Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty

b. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty

Tải bản đầy đủ - 0trang

26



ROA là tỷ số cung cấp cho nhà đầu tư thông tin về các khoản lợi nhuận

sau thuế được tạo ra từ lượng vốn đầu tư, tức là cứ 1 đồng đầu tư vào tổng tài

sản thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Tài sản của một cơng ty

được hình thành từ nợ và vốn chủ sở hữu. Cả hai nguồn này được sử dụng để

tài trợ cho các hoạt động của công ty. ROA càng cao càng tốt vì cho thấy

cơng ty đang kiếm được nhiều lợi nhuận từ tổng tài sản.

Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)

Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) hay còn gọi là doanh lợi vốn

chủ sở hữu là tỷ số đo lường mức lợi nhuận trên vốn đầu tư của các CSH.

Lợi nhuận sau thuế

Vốn chủ sở hữu bq

Chỉ số này là thước đo chính xác để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích

ROE



=



lũy tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Hệ số này thường được các nhà

đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường, từ đó

tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của công ty nào. Hầu hết các cổ đông

hoặc các nhà đầu tư rất quan tâm đến tỷ số này bởi nó gắn với lợi nhuận mà họ

có thể nhận được. Nếu tỷ số ROE cao thì sẽ cho thấy hiệu quả sinh lời của công

ty là tốt bởi vốn chủ sở hữu bỏ ra đã tạo ra được mức lợi nhuận sau thuế tốt.

Hệ số Q-Tobin

Giá trị thị trường

Giá trị sổ sách

Đối với các công ty niêm yết, hệ số Q-Tobin rất thông dụng như là công

Q-Tobin



=



cụ đánh giá tốt về hiệu quả tài chính cơng ty; trong đó hệ số Q- Tobin được

tính là giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu cộng với giá trị sổ sách các khoản

nợ phải trả so với giá trị sổ sách của tổng tài sản.

Trong các tỷ số trên, các tỷ số ROA và ROE là những chỉ báo hiệu quả

cho kết quả sản xuất kinh doanh và phản ánh khả năng lợi nhuận mà công ty

đã đạt được trong các kỳ kế toán đã qua. Hai chỉ tiêu này là cách nhìn về quá



27



khứ hoặc đánh giá khả năng lợi nhuận ngắn hạn của công ty (Hu & Izumida

2008). Trong khi đó, hệ số Q-Tobin có thể cho biết hiệu quả tương lai của

công ty bởi chúng phản ánh được đánh giá của thị trường cả về tiềm năng lợi

nhuận của công ty trong tương lai (phản ánh vào giá thị trường của cổ phiếu).

Điều này hoàn toàn phù hợp với ý nghĩa của các phương pháp định giá cổ

phiếu sử dụng dòng tiền tương lai chiết khấu về hiện tại theo một mức rủi ro

xác định. Đó cũng là lý do tại sao Tian & Estrin (2008) cho rằng định giá trên

thị trường luôn dựa trên những dòng tiền tương lai và rủi ro kỳ vọng đi kèm.

Tóm lại, hiệu quả hoạt động của các cơng ty có thể được đánh giá thơng

qua các tỷ số trên kết hợp lại. Mặc dù có thể có các cách tính khác nhau, chủ

yếu do cách xác định lợi nhuận trong tính tốn hệ số, sự kết hợp của hai tỷ số

này có thể đưa ra cho nhà quản lý, lãnh đạo công ty, cổ đông và thị trường

những đánh giá bao quát về hiệu quả hoạt động trong quá khứ cũng như tiềm

năng lợi nhuận và tăng trưởng tương lai của công ty.

1.2. CÁC LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC SỞ HỮU

1.2.1. Lý thuyết đại diện (Agency Theory)

Trong công ty cổ phần có sự phân tách giữa quyền sở hữu và quản lý

công ty, điều này là cần thiết vì nhiều lý do. Thứ nhất các cơng ty lớn thường

có rất nhiều cổ đơng và do đó khơng thể nào thoả mãn việc tất cả cổ đông

cùng tham gia quản lý. Mặc khác việc điều hành đòi hỏi những kỹ năng phẩm

chất mà không phải nhà đầu tư nào cũng có đuợc. Cho nên cần thiết để những

người có vốn nhưng khơng có năng lực quản lý th những chuyên gia đủ

năng lực điều hành công ty. Những chuyên gia này sẽ thay mặt cho những cổ

đông điều hành và quản lý cơng ty. Từ đó nảy sinh ra quan hệ giữa nguời chủ

sở hữu và người quản lý. Khi người chủ thuê những người quản lý, người chủ

sẽ mong muốn người quản lý đem đến lợi nhuận tối đa cho họ, gia tăng giá trị

công ty, gia tăng cổ tức... Người điều hành được thuê sẽ được ra quyết định



28



và thực hiện các hoạt động đem lại lợi ích cho cổ đông. Tuy nhiên người điều

hành cũng sẽ có những lợi ích cá nhân riêng biệt và có những thơng tin gần

với tình hình hoạt động của cơng ty nhất để từ đó họ có thể đưa ra những

quyết định đem lại lợi nhuận cho bản thân họ hoặc cho những người có liên

quan với họ hơn là cho tất cả chủ sở hữu công ty.

Lý thuyết đại diện được đưa ra bởi Jensen và Meckling (1976) [25]. Lý

thuyết về đại diện cho rằng chi phí đại diện sẽ tăng lên khi có sự phân tách

giữa người chủ sở hữu và người quản lý công ty. Người chủ sở hữu sẽ mong

muốn tối đa hóa lợi ích của mình thơng qua việc tăng giá trị cơng ty, còn lợi

ích của nhà quản lý thường gắn với mức thu nhập có được. Nếu cả hai bên

trong mối quan hệ này (Cổ đông và người quản lý công ty) đều muốn tối đa

hố lợi ích của mình, thì có cơ sở để tin rằng người quản lý công ty sẽ khơng

ln ln hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ, tức các cổ đông và

công ty. Với vị trí của mình, người quản lý cơng ty được cho là ln có xu

hướng tư lợi và khơng đủ siêng năng, cần mẫn, và có thể tìm kiếm các lợi ích

cá nhân cho mình hay người thứ ba của mình chứ không phải cho công ty.

Theo Jensen và Meckling (1976) chính mâu thuẫn này dẫn đến phát sinh

chi phí đại diện. Theo đó chi phí đại diện là những chi phí bao gồm chi phí

giám sát, chi phí ràng buộc tăng thêm và mất mát phụ trội. Chi phí giám sát

nhằm hạn chế những sai lệch do việc điều hành của người quản lý, chi phí

ràng buộc tăng thêm là những khoản tăng thêm để đảm bảo người quản lý

không thực hiện một số hành động nhất định có tổn hại lợi ích của chủ sở

hữu. Tuy nhiên chúng ta khơng thể khống chế hồn tồn những bất đồng lợi

ích này, và nó sẽ dẫn đến một số mất mát tài sản – mất mát phụ trội do vấn đề

này gây ra.

Chi phí đại diện phát sinh từ sự phân chia tách bạch giữa người chủ sở

hữu công ty và người quản lý. Khi giảm thiểu sự phân tách này thì chi phí đại



29



diện cũng sẽ giảm đi. Nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của người chủ công ty

trên giác độ là các tổ chức kinh doanh. Các nhà đầu tư tổ chức khi sở hữu vốn

trong cơng ty còn tích cực tham gia vào hoạt động giám sát, quản lý nhằm

giảm thiểu những thất thốt khơng đáng có do vấn đề tách bạch, thiếu thông

tin giữa người chủ và người quản lý. Và từ đó giảm thiểu vấn đề do chi phí

đại diện tăng lên. Trong đề tài này, lý thuyết liên quan đến nhóm cổ đơng là tổ

chức mà có tham gia trong hoạt động giám sát, quản lý đìều hành. Vì khi đó

họ vừa là nhà đầu tư vừa là người tham gia quản lý điều hành cơng ty cho nên

có thể giảm thiểu được chi phí đại diện gây ra.

1.2.2. Lý thuyết đánh đổi (Trade-off theory)

Lý thuyết đánh đổi (Trade-off theory) được đưa ra bởi Donald và Jerry

(1994). Trong đó tác giả giải thích tại sao doanh nghiệp tài trợ kinh doanh một

phần bằng nợ vay và một phần từ vốn chủ sở hữu. Lý thuyết về đánh đổi đề

cập đến ý tưởng một doanh nghiệp nên sử dụng bao nhiêu phần nợ và bao

nhiêu vốn chủ sở hữu trong kinh doanh để từ đó đạt được những lợi ích về chi

phí và tài chính. Mặt khác lý thuyết được dùng để giải thích thực tế hiện nay

rằng các doanh nghiệp có xu hướng sử dụng nợ trong kinh doanh nhiều hơn

bên cạnh nguồn vốn chủ sở hữu. Trong trường hợp đó doanh nghiệp sẽ có

được những thuận lợi trong việc sử dụng nợ, đó là lá chắn thuế và mở rộng

được quy mô. Tuy nhiên không phải tài trợ tất cả bằng nợ vay là tốt, việc tài

trợ bằng nợ cũng phát sinh nhiều chi phí, điển hình là chi phí khó khăn tài

chính bao gồm chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp. Theo thuyết đánh đổi,

không phải vay mượn nợ là tốt hoàn toàn mà chỉ đúng với một mức nợ hợp

lý. Theo đó khi lợi ích cận biên của việc vay, sử dụng nợ nhiều hơn sẽ giảm đi

khi nợ tăng lên trong khi chi phí cận biên cũng tăng lên. Do đó một doanh

nghiệp có thể tối đa hố giá trị nếu chú ý đến vấn đề đánh đổi trong việc chọn

lựa mức nợ hợp lý để đưa vào phục vụ kinh doanh. Lợi ích từ lá chắn thuế sẽ



30



được bù trừ do phát sinh chi phí tài chính và do đó là cơ sở để lý thuyết có tên

là “Lý thuyết đánh đổi”. Đánh đổi ở đây là đánh đổi giữa lợi ích và chi phí do

việc gây nợ gây ra.

Lý thuyết này liên quan đến tỷ lệ nợ trên tổng tài sản trong đề tài. Yếu tố

đòn bẩy cũng đóng vai trò tác động quan trọng đến hiệu quả hoạt động.

Doanh nghiệp phải chọn được tỷ lệ nợ vay tối ưu là bao nhiêu để đem đến

hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp. Khi tổ chức ngày càng đóng vai trò

quan trọng trong doanh nghiệp thì những quyết định của tổ chức cũng có tác

động đến tỷ số nợ của doanh nghiệp và từ đó ảnh hưởng hiệu quả của doanh

nghiệp.

1.3. TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT

ĐỘNG CỦA CÔNG TY

1.3.1. Cấu trúc sở hữu

a. Khái niệm

Cấu trúc sở hữu được hiểu là sự phân bổ vốn chủ sở hữu theo quyền mối

tương quan tỷ lệ vốn chủ sở hữu được nắm giữ bởi các chủ sở hữu có ảnh

hưởng rất quan trọng trọng việc điều hành cơng ty do nó tác động đến việc ra

quyết định của các nhà quản lý.

Cấu trúc sở hữu có thể được phân loại dựa trên nhiều khía cạnh khác

nhau như sau:

Cấu trúc sở hữu tập trung: tập trung được hiểu là việc một cá nhân hoặc

một nhóm cá nhân liên quan hoặc tổ chức sở hữu phần lớn vốn chủ sở hữu

của một cơng ty và có quyền chi phối các quyết định của công ty. Bởi vậy,

cấu trúc tập trung thường được xem là hệ thống nội bộ. Những cổ đơng lớn

kiểm sốt cơng ty trực tiếp bằng cách tham gia hội đồng quản trị và ban điều

hành, cổ đơng lớn có thể khơng sở hữu vốn tồn bộ nhưng có quyền biểu

quyết đáng kể, nên vẫn có thể được kiểm sốt cơng ty.



31



Cấu trúc sở hữu phân tán: phân tán là việc khơng có cá nhân hoặc nhóm

các cá nhân, tổ chức nào sở hữu đa số vốn của cơng ty và có quyền chi phối

cơng ty. Đối với hình thức cấu trúc này, một cơng ty có nhiều cổ đơng. Mỗi

cổ đơng sở hữu một số cổ phần cơng ty, quyền kiểm sốt hoạt động công ty

do ban giám đốc nắm giữ. Các cổ đơng nhỏ ít có động lực để kiểm tra chặt

chẽ hoạt động và không muốn tham gia điều hành công ty. Bởi vậy họ được

gọi là người bên ngoài và cấu trúc phân tán được gọi là hệ thống bên ngoài.

Theo Nhịp cầu đầu tư, cấu trúc sở hữu của 100 cơng ty có giá trị vốn hóa

lớn nhất trên 2 sàn chứng khoán Hà Nội và TP.HCM năm 2010 cho thấy, tỉ lệ

nắm giữ cổ phần bình quân của 10 cổ đông lớn nhất trong các công ty là 70%

và của 5 cổ đông lớn nhất là 61%. Điều này cho thấy cấu trúc sở hữu của các

công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam là rất tập trung.

Mỗi hệ thống cấu trúc sở hữu có những điểm thuận lợi và bất lợi cũng

như tiềm ẩn những thách thức về quản trị công ty. Đối với cấu trúc sở hữu tập

trung, công ty do những người bên trong kiểm sốt có những điểm thuận lợi

đáng chú ý. Những người này có quyền lực và động lực để kiểm sốt cơng ty

chặt chẽ. Nhờ đó, giảm thiểu được tình trạng sai phạm hay gian dối trong

quản trị và điều hành. Hơn nữa, do nắm quyền sở hữu và quyền kiểm sốt lớn,

những người này có khuynh hướng giữ vốn đầu tư trong công ty trong thời

gian dài. Vì thế họ sẽ ủng hộ những quyết định giúp tăng cường hiệu quả hoạt

động dài hạn hơn là những quyết định mang lại lợi ích ngắn hạn. Tuy nhiên,

hệ thống này cũng dẫn công ty đến những thất bại trong quản trị. Chẳng hạn,

khi những người điều hành là các cổ đơng lớn hay có quyền biểu quyết lớn,

họ có thể dùng quyền của mình để tác động đến quyết định của hội đồng quản

trị sao cho có lợi cho mình nhưng lại khơng có lợi cho cơng ty. Một trường

hợp phổ biến là các nhà quản lý thuyết phục hội đồng quản trị trả lương và

phúc lợi rất cao cho cấp quản lý hoặc phê duyệt việc mua bán yếu tố đầu vào



32



giá cao từ các công ty mà họ có sở hữu hoặc có mối quan hệ. Nghiêm trọng

hơn, họ có thể sử dụng những thơng tin bí mật để trục lợi như giao dịch nội

gián.

Ngồi phân loại như trên, cấu trúc sở hữu có thể được phân loại dựa vào

đối tượng sở hữu như sở hữu tư nhân, sở hữu nhà nước, sở hữu ngân hàng...

b. Các hình thức sở hữu

Các hình thức sở hữu doanh nghiệp bao gồm:

- Hình thức tồn diện 100% vốn chủ sở hữu, khơng có sự phân định;

- Hình thức sở hữu tồn diện có phân định;

- Hình thức sở hữu liên kết có hình thành pháp nhân;

- Hình thức sở hữu liên kết khơng hình thành pháp nhân;

- Hình thức sở hữu khơng liên kết.

Đối với hình thái tồn diện 100% vốn chủ sở hữu, khơng có sự phân

định, các đơn vị được hình thành theo hình thái sở hữu này phụ thuộc hồn

tồn vào cơng ty mẹ, tn thủ hồn tồn các quyết định của cơng ty mẹ mà

khơng được phản kháng.

Cấp độ quản lý giảm dần đối với hình thái sở hữu tồn diện có phân

định, về ngun tắc, trong hình thái sở hữu này, cơng ty con cũng vẫn phải

tuân thủ hoàn toàn các quyết định của công ty mẹ, tuy nhiên cách thức quản

lý đối với công ty con là thông qua người đại diện vốn chủ sở hữu của cơng ty

mẹ.

Đối với hình thái sở hữu liên kết có hình thành pháp nhân, mức độ quản

lý và tầm ảnh hưởng của công ty mẹ đối với cơng ty con còn phụ thuộc vào

lượng vốn (cổ phần) chi phối của công ty mẹ tại công ty con.

Nếu như trong các hình thái sở hữu nêu trên vẫn tồn tại một pháp nhân

có cơ cấu tổ chức ổn định mà công ty mẹ nắm giữ vốn hoặc cổ phần chi phối

thì trong hình thái sở hữu liên kết khơng hình thành pháp nhân chỉ đơn thuần



33



là một dự án trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa các bên. Do đặc

tính ổn định khơng cao và khoảng thời gian tồn tại nhất định của hình thái sở

hữu này, do đó mức độ quản lý của cơng ty mẹ đối với hình thái này chỉ dựa

trên thỏa thuận của các bên về tỷ lệ hợp tác kinh doanh và phân chia lợi nhuận

cũng như trách nhiệm quản lý phụ trách của dự án.

Với hình thái sở hữu khơng liên kết trong q trình phân chia lợi nhuận

theo phần thì việc quản trị lại càng khác hơn so với các hình thái sở hữu nêu

trên. Từ đặc trưng này, lựa chọn phuơng pháp quản lý nguồn vốn sở hữu phù

hợp để khơng những tránh thất thốt mà còn tạo lợi nhuận cho cơng ty.

1.3.2.



Cấu trúc sở hữu tối ưu



Cấu trúc sở hữu tối ưu là cấu trúc có tác động tốt nhất tới hiệu quả của

cơng ty, tức là cấu trúc sở hữu mà tại đó hiệu quả của công ty đạt mức cao

nhất. Tuy nhiên việc đánh giá cấu trúc sở hữu nào là tối ưu khơng hề dễ dàng,

bởi lẽ đó đặc trưng về cấu trúc sở hữu của mỗi quốc gia chịu tác động rất

nhiều yếu tố như đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hóa... của quốc gia đó. Cấu

trúc sở hữu là do chủ sở hữu công ty quyết định theo nguyên tắc đảm bảo

quyền lợi cho chủ sở hữu công ty hay nói cách khác chủ sở hữu sẽ quyết định

tối ưu cho hiệu quả công ty. McConnell và Servaes (1990) đã chỉ ra mối quan

hệ chữ U ngược và có ý nghĩa thống kê giữa chỉ tiêu Tobin's Q và tỷ lệ sở hữu

nội bộ. Cụ thể, tỷ lệ sở hữu nội bộ ban đầu tăng sẽ làm tăng hiệu quả hoạt

động công ty cho tới khi tỷ lệ sở hữu nội bộ đạt mức 40% đến 50%, sau đó

nếu tỷ lệ sở hữu nội bộ tăng sẽ làm cho hiệu quả hoạt động của công ty giảm

xuống. McConnell và Servaes (1995) đã mở rộng nghiên cứu năm 1990 của

mình bằng cách áp dụng dữ liệu cho năm 1988 và một lần nữa cung cấp bằng

chứng về mối quan hệ chữ U ngược giữa tỷ lệ sở hữu nội bộ và chỉ tiêu

Tobin's Q.



34



Morck (1988) chỉ ra rằng khi tỷ lệ sở hữu các thành viên trong hội đồng

quản trị tăng lên, chỉ tiêu Tobin's Q ban đầu tăng khi tỷ lệ sở hữu trong

khoảng 0% - 5%, sau đó giảm xuống khi tỷ lệ sở hữu tăng lên và ở mức dưới

25%. Khi tỷ lệ sở hữu của các thành viên hội đồng quản trị lớn hơn 25%, chỉ

tiêu Tobin's Q tiếp tục tăng với tốc độ tăng chậm hơn.

Kwangwoo Park (2002) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa tỷ lệ sở hữu

nước ngoài và giá trị doanh nghiệp tại Nhật Bản. Bài nghiên cứu đã đưa ra

bằng chứng về mối quan hệ đuờng cong giữa tỷ lệ sở hữu nước ngồi với hiệu

quả hoạt động của cơng ty, được đo lường bằng chỉ tiêu Tobin's Q. Cụ thể, chỉ

tiêu Q - Tobin đã tăng cho tới khi tỷ lệ sở hữu nước ngoài đạt đến khoảng

40% - 45% và sau đó giảm. Hơn nữa, tại Nhật Bản, tỷ lệ tăng lên của sở hữu

nước ngoài tại mức độ cao (từ 10% đến 40%) thường đi kèm với sự tăng lên

về mức độ đầu tư cho nghiên cứu. Điều này gợi ý rằng các nhà đầu tư tổ chức

nước ngồi tại Nhật Bản có lo lắng đến khả năng sinh tồn và phát triển doanh

nghiệp trong dài hạn, trái nguợc hoàn toàn với quan niệm rằng các nhà đầu tư

nước ngoài chỉ là những nhà đầu tư ngắn hạn.

1.3.3. Tác động của cấu trúc sở hữu tới hiệu quả hoạt động của



cơng ty

a. Tác động tích cực

Tổng hợp các nghiên cứu ở các nước trên thế giới về tác động cấu trúc

sở hữu tới hiệu quả hoạt động của cơng ty cho thấy nhóm sở hữu nước ngồi

có ưu thế nhất trong các sở hữu của công ty đối với sự gia tăng giá trị của

công ty. Đặc biệt ở các nước chuyển đổi hay thị trường mới nổi, nhóm sở hữu

nước ngồi có ưu thế hơn cả. Giải thích cho vấn đề này, Stijn Claessens và

Simeon Djankov (1999) ở Czech, Oskar Kowalewski và các đồng nghiệp

(2013) ở Ba lan,... đều cho rằng các nhà đầu tư nước ngồi có kinh nghiệm

trên thị trường tài chính cũng như điều hành công ty. Ở các nước mới nổi hay



35



ở các nước đang phát triển, kinh nghiệm quản lý và điều hành cơng ty còn

đang hạn chế, do vậy với kinh nghiệm của các nhà đầu tư nước ngoài, hiệu

quả hoạt động của các công ty sẽ được tăng lên nhiều. Đầu tư nước ngoài đã

tác động trực tiếp đến việc cân đối ngân sách, cải thiện cán cân vãng lai, cán

cân thanh tốn thơng qua chuyển vốn vào các nước mới nổi và đang phát

triển, mở rộng nguồn thu ngoại tệ gián tiếp. Đồng thời, khu vực kinh tế có

vốn đầu tư nước ngồi đã đóng góp đáng kể vào sự gia tăng giá trị nền kinh

tế. Tuy nhiên, rất nhiều nghiên cứu như La Porta (1996,1997), Jeremy Grant

và Thomas Kirchmaier (2004),... đều thống nhất rằng cần phải có một hệ

thống pháp luật chặt chẽ hay thể chế tốt để đảm bảo quyền lợi của các cổ

đông trong công ty, qua đó mới làm gia tăng hiệu quả hoạt động của cơng ty.

Đối với sở hữu gia đình trong cơng ty, khi người chủ đồng thời làm CEO

thì hiệu quả hoạt động của các công ty này tăng cao. Lý do là người chủ đã có

kinh nghiệm trong việc tạo dựng thành công công ty, do vậy khi họ kiêm ln

quản lý thì hiệu quả cơng ty sẽ cao hơn.

Tác động tích cực nhất của nhóm sở hữu tổ chức tới hiệu quả hoạt động

của công ty là do cơ chế giám sát tích cực, các cổ đơng theo hình thức tổ chức

có kinh nghiệm trong thị trường tài chính và quản trị cơng ty. Do vậy, các

cơng ty có nhóm sở hữu tổ chức chiếm phần lớn thường có hiệu quả hoạt

động của cơng ty cao.

Trong khi đó, Stijn Claessens và Simeon Djankov (1999), Chen (2012)

đã cho rằng đối với các cơng ty có sở hữu chi phối (tập trung) sẽ làm gia tăng

hiệu quả hoạt động của công ty. Đối với sở hữu Nhà nước, rất nhiều nghiên

cứu cho rằng sở hữu Nhà nước chi phối tác động tiêu cực tới hiệu quả hoạt

động của công ty. Tuy nhiên, các nghiên cứu của Sun, Tong và Tong ( 2002),

Tian và Estrin(2005), Rui(2006),... đã chứng minh rằng sở hữu Nhà nước tại

một số nước đang phát triển ảnh hưởng tích cực tới hiệu quả hoạt động của



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×