữ vai trò chính. Ví dụ như dự án cảng nước sâu quốc tế tại Hải Phòng

do Tổng cơng ty Tân Cảng Sài Gòn liên doanh với đối tác Molnykit (Nhật

Bản) để xây dựng bãi Container và cầu tàu. Ngoài ra, theo thống kê của Viện

Nghiên cứu cơ khí (Bộ Công Thương) được công bố hồi đầu tháng 4/2014,

Việt Nam hiện có 20 dự án nhiệt điện thì có 15 cơng trình được phía Trung

Quốc làm tổng thầu. Nếu chỉ tính riêng đến năm 2010, có đến 90% các dự án



91



tổng thầu EPC (tư vấn, thiết kế - cung cấp thiết bị - xây lắp, vận hành) do nhà

thầu Trung Quốc đảm nhiệm, trong đó chủ yếu là dự án trong các lĩnh vực dầu

khí, hóa chất, điện, dệt kim.

Một điều đáng quan tâm là phần lớn các cơng trình xây dựng do nhà thầu

nước ngoài, đặc biệt nhà thầu Trung Quốc thực hiện thường bị chậm tiến độ,

làm tăng chi phí, trong khi khơng đảm bảo được chất lượng cam kết. Trong

nhiều trường hợp, dù đã biết rõ năng lực của nhà thầu nước ngoài, nhưng do

những ràng buộc trong các hiệp định vay ODA, hay do khơng tìm được nhà

thầu trong nước đủ khả năng mà chủ Đầu tư vẫn phải chấp nhận những nhà

thầu nước ngồi đó. Tình trạng này khơng chỉ làm ảnh hưởng đến sự phát

triển của nền kinh tế nói chung mà còn khơng thể thúc đẩy sự phát triển của

các công ty trong nước nói riêng.

Một giải pháp hữu hiệu đó là gia tăng tỷ lệ tham gia của các NĐT nước

ngoài vào quản lý, điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty.

Hơn nữa, khi tỷ lệ sở hữu vượt qua mức đa số (51%), các NĐT nước ngồi sẽ

có thêm cơ hội tham gia trực tiếp vào việc quản trị công ty. Không chỉ giúp

tăng vốn mà sự tham gia trực tiếp của NĐT nước ngoài vào hoạt động quản trị

của cơng ty còn giúp năng lực quản trị và cạnh tranh nói chung của cơng ty

được cải thiện. Cơng ty còn có cơ hội tiếp cận với những tiến bộ khoa học kỹ

thuật và máy móc hiện đại trên thế giới.

Tóm lại, việc các cơng ty được NĐT nước ngoài quan tâm và nắm giữ cổ

phần sẽ khắc phục được những hạn chế về vốn, trình độ cơng nghệ. Đồng

thời, NĐT nước ngoài tham gia nhiều hơn vào quy trình quản lý cơng ty sẽ

giúp cải thiện đáng kể năng lực hoạt động và tăng cường giá trị thương hiệu

cho các công ty này. Thực tế, tỷ lệ sở hữu nước ngồi tại các cơng ty dưới

50% sẽ khiến cổ đơng là tổ chức nước ngồi khó có được quyền quyết định

trong công tác quản trị và điều hành công ty. Mặt khác, với những công ty



92



gần đạt tới mức giới hạn tỷ lệ sở hữu nước ngoài vốn là những công ty phát

triển tốt, được NĐT quan tâm thì NĐT sẽ khơng có nhiều cơ hội gia tăng nắm

giữ cổ phiếu của các công ty này.

Hiện nay, đa phần các công ty niêm yết ở Việt Nam có tỷ lệ sở hữu nước

ngồi ở mức thấp so với giới hạn cho phép. Tuy nhiên, về lâu dài, việc nới

lỏng quy định về tỷ lệ sở hữu nước ngồi trong các cơng ty niêm yết sẽ giúp

tăng thanh khoản cho cổ phiếu trên thị trường, cải thiện khả năng huy động

vốn cho công ty khi cần thiết, đồng thời giúp NĐT nước ngoài tham gia sâu

hơn vào các hoạt động của các cơng ty.

Mục đích chính của việc thu hút vốn đầu tư nước ngồi thơng qua việc

mua cổ phần của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khốn là nhằm

nâng cao năng lực tài chính, năng lực quản trị, trình độ khoa học và kỹ thuật

và đa dạng hóa nguồn vốn chủ sở hữu chứ khơng phải để NĐT nước ngồi

chiếm lĩnh thị trường nội địa. Do đó, cần tuỳ theo điều kiện và hồn cảnh thực

tế để quy định một tỷ lệ sở hữu cổ phần thích hợp của NĐT nước ngồi. Theo

dự thảo trình Thủ tướng chính phủ của Bộ Tài chính từ cuối năm 2013 thì tỷ

lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngồi có thể được tăng lên, cụ thể, NĐT nước

ngồi có thể nâng số cổ phiếu biểu quyết tối đa tại các công ty niêm yết ở một

số ngành lên 60% thay vì 49% như hiện nay. Ngồi ra, NĐT nước ngồi cũng

có thể mua tối đa 100% cổ phần khơng có quyền biểu quyết...

Tuy nhiên, việc nới lỏng mức quy định về tỷ lệ sở hữu nước ngồi có thể

khiến thị trường trong nước bị phụ thuộc vào NĐT nước ngồi. Để tránh tình

trạng này, nên quy định NĐT nước ngoài phải giảm tỷ lệ sở hữu của họ xuống

một mức nhất định sau một thời gian nắm giữ. Ví dụ như Malaysia quy định

với các doanh nghiệp trong ngành viễn thông, tổng mức sở hữu nước ngoài

được phép lên tới 61% song các NĐT nước ngoài phải giảm cổ phần của họ

xuống 49% sau 5 năm. Ngồi ra, nên đưa ra bộ tiêu chí đánh giá NĐT nước



93



ngoài nào đủ điều kiện để nắm giữ cổ phần chi phối tại các DN. Ví dụ như

Trung Quốc quy định chỉ những NĐT nước ngồi có chứng chỉ xác nhận đủ

điều kiện (QFII) mới được phép giao dịch cả cổ phiếu Loại A (cổ phiếu được

niêm yết bằng Nhân dân tệ) và Loại B (cổ phiếu được niêm yết bằng đồng

ngoại tệ) còn NĐT nước ngồi nói chung chỉ được giao dịch những cổ phiếu

Loại B.

Những giải pháp từ phía Nhà nước sẽ có tác dụng hỗ trợ tích cực tới hiệu

quả hoạt động của cơng ty cũng như để thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào thị

trường chứng khốn nói chung và cho các cơng ty niêm yết. Tuy nhiên, cho

dù Nhà nước thực thi nhiều chính sách ưu đãi để thu hút NĐT nước ngồi cho

các DN đến đâu mà bản thân các công ty không tự tăng cường năng lực sản

xuất kinh doanh để trở thành ‘hàng hóa’ hấp dẫn NĐT thì cũng khơng thể

khiến NĐT nước ngoài gia tăng mua cổ phần tại các công ty này.

4.2.4. Thực hiện các biện pháp nhằm hỗ trợ sự phát triển của thị

trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua nhiều bước thăng trầm, từ

đỉnh cao rồi rơi xuống vực thẳm, mặc dù nhiều chuyên gia có nhận xét lạc

quan rằng năm 2014 thị trường chứng khốn sẽ khởi sắc, tuy nhiên tính đến

thời điểm hiện tại thị trường chứng khốn vẫn còn bất cập. Để phát triển bền

vững TTCK, việc hoàn thiện khung pháp lý là điều kiện tiên quyết. TTCK chỉ

có thể phát triển nếu quốc gia đó ban hành được một hệ thống văn bản pháp lý

đầy đủ, đồng bộ, có tính tiên liệu và hiệu lực pháp lí cao, ...ổn định trong thời

gian dài. Một hệ thống pháp lý chắp vá, khơng đồng bộ, tính pháp lý thấp và

thay đổi thường xuyên sẽ làm cho TTCK hoạt động không ổn định, hiệu quả

thấp kém và chậm phát triển. Theo Tổ chức Quốc tế của các Uỷ ban Chứng

khoán (IOSCO) thì mục tiêu điều chỉnh pháp luật đối với thị trường chứng

khoán là: “bảo vệ nhà đầu tư; bảo đảm thị trường công bằng, hiệu quả và



94



minh bạch; giảm thiểu rủi ro hệ thống”. Vì vậy, một hệ thống pháp luật ổn

định đáp ứng những chỉ tiêu như Pháp luật chứng khốn phải đồng bộ với

tồn bộ hệ thống pháp luật của Việt Nam, tương thích với chuẩn mực quốc tế

và tiếp thu những nhân tố hợp lý của pháp luật nước ngồi, ngăn ngừa và

kiểm sốt được rủi ro hệ thống .... mới có thể bảo đảm cho sự phát triển bền

vững của thị trường chứng khốn.

Bên cạnh đó thị trường chứng khoán trong nước phát triển sẽ tạo ra sức

hút với các NĐT quốc tế, khiến họ quan tâm hơn đến các cơng ty trong nước.

Vì vậy, để tăng tỷ lệ sở hữu nước ngồi trong các cơng ty Việt Nam, trước hết

cần mở rộng quy mô, nâng cao năng lực hoạt động cũng như tăng cường tính

hiệu quả và cạnh tranh của thị trường chứng khoán.

Các cơ quan quản lý cần tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định

pháp luật, chính sách về hoạt động Đầu tư của các NĐT nước ngoài tham gia

trên thị trường chứng khốn. Bên cạnh đó, ủy ban chứng khoán Nhà nước, các

Sở giao dịch chứng khoán cần tăng cường tính minh bạch của thị trường,

giám sát chặt chẽ việc công bố thông tin của công ty để đảm bảo NĐT nhận

được thơng tin khách quan, chính xác.

Ngồi ra, các cơ quan quản lý cần nghiên cứu và sớm đưa vào giao dịch

các loại hàng hóa khác như các loại chứng khoán phái sinh, chứng khoán lai

ghép, chứng chỉ các quỹ đầu tư... nhằm tăng tính đa dạng và tính thanh khoản

cho thị trường. Đồng thời, cần sớm hình thành các khuôn khổ pháp lý để công

ty Việt Nam có thể chủ động thực hiện niêm yết cổ phiếu ở nước ngoài nhằm

thu hút vốn trên thị trường quốc tế.

Cuối cùng, cần tiếp tục duy trì các hoạt động hợp tác và hội nhập trong

khu vực và quốc tế, học hỏi kinh nghiệm quản lý, điều hành thị trường chứng

khốn của các nước khác để góp phần thúc đẩy thị trường chứng khoán Việt

Nam phát triển.



95



4.2.5. Cho phép phát hành các loại cổ phiếu dành riêng cho NĐT

nước ngoài

Để tăng tỷ lệ sở hữu nước ngồi trong các cơng ty niêm yết khơng chỉ có

một biện pháp là nới lỏng mức giới hạn mà cho phép công ty phát hành thêm

một tỷ lệ nhất định cổ phiếu khơng có quyền biểu quyết cho NĐT nước ngoài.

Biện pháp này sẽ giúp tăng cường nguồn vốn cho các công ty mà vẫn tránh

tình trạng NĐT nước ngồi chi phối tồn bộ hoạt động của cơng ty.

Một ví dụ điển hình là “Chứng chỉ lưu ký khơng có quyền biểu quyết

(None voting depository receipt - NVDR)” đang được áp dụng rất thành công

tại Thái Lan và đã được Sở Giao dịch chứng khốn thành phố Hồ Chí Minh

đề xuất thực hiện lên ủy ban Chứng khoán. Sở hữu NVDR, NĐT được nhận

những lợi ích như Đầu tư vào cổ phiếu thường. Điểm khác biệt duy nhất là

người sở hữu NVDR khơng có quyền biểu quyết hay tham gia vào các quyết

định của công ty. Công ty Thai NVDR mới là người sở hữu hợp pháp số cổ

phiếu của công ty niêm yết và nắm giữ quyền biểu quyết tương ứng với số cổ

phiếu. Tuy nhiên, trên thực tế công ty Thai NVDR sẽ không tham gia vào việc

biểu quyết trong Đại hội đồng cổ đông của công ty niêm yết trừ trường hợp

Đại hội cổ đông được triệu tập để hủy niêm yết trên sàn chứng khốn.

Bên cạnh đó, khi tỷ lệ sở hữu nước ngoài với một cổ phiếu bất kỳ đã

chạm giới hạn thì NĐT nước ngồi tại Thái Lan có hai lựa chọn để mua thêm

cổ phiếu đó: (i) mua “cổ phiếu nước ngoài” (foreign shares) (thường là với giá

cao hơn bình thường) trên Bảng dành cho khối ngoại của Sở giao dịch chứng

khoán Thái Lan hoặc (ii) mua “cổ phiếu địa phương” (local shares) trên các

Bảng khác nhưng không được quyền đăng ký sở hữu bằng tài khoản của

mình. Cổ phiếu giao dịch trên Bảng dành cho khối ngoại sẽ được đăng ký

dưới tên của NĐT nước ngoài. Do đó, NĐT nước ngồi nắm giữ cổ phiếu sẽ

được nhận cổ tức, có quyền ưu tiên mua cổ phiếu phát hành thêm và có quyền



96



biểu quyết. Ngược lại, các “cổ phiếu địa phương” sẽ được đăng ký dưới tên

người được ủy quyền (thường là chuyên viên môi giới). Trong trường hợp

này, lợi ích nhận được từ cơng ty sẽ được thực hiện qua tài khoản của người

được ủy quyền chứ khơng phải trực tiếp với NĐT nước ngồi.

Việc tỷ lệ cổ phiếu của một công ty do các cá nhân, tổ chức ngoài nước

nắm giữ bị giới hạn ở một tỷ lệ nhất định đã tạo rào cản cho các NĐT nước

ngoài trong việc đẩy mạnh đầu tư vào các cơng ty trong nước. Vì thế việc

phát hành các loại chứng khoán đặc biệt dành riêng cho NĐT nước ngoài như

một phương tiện đầu tư thay thế sẽ giúp NĐT nước ngồi nhận được các lợi

ích tài chính tương tự như nhà Đầu tư trong nước mà không phải quan tâm

đến những quy định về tỷ lệ sở hữu nước ngồi.

4.2.6. Áp dụng những chính sách ưu đãi đặc biệt để khuyến khích

NĐT nước ngồi Đầu tư vào các DNNY

Hiện nay, theo hướng dẫn tại Thông tư số 111/2013/TT-BTC về việc

"Thu nhập về Đầu tư vốn và thu nhập từ chuyển nhượng vốn”, NĐT nước

ngồi nói chung phải chịu thuế suất thuế thu nhập cá nhân là 5% cho khoản cổ

tức nhận được cũng như chịu thuế suất 0,1% cho mỗi lần giao dịch chuyển

nhượng chứng khoán. Để tăng cường thu hút, tập trung dòng vốn của NĐT

nước ngồi vào các cơng ty trên thị trường chứng khốn, Nhà nước cần có

một số ưu đãi đặc biệt cho các NĐT này.

Ví dụ cụ thể như tại Trung Quốc, NĐT nước ngồi Đầu tư vào nhóm cổ

phiếu loại B (cổ phiếu được niêm yết bằng đồng ngoại tệ) được miễn toàn bộ

các thuế đánh trên thu nhập từ cổ tức và thu nhập từ lãi vốn trong các giao

dịch. Một ví dụ khác là các NĐT nước ngồi tham gia thị trường chứng khốn

Hồng Kơng hồn tồn khơng phải chịu thuế trên thu nhập từ cổ tức hay thu

nhập từ lãi vốn và cũng không bị giới hạn tỷ lệ sở hữu của nước ngồi trong

các cơng ty. Tại Indonesia, khơng có giới hạn về tỷ lệ sở hữu tối đa của NĐT



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.26 – Tác động phi tuyến tính FO và ROA

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×